TRUYỀN HÌNH TRỰC TUYẾN

http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/23_07_2014-BT-TRUA.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 23/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/23_07_2014 BT TRUA.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/23_07_2014-BT-SANG.jpg
Bản tin sáng ngày 23/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/23_07_2014 BT SANG.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/23_07_2014-BT-QUOC-TE-SANG.jpg
Bản tin quốc tế sáng ngày 23/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/23_07_2014 BT QUOC TE SANG.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/22_07_2014-CM-VMXCS.jpg
CM vì mầu xanh cuộc sống ngày 22/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/22_07_2014 CM VMXCS.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/22_07_2014-CM-TLBXTH.jpg
CM trả lời bạn xem truyền hình ngày 22/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/22_07_2014 CM TLBXTH.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/22_07_2014-CM-HT-va-LT-TGDD.jpg
CM học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM ngày 22/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/22_07_2014 CM HT va LT TGDD HCM.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/22_07_2014-TSTH.jpg
Chương trình thời sự tổng hợp ngày 22/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/22_07_2014 TSTH.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/BT-TRUA-22_07.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 22/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/BT TRUA 22_07.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/BT-SANG-22_07.jpg
Bản tin sáng ngày 22/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/BT SANG 22_07.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/BT-QUOC-TE-SANG-22_07.jpg
Bản tin quốc tế sáng ngày 22/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/BT QUOC TE SANG 22_07.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/07/CM04_21_07-LAI-ong-kinh-pho.jpg
CM ống kính phóng viên ngày 21/07/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/07/CM04_21_07 LAI ong kinh phong vien.flv

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, công tác phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng nên toàn bộ các lực lượng chức năng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức để đấu tranh phòng, chống tội phạm hiệu quả, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Với sự chuyên nghiệp, nền nếp trong tổ chức hoạt động, những năm qua, Trung tâm Quản lý cửa khẩu Tân Thanh – Cốc Nam đã thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại tại các khu vực cửa khẩu và sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Lạng Sơn.
So với chốt phiên trước, giá vàng trong nước đang không thay đổi. Giá vàng thế giới giảm về 1.306 USD/oz.
Bao giờ cũng vậy, thời gian nghỉ hè bao giờ cũng trùng với mùa mưa bão. Do chủ động trong công tác phòng chống thiên tai và bảo vệ trường lớp trong dịp hè, nên đã hạn chế đáng kể thiệt hại do bão số 2 gây ra.
Thành phần trong dầu tỏi tía chủ yếu là các hợp chất sun phít có chứa lưu huỳnh. Các chất này kích thích mạnh việc sử dụng năng lượng của toàn bộ cơ thể, tăng đốt cháy năng lượng dư thừa nên làm tiêu nhanh mỡ toàn thân, nhất là vùng bụng.
Ngày 22/7/2014, cán bộ Chi cục Thú y, nòng cốt là đoàn viên thanh niên đã ra quân phun thuốc tiêu độc khử trùng chuồng trại, vệ sinh môi trường sau lũ tại xã Tân Liên, huyện Cao Lộc.
Nhận lệnh của Luân "Con" - đàn em bà trùm Dung Hà - Việt dẫn nhóm sát thủ mai phục ở trung tâm Sài Gòn đâm chết nam phó tổng giám đốc.
22-7, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI). Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.
Nhằm tiếp tục giới thiệu và quảng bá các sản phẩm du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Ninh Bình đã phối hợp với Hiệp hội lữ hành Việt Nam, Hiệp hội lữ hành Hải Phòng tổ chức đoàn Famtrip nghiên cứu, khảo sát sản phẩm du lịch mới năm 2014.
SH Mode, Liberty hay Yamaha Grande là những lựa chọn cho khách hàng chuẩn bị bước lên phân khúc xe ga cao cấp.
Ngoài màn hình, chiếc smartphone Android Sharp SH-04F mới được "xách tay" về Việt Nam còn sở hữu cấu hình mạnh, camera hỗ trợ quay video 4K cùng nhiều tính năng thú vị.

CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 22/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/CT KINH TOI 22-7-2014.mp3
Chương trình phát thanh tiếng tày, nùng ngày 22/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/CT TAY 22-7-2014.mp3
Chương trình phát thanh tiếng dao ngày 22/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/CT DAO 22-7-2014.mp3
Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 21/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/kinh toi 21-7.mp3
Chương trình phát thanh tiếng tày, nùng ngày 21/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/ct tay 21-7.mp3
Chương trình phát thanh tiếng dao ngày 21/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/ct dao 21-7.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng kinh tối ngày 20/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/CA NHAC KINH 20-7.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng tày, nùng ngày 20/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/CA NHAC TAY 20-7.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng dao ngày 20/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/CA NHAC DAO 20-7.mp3
Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 19/07/2014
sites/default/files/audio/2014/07/ct kinh toi 19-7-2014.mp3
Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 23/7/2014

 Buổi sáng

 

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

 

6h02' : Bản tin sáng ngày 23/7/2014

 

6h07' : Bản tin Quốc tế ngày 23/7/2014

 

6h16’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 287

 

6h19’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 358

 

6h25’: Sức khỏe 365 ngày  Bệnh tăng tiết mồ hôi - Tập 2/65

 

6h35’: Chuyên mục  Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM

 

6h45’: Chuyên mục  Trả lời bạn xem truyền hình

 

6h55’: Ký sự  Làng câu mực

 

7h19’: Chuyên mục  An toàn giao thông

  

7h28’: Chuyên mục  Người cao tuổi

 

7h39’: Chuyên mục  Ống kính phóng viên

   

7h45’: Phim lịch sử   Huyền thoại Điện Biên “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” – Tập 4/7

 

8h00’: Đất và người Xứ Lạng   Số 28

 

8h17’: 10 vạn câu hỏi vì sao   Tại sao lông chim đực lại sặc sỡ

 

8h29’: Ca nhạc Quốc tế   Số 28

 

8h59’: Bản tin sáng ngày 23/7/2014

 

9h05’: Bản tin quốc tế ngày 23/7/2014

 

9h11’: Bản tin tiếng Trung ngày 22/7/2014

 

9h26’: TT thị trường vùng cao  Số 15/2014

 

9h39’: Hành tinh thể thao ngày 23/7/2014 

  

9h59’: Chương tình thời sự tổng hợp ngày 22/7/2014

  

10h24’: Trang THCS  Số 386

 

10h45’: Phim truyện  Anh chàng bảo mẫu – Tập 5/16 Phim HQ

 

11h44’: Bản tin trưa ngày 23/7/2014

 

Buổi chiều và tối

 

12h00’: Chuyển tiếp Chương trình Thời sự VTV1

 

12h30’: Chương trình truyền hình tương tác Play Music

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 23/7/2014

 

15h25’: Phim truyện  Dù gió có thổi – Tập 97/135 Phim VN

 

16h21’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 287

 

16h25’: Chuyên mục  Vì màu xanh cuộc sống

 

16h38’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 23/7/2014

 

17h20’: Trang THCS  Số 387

 

17h26’: Ngôi sao đường phố  Serie truyền hình thực tế Nam The Man – Tập 12

 

17h46’: Phim hoạt hình  Virus tấn công – Tập 10/52

 

18h00’: Phim truyện  Dù gió có thổi – Tập 98/135 – Phim VN

 

18h59’: Chuyển tiếp Chương trình Thời sự VTV1

 

19h50': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 23/7/2014

 

20h14': Bản tin trong nước ngày 23/7/2014

 

20h19': Bản tin Quốc tế ngày 23/7/2014

 

20h24': Bản tin Thể thao ngày 23/7/2014

 

20h35’: Ai? Việc gì? Ở đâu?  Số 56

 

20h39’: Chuyên mục  Quốc phòng toàn dân

 

20h49’: Phim truyện   Anh chàng bảo mẫu – Tập 6/16 Phim HQ

 

21h35’: Lạng Sơn trong tôi  Số 08 – Về Quỳnh Sơn thăm làng nghề ngói máng

 

21h43’: Chuyên mục  Đảng trong cuộc sống hôm nay

 

21h53’: Chuyên mục  Tuổi trẻ Xứ Lạng

 

22h03’: Khỏe để an viên  Dị ứng và cách phòng tránh

 

22h30’: Bản tin tiếng Trung ngày 23/7/2014

 

22h44’: Bản tin sức khỏe Bệnh loạn dưỡng giác mạc - Tập 3/261

    

22h54’: Phim truyện  Tòa tháp trắng – Tập 16/30 Phim HQ

 

23h39’: Ca nhạc Việt  Số 28/2014

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

 

Câu 1. Chị Nguyễn Thu Thảo trú tại thị trấn Đồng Đăng huyện Cao Lộc hỏi: Nhà hàng sử dụng thực phẩm để chế biến đã quá hạn sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội ban hành ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010, tại khoản 2 Điều 5 nghiêm cấm những hành vi: Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.

 

Tại Khoản 2, 5 Điều 5 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, những hành vi sử dụng thực phẩm để chế biến đã quá hạn hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ sẽ bị xử phạt như sau:

 

- Phạt tiền bằng 100% đến 120% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi sử dụng nguyên liệu thực phẩm, nguyên liệu làm phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng đối với nguyên liệu thực phẩm, nguyên liệu làm phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm thuộc diện bắt buộc phải ghi thời hạn sử dụng để sản xuất, chế biến thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm nhưng số tiền phạt không vượt quá 100.000.000 đồng.

 

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không có giấy chứng nhận xuất xứ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định để sản xuất, chế biến thực phẩm.

 

Mức phạt tiền trên là mức phạt đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

 

Ngoài ra còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 02 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 2 và từ 02 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 5 Điều này;

 

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

 

Câu 2. Ông Lý Văn Bằng trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Quy định của pháp luật hiện nay về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015, cụ thể như sau:

 

- Ở nông thôn:

 

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống.

 

+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.

 

- Ở thành thị:

 

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.

 

+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.

 

Câu 3. Ông Lê Văn Tú trú tại thị trấn Hữu lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Người điều khiển ô tô, xe máy tham gia giao thông có uống bia, rượu thì bị xử phạt như thế nào?

 

Theo quy định tại điểm b Khoản 5, điểm b Khoản 7, điểm a Khoản 8 Điều 5; điểm b Khoản 5, điểm e Khoản 6 Điều 6 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể xử phạt người có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở mà điều khiển ô tô, xe máy như sau:

 

1. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô:

 

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7, Điểm a Khoản 8 Điều này;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng; trường hợp vi phạm mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

 

- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

2. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy:

 

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng; trường hợp vi phạm mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

 

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

 

Câu 1. Ông Hoàng Tuấn Khanh trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: thời hạn thụ lý, chuẩn bị xét xử vụ án dân sự; Trường hợp nào coi là vụ án có tính chất phức tạp?

 

Trả lời:

 

 Về thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự như sau: 

 

1. Thủ tục nhận đơn khởi kiện (quy định tại Điều 167 Bộ luật Tố tụng dân sự):

 

Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

 

- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

 

- Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

 

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

 

2.  Thời hạn chuẩn bị xét xử (quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự):

 

2.1 - Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

 

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; (Điều 25- Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 27- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án).

 

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. (Điều 29- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 31- Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án).

 

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b nêu trên.

 

2.2 - Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTDS, tuỳ từng trường hợp, Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

 

+ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

 

+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

 

+ Đình chỉ giải quyết vụ án;

 

+ Đưa vụ án ra xét xử.

 

2.3 - Nếu Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

 

3. Vụ án có tính chất phức tạp theo quy định nêu trên: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự:

 

 “Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài,… Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Đức Thịnh trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Trường hợp tự ý thay đổi kết cấu xe sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 55 Luật giao thông đường bộ năm 2008 về bảo đảm quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ đã quy định rõ:

 

1. Việc sản xuất, lắp ráp, cải tạo, sửa chữa, bảo dưỡng và nhập khẩu xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phải tuân theo quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Không được cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

 

2. Chủ phương tiện không được tự thay đổi kết cấu, tổng thành, hệ thống của xe không đúng với thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

 

Điều 30 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (Tại điểm a khoản 1; điểm a, điểm b khoản 2; điểm c khoản 3; điểm a, điểm b khoản 7; điểm b khoản 8; điểm a, điểm b khoản 9 quy định cụ thể về mức phạt tiền cũng như các hình thức xử phạt bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả đối với những trường hợp tự ý thay đổi kết cấu xe khi không được phép của cơ quan có thẩm quyền) cụ thể như sau:

 

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe;

 

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

 

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe;

 

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe;

 

7. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Tự ý thay đổi tổng thành khung; tổng thành máy; hệ thống phanh; hệ thống truyền động; hệ thống chuyển động hoặc tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tự ý thay đổi tính năng sử dụng của xe;

 

b) Cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

 

8. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

 

b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này bị tịch thu phương tiện.

 

9. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

 

a) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản 1; Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều này buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe;

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 7 năm 2014


 

Câu 1. Ông Hoàng Đức Thanh trú tại xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Những trường hợp nào không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014.

Ngày 15/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tại Điều 19 Nghị định này quy định

7 trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ thể như sau :

1. Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai.

2. Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

3. Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

4. Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.

5. Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

6. Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

 

Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp

Điều 44 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014  quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân. Theo đó, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối của mỗi hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp được áp dụng đối với các hình thức nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

1. Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối:

a) Không quá 30 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;

b) Không quá 20 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại.

2. Đất trồng cây lâu năm:

a) Không quá 100 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

3. Đất rừng sản xuất là rừng trồng:

a) Không quá 150 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì tổng diện tích được nhận chuyển quyền trong hạn mức đối với mỗi loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) bằng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất cao nhất.

5. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp bao gồm nhiều loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) thì hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đó được xác định theo từng loại đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này.

6. Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2007 thì phần diện tích đất vượt hạn mức được tiếp tục sử dụng như đối với trường hợp đất nông nghiệp trong hạn mức nhận chuyển quyền.

7. Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng đất và chỉ phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước đối với phần diện tích vượt hạn mức nhận chuyển quyền.

Câu 2. Bà Nguyễn Thị Hồng trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi: Người lao động đang nghỉ chế độ thai sản có phải đóng bảo hiểm thất nghiệp không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ  quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp, đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể như sau:

Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc sau đây với người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng

- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn

- Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng

- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.

Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội; người lao động tạm hoãn thực hiện giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật thì thời gian này người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy, người lao động đang trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 7 năm 2014

 


 Câu 1. Ông Vũ Văn Đông trú tại xã Mai Pha, TP Lạng Sơn hỏi : Trường hợp nào thì được coi là tai nạn lao động, người bị tai nạn lao động được hưởng chế độ như thế nào ?

 

Trả lời :

Theo quy định tại Điều 142 Bộ Luật Lao động : Tai nạn lao động (TNLĐ) là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động (NLĐ), xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Tại Điều 39 Luật BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau :

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này. 

 

Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Điều 145 Bộ luật Lao động)

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

 

Giám định sau khi chữa trị

Sau khi điều trị, tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động do TNLĐ, NLĐ được giám định và xếp hạng thương tật để hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng do quỹ BHXH trả.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 Luật BHXH thì NLĐ bị TNLĐ được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau: Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định; hoặc sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định.

 

Trợ cấp TNLĐ do quỹ BHXH chi trả

Quy định về trợ cấp một lần, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp phục vụ, trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thời điểm nhận trợ cấp áp dụng theo các Điều 42, 43, 44, 46, 47 Luật BHXH:

- Trợ cấp 1 lần: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp 1 lần. Mức trợ cấp 1 lần như sau: Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung. Ngoài mức trợ cấp này, NLĐ còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ 1 năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp hàng tháng: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp hằng tháng như sau: Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung.

Ngoài mức trợ cấp này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ 1năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp phục vụ: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng trợ cấp hằng tháng nêu trên, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung.

- Thời  điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng NLĐ điều trị xong, ra viện. Trường hợp thương tật tái phát, NLĐ được đi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa.

- Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung. 

 

Câu 2: Chị Lê Thị Hòa trú tại xã Hoàng Đồng, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi hiện đang làm cho một công ty, đã đóng bảo hiểm xã hội được 3 năm. Nếu tôi sinh con ngoài giá thú thì có được hưởng chế độ thai sản theo quy định của bảo hiểm xã hội không:

 

Trả lời:

Theo Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;

d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.

2. Người lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Như vậy, pháp luật về bảo hiểm xã hội không có quy định nào hạn chế quyền hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con mà không có đăng ký kết hôn, vì vậy chị sẽ vẫn được hưởng chế độ thai sản như những phụ nữ khác nếu chị đáp ứng đủ 2 điều kiện về đối tượng được hưởng chế độ thai sản và thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng chế độ thai sản theo quy định nêu trên.

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 24 tháng 6 năm 2014

 

 

Câu 1: Bà Hoàng Thị Thu trú tại xã Hoa Thám, huyện Bình Gia hỏi:

 

Một người có hành vi trái pháp luật, gây thương tích nặng cho người khác sẽ bị mức phạt thế nào và phải bồi thường bao nhiêu?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

 

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

 

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

 

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

 

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

 

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

 

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

 

e) Có tổ chức;

 

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

 

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

 

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

 

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

 

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

 

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

 

Như vậy căn cứ vào tỷ lệ thương tích đã gây ra cho người bị hại thuộc vào trường hợp nào thì Tòa án sẽ quyết định hình phạt theo quy định.

 

Bên cạnh việc có thể phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự thì người có hành vi gay thương tích cho người khác còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do sức khỏe bị xâm phạm. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bao gồm:

 

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

 

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

 

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

 

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

 

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

 

Câu 2: Bà Nguyễn Thị Vân trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong những trường hợp nào:


Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức, Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

 

a) Viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ;

 

b) Viên chức bị buộc thôi việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 57 của Luật này ( khoản 1 Điều 57 quy định: Viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì bị buộc thôi việc, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật);

 

c) Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục, viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 06 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Khi sức khỏe của viên chức bình phục thì được xem xét để ký kết tiếp hợp đồng làm việc;

 

d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn;

 

đ) Khi đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

 

Tại khoản 3 Điều 29 quy định những trường hợp người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức:

 

a) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn, đang điều trị bệnh nghề nghiệp theo quyết định của cơ sở chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

 

b) Viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

c) Viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 16 tháng 6 năm 2014

 

Câu 1: Ông Hoàng Mạnh Hà trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định hỏi: Căn cứ nào để phân biệt xe máy điện và xe đạp điện ? Người điều khiển xe máy điện không đăng ký thì bị xử phạt thế nào, thủ tục đăng ký xe máy điện?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại điểm d, điểm e khoản 1 Điều 3 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt thì:

 

- Xe máy điện là xe gắn máy được dẫn động bằng động cơ điện có công suất lớn nhất không lớn hơn 4 kW, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h;

 

- Xe đạp máy là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được (kể cả xe đạp điện).

 

Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 39/2013/TT-BGTVT ngày 01/11/2013 Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xe đạp điện số hiệu QCVN 68: 2013/BGTVT.  Quy chuẩn này là căn cứ pháp lý - kỹ thuật quan trọng để kiểm tra, thử nghiệm và chứng nhận chất lượng các loại xe đạp điện sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu.

 

Theo quy chuẩn trên, xe đạp điện đạt tiêu chuẩn Việt Nam phải trang bị hai hệ thống phanh có cơ cấu điều khiển và dẫn động độc lập với nhau trong đó 01 hệ thống phanh tác động lên bánh trước và 01 hệ thống phanh tác động lên bánh sau; quãng đường phanh không được lớn hơn 4 m, khi vận hành bằng cơ cấu đạp chân, xe phải có khả năng đi được quãng đường 7 km trong thời gian không quá 30 phút. Xe có vận tốc thiết kế lớn nhất không vượt quá 25 km/h; xe phải có đèn chiếu sáng phía trước, tấm phản quang phía sau, thiết bị cảnh báo bằng âm thanh, thiết bị hiển thị mức năng lượng điện; khối lượng bản thân xe không được lớn hơn 40 kg và công suất động cơ điện của xe không được lớn hơn 250W.

 

Với xe máy điện, việc quản lý và kiểm soát được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng an toàn kỹ thuật đối với mô tô, xe gắn máy (Quy chuẩn 14).Theo đó, xe máy điện là phương tiện có vận tốc và động cơ lớn hơn xe đạp điện. Ngoài thiết kế lớn hơn, xe không có bàn đạp, tốc độ của xe máy điện được phép lưu thông đến 50km/h, công suất động cơ trên 250W và không lớn hơn 4 KW.

 

Theo quy định hiện nay xe máy điện phải đăng ký mới được lưu hành. Với những lỗi điều khiển xe máy điện không có còi, đèn soi, biển số hoặc điều khiển xe gắn biển số không đúng quy định sẽ bị phạt từ 80.000 - 100.000 đồng ; điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe theo quy định sẽ bị phạt 300.000-400.000 đồng và tạm giữ xe 7 ngày (quy định tại khoản 3 Điều 17 và điểm e khoản 1 Điều 75 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP)

 

Thủ tục đăng ký xe máy điện:

 

Theo quy định tại Thông tư số 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an ra ngày 4/4/2014 quy định về đăng ký xe thì Hồ sơ đăng ký xe máy điện gồm:

 

- Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu được phát tại nơi đăng ký xe)

 

- Giấy tờ của chủ xe (Chứng minh nhân dân, trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu);

 
- Giấy tờ của xe: 

+ Chứng từ nguồn gốc của xe: Phiếu Kiểm tra chất lượng xuất xưởng (đối với xe sản xuất lắp ráp trong nước) hoặc Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu (đối với xe nhập khẩu).

 

+ Hóa đơn bán xe;

 

+ Chứng từ nộp lệ phí trước bạ.

 

Về mức thu lệ phí đăng ký xe máy điện  áp dụng như mức thu của xe mô tô, xe gắn máy.

 

Hồ sơ nộp tại trụ sở Đội CSGT Công an huyện Tràng Định để làm thủ tục đăng ký, cấp biển số.

 

Đối với xe máy điện đã sử dụng trước ngày 01/7/2009 không có chứng từ nguồn gốc hoặc chứng từ chuyển nhượng không bảo đảm theo quy định, nếu chủ xe có cam kết (có xác nhận của chính quyền địa phương) thì được giải quyết đăng ký, cấp biển số xe. (khoản 12 Điều 23 Thông tu số 15/2014/TT-BCA).

 

Câu 2 : Ông Hoàng Văn Kiên trú tại xã Hồng Việt, huyện văn Lãng hỏi :

 

Đơn khởi kiện tại Tòa án để giải quyết đối với quyết định hành chính về quản lý đất đai bị Tòa án trả lại trong những trường hợp nào?

 

Trả lời : Theo quy định tại Điều 109 Luật Tố tụng hành chính thì Toà án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:

 

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

 

- Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;

 

- Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;

 

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;

 

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

 

- Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;

 

- Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính (Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn của người khởi kiện).

 

- Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật Tố tụng hành chính mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 108 của Luật Tố tụng hành chính;

 

- Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Tố tụng hành chính (Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí) mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

 

Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

 

Tại Điều 110 Luật Tố tụng hành chính quy định về việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện cụ thể như sau:

 

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.

 

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

 

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp biết;

 

- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

 

Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Toà án thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp phải giải quyết. Quyết định của Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 10 tháng 6 năm 2014

Câu 1. Anh Nguyễn Văn Quý trú tại phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi kinh doanh nhà nghỉ nếu khách lưu trú qua đêm thì thủ tục đăng ký thế nào, khách có phải đưa Chứng minh nhân dân để đi đăng ký không?

 

Trả lời:

Về câu hỏi này chúng tôi trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 31 Luật cư trú 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) về Lưu trú và thông báo lưu trú:

1. Lưu trú là việc công dân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình và không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú.

2. Đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn; trường hợp người đến lưu trú tại nhà ở của gia đình, nhà ở tập thể mà chủ gia đình, nhà ở tập thể đó không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp hoặc bằng điện thoại hoặc qua mạng Internet, mạng máy tính. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thông báo địa điểm, địa chỉ mạng Internet, địa chỉ mạng máy tính, số điện thoại nơi tiếp nhận thông báo lưu trú cho nhân dân biết.

3. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ, nếu người đến lưu trú sau 23 giờ thì thông báo lưu trú vào sáng ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần.

4. Việc thông báo lưu trú được ghi vào sổ tiếp nhận lưu trú.

Như vậy, việc lưu trú và thông báo lưu trú không yêu cầu phải có kèm theo Giấy chứng minh nhân dân.

Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì Cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Anh cũng phải giải thích cho khách lưu trú về việc cần phải có Giấy CMND và xuất trình khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền. Tại Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì trường hợp: Không xuất trình chứng minh nhân dân khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền; Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ chứng minh nhân dân khi có yêu cầu của người có thẩm quyền thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

 

Câu 2. Anh Ngô Mạnh Hà trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi bị mất Giấy đăng ký xe ô tô, thủ tục xin cấp lại Giấy đăng ký xe như thế nào?

Trả lời: TheoThông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 Quy định về đăng ký xe, tại Điều 15 quy định về thủ tục Cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bị mất, cụ thể như sau :

Hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bị mất bao gồm:

1. Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA).

2. Các giấy tờ theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 15/2014/TT-BCA.

Trường hợp của anh là người Việt Nam thì xuất trình một trong những giấy tờ sau:

a) Chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu.

b) Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng).

Trường hợp không có Giấy chứng minh Công an nhân dân, Giấy chứng minh Quân đội nhân dân thì phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác.

c) Thẻ học viên, sinh viên học theo hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện; giấy giới thiệu của nhà trường.

3. Khi cấp lại giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe thì giữ nguyên biển số. Trường hợp xe đang sử dụng biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì đổi sang biển 5 số theo quy định.

Trường hợp xe đã đăng ký, cấp biển số nhưng chủ xe đã làm thủ tục sang tên, di chuyển đi địa phương khác, nay chủ xe đề nghị đăng ký lại nguyên chủ thì giải quyết đăng ký lại và giữ nguyên biển số cũ; trường hợp biển số cũ là biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì cấp đổi sang biển 5 số theo quy định.

 

Câu 3. Ông Hoàng Tuấn Minh trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi : Công ty tôi dự định sản xuất nước uống tinh khiết đóng chai. Xin cho hỏi thủ tục xin cấp giấy chứng nhận Vệ sinh an toàn thực phẩm và cần các loại giấy phép gì ?

 

Trả lời :

Theo quy định tại Thông tư số 26/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế quy định cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế thì để được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ sở cần chuẩn bị bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận gồm:

Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận được đóng thành 01 quyển, gồm các giấy tờ sau:

1. Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (theo Mẫu 1 được ban hành kèm theo Thông tư này).

          2. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm (bản sao có xác nhận của cơ sở).

3. Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm (có xác nhận của cơ sở), bao gồm:

a) Bản vẽ sơ đồ thiết kế mặt bằng của cơ sở và khu vực xung quanh;

b) Sơ đồ quy trình sản xuất thực phẩm hoặc quy trình bảo quản, phân phối sản phẩm và bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ của cơ sở.

4. Giấy xác nhận tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm:

a) Đối với cơ sở dưới 30 người: Nộp bản sao giấy xác nhận (có xác nhận của cơ sở);

b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: Nộp danh sách đã được tập huấn (có xác nhận của cơ sở).

5. Giấy xác nhận đủ sức khoẻ chủ cơ sở và của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phiếu báo kết quả cấy phân âm tính mầm bệnh gây bệnh đường ruột (tả, lỵ trực khuẩn và thương hàn) của người trực tiếp sản xuất thực phẩm đối với những vùng có dịch bệnh tiêu chảy đang lưu hành theo công bố của Bộ Y tế:

a) Đối với cơ sở dưới 30 người: Nộp bản sao giấy xác nhận (Có xác nhận của cơ sở);

b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: Nộp danh sách kết quả khám sức khoẻ, xét nghiệm phân của chủ cơ sở và của người tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Có xác nhận của cơ sở).

Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận là Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm của tỉnh.

Ngoài ra, Công ty ông cũng cần phải tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm, Giấy chứng nhận nước đầu ra, Giấy chứng nhận nước thành phẩm. Nếu cơ sở sản xuất của Công ty ông có nguồn nước đầu vào là nước giếng khoan với quy mô vượt quá 10 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm thì Công ty ông còn phải xin giấy phép khai thác nước dưới đất do UBND tỉnh cấp (qua Sở Tài nguyên - Môi trường).

   


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 3 tháng 6 năm 2014


 

Câu 1: Ông Nguyễn Hoàng Dũng trú tại phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi bị phạt vì lái xe ô tô khi rẽ trái không xi nhan báo rẽ và bị Cảnh sát giao thông tạm giữ giấy phép lái xe, hẹn 15 ngày đến giải quyết. Xin hỏi giấy hẹn đến giải quyết tại Phòng cảnh sát giao thông có thay thế được giấy phép lái xe trong thời gian này hay không?

 

Trả lời:

 

Điều 15 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định, khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ. Do bạn không bật xi-nhan báo khi bạn rẽ trái, cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính với bạn là đúng.   Theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, hành vi điều khiển xe ô tô chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ, có thể bị phạt tiền từ 600.000 đến 800.000 đồng. Trong trường hợp này bạn không bị tước giấy phép lái xe.   Khoản 2, Điều 75 của nghị định này cũng nêu rõ: Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định tại Khoản 6, Khoản 8 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản 6 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.   Do vậy, bạn vẫn không mất quyền sử dụng giấy phép lái xe trong thời gian chờ giải quyết vi phạm. Giấy hẹn có giá trị thay thế những giấy tờ bị tạm giữ, bạn vẫn tham gia giao thông bình thường.   Tuy nhiên, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, bạn chưa đến giải quyết mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông thì sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy phép lái xe.

 

Câu 2: Ông Hoàng Đức Tiến trú tại phường Tâm Thanh, TP Lạng Sơn hỏi: Theo quy định hiện hành thì trường hợp nào được và trường hợp nào không được đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, thủ tục và mức tiền đặt bảo lãnh như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 14, Điều 15 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2014 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính thì tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ, bảo quản phương tiện đối với trường hợp phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.   Thủ tục và mức tiền đặt bảo lãnh   - Tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh cho người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện. Mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất phải bằng mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định cho hành vi vi phạm. Tiền đặt bảo lãnh được trả lại cho tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh sau khi tổ chức, cá nhân vi phạm đã chấp hành xong quyết định xử phạt.   Việc đặt tiền bảo lãnh và trả lại số tiền đó phải được lập biên bản. Biên bản được lập thành hai bản, một bản giao cho tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh.   - Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định xử phạt mà tổ chức, cá nhân không chấp hành quyết định xử phạt thì số tiền đặt bảo lãnh được chuyển thành số tiền xử phạt; trường hợp số tiền đặt bảo lãnh lớn hơn số tiền xử phạt thì phần còn lại của số tiền đặt bảo lãnh sau khi trừ số tiền xử phạt được trả lại cho tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh.

 

5 trường hợp không được đặt tiền bảo lãnh

 

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP thì các trường hợp sau đây tổ chức, cá nhân vi phạm không được đặt tiền bảo lãnh để giữ, bảo quản phương tiện giao thông bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:   - Phương tiện giao thông của vụ vi phạm là vật chứng của vụ án hình sự.   - Phương tiện giao thông đang được đăng ký giao dịch bảo đảm.   - Phương tiện giao thông được sử dụng để đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng hoặc gây tai nạn giao thông.   - Giấy đăng ký phương tiện bị làm giả, sửa chữa.   - Biển kiểm soát giả, phương tiện bị thay đổi trái phép số khung, số máy hoặc bị xóa số khung, số máy.

 

Câu 3. Chị Nguyễn Hồng Hạnh trú tại phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi kinh doanh quán cà phê và khách chủ yếu là học sinh, sinh viên. Các em đến quán thường chơi đánh bài để trả tiền cafe hoặc giải trí. Vậy tôi và những em tham gia đánh bài này có vi phạm pháp luật không?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về Tội đánh bạc và Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ: việc đánh bạc có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (như: xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế...) và người chơi có thể được, thua bằng tiền hoặc hiện vật.

 

Nếu việc được, thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội Đánh bạc hoặc Tội tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự.

 

Pháp luật không quy định mức tối thiểu của việc được, thua phải từ bao nhiêu trở lên mới bị xử phạt hành chính nên về nguyên tắc, nếu đánh bạc mà được, thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị dưới 2 triệu đồng và không thuộc một trong các trường hợp nói trên thì đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép. Theo điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, hành vi này bị xử phạt hành chính từ 1 đến 2 triệu đồng.

 

Việc cho phép khách hàng chơi bài (dù chỉ để trả tiền cà phê hoặc giải trí) tại quán cà phê cũng có thể bị coi là hành vi chứa bạc. Theo quy định tại khoản 4 Điều 26, hành vi chứa bạc có thể bị xử phạt hành chính từ 5 đến 10 triệu đồng.

 

Như vậy, với các quy định chúng tôi vừa viện dẫn thì việc chơi bài mà được, thua bằng tiền hay hiện vật (dù chỉ để trả tiền cà phê hoặc giải trí) và việc cho phép những người này chơi bài tại quán cũng đều là vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 27 tháng 5 năm 2014

 

Câu1. Chị Lê Thị Quyên trú tại phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi  là nhân viên một Công ty cổ phần, hiện nay đang điều trị bệnh, do bệnh nặng tôi được lãnh đạo Công ty cho nghỉ việc để chữa bệnh không hưởng lương. Xin cho tôi hỏi, thời gian tối đa cho người lao động được nghỉ là bao lâu? Tôi được hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội như thế nào trong thời gian nghỉ việc?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 116 Bộ luật lao động thì: Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương. Theo đó, thời gian này hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên theo điểm b khoản 1 điều 38 Bộ luật lao động thì: Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp: Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động.

 

Nếu nghỉ ốm hưởng BHXH, tại Điều 23 Luật BHXH quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH (bao gồm các đối tượng sau: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an) tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:

 

a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;

 

b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.

 

2. Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

a) Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

 

b) Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.

 

3. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH (đối tượng là: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân) tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

 

Mức hưởng chế độ ốm đau ( quy định tại Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội):

 

1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 23 và Điều 24 của Luật BHXH thì mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

2. Người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng được quy định như sau:

 

a) Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên;

 

b) Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm;

 

c) Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm.

 

3. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật BHXH thì mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

4. Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung

 

Câu 2: Chị Nguyễn Thị Kim Tuyến trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Hai vợ chông tôi có một con chung được 2 tuổi, nay hai vợ chồng tôi không thể chung sống với nhau được nữa và đang làm thủ tục ly hôn. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn hiện nay pháp luật quy định thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

 

1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

 

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

 

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

 

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

 

Quyền thăm nom con sau khi ly hôn (Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình):

 

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

 

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 20 tháng 5 năm 2014

 


Câu 1. Ông Lý Văn Sinh trú tại xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Người nhà ông hiện đang đi lao động tại nước ngoài đã hết thời hạn nhưng không về nước mà trốn ở lại, trường hợp này sẽ bị xử lý thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 22/8/2013 Chính phủ ban hành Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tại Điều 35 quy định xử phạt vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác cụ thể như sau:

 

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký hợp đồng cá nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

 

2. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

 

a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;

 

b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;

 

c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng;

 

d) Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định

.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này;

 

b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 02 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này;

 

c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 05 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm c và Điểm d Khoản 2 Điều này.

 

Tuy nhiên, trường hợp người lao động Việt Nam đã bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại cư trú trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động trước ngày 10/10/2013, nếu tự nguyện về nước trong thời gian 3 tháng (tính từ ngày 10/10/2013 đến ngày 10/1/2014) sẽ được miễn xử phạt hành chính, không bị áp dụng hình thức xử phạt hành chính nêu trên.

 

Ngày 27/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP. Theo đó, đối với người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng mà tự nguyện về nước trước ngày 10 tháng 3 năm 2014 thì không phạt tiền như quy định tại Điều 35 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP. Từ ngày 10/3/2014 trở đi, bất kỳ lao động Việt Nam nào làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại cư trú và làm việc trái phép sau khi hết hạn hợp đồng mà bị phát hiện sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP.

 

Theo Thông tư liên tịch số 32/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNG ngày 06/12/2013 của Bộ LĐTBXH và Bộ Ngoại giao Hướng dẫn trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 điều 35 của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP; tại Điều 4 quy định: trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều 35 của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Trường hợp người vi phạm không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 61 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Theo điều 5 Thông tư này trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính không thể giao trực tiếp cho người vi phạm do không xác định được nơi ở, nơi làm việc của người bị xử phạt thì quyết định xử phạt vi phạm hành chính được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị xử phạt trước khi đi làm việc ở nước ngoài, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nơi đã ra quyết định xử phạt và được gửi cho gia đình người bị xử phạt hoặc người bảo lãnh (nếu có).

 

Trường hợp người bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn quy định, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người bị xử phạt cư trú trước khi đi làm việc ở nước ngoài để ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Mạnh Thắng trú tại Thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi:

 

Tôi tham gia kháng chiến chống pháp, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Sau đó chuyển về công tác tại một cơ quan Nhà nước, hiện nay đã nghỉ hưu và được phát thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) theo diện cán bộ hưu trí. Nay tôi có được chuyển đổi sang thẻ BHYT cho người có công với cách mạng không? Nếu được thì thủ tục như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo hiểm Y tế và Điều 7 Nghị định 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm Y tế, người có công với cách mạng (tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương) sẽ được quỹ BHYT chi trả 100% chi phí khám chữa, bệnh thông thường; 100% chi phí sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, nhưng tối đa không quá 40 tháng lương tối thiểu.

 

Theo Công văn số 1598/BHXH-CSYT ngày 18/5/2010 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc chuyển đổi mã quyền lợi Bảo hiểm y tế thì thủ tục chuyển đổi mã quyền lợi BHYT như sau:

 

Hồ sơ chuyển đổi mã quyền lợi trên thẻ BHYT đối với người có công với cách mạng gồm:

 

- Thẻ BHYT hiện đang được cấp.

- Bản sao công chứng của một trong các giấy tờ sau: Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến, Huân chương chiến thắng, Huy chương chiến thắng hoặc Chứng nhận về khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến và thời gian hoạt động kháng chiến của cơ quan Thi đua - Khen thưởng cấp huyện, Giấy chứng nhận thương binh, bệnh binh.

 

Hồ sơ nộp tại cơ quan BHXH cấp huyện (hoặc tỉnh) nơi cư trú để được đổi mã quyền lợi phù hợp. Các trường hợp này không phải nộp lệ phí đổi thẻ.

 

Trường hợp của ông cần làm hồ sơ theo quy định nêu trên và nộp tại Bảo hiểm xã hội huyện Chi Lăng để được giải quyết.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 14 tháng 5 năm 2014

1. Ông Hoàng Thế Anh, trú tại xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi: Em tôi bị đánh thương tích 19% vụ án đã được tòa án huyện xét xử, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe, viện phí. Nhưng đến nay đã 6 tháng bị cáo vẫn chưa bồi thường. Vậy, em tôi phải làm gì để được thi hành án.


Trả lời 

 

Theo điểm a khoản 2 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự,  Bản án, quyết định về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với trường hợp của gia đình ông, sau khi có bản án, quyết định của tòa án thì bị đơn dân sự phải thi hành ngay bản án, quyết định đó, tức là phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho em ông.

Gia đình ông có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án (đơn yêu cầu có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện) hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án nêu rõ nội dung yêu cầu và các thông tin liên quan đến việc thi hành án (Điều 32 Luật Thi hành án dân sự). Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ  quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Người làm  đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Gia đình ông có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự (Phong toả tài khoản; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản). 

Thời hạn tự  nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (theo khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự); sau thời gian này mà đương sự không tự nguyện thi hành án thì gia đình ông yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế (theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự).

 

 2. Bạn Nguyễn Mai Lan, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp bố mẹ bỏ mặc không chăm sóc con cái và thường xuyên quậy phá, quấy nhiễu các thành viên khác trong gia đình thì cơ quan nào có thẩm quyền xử lý?

Trả lời:

Hành vi trên có dấu hiệu vi phạm các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trái đạo đức xã hội. Trước hết, anh bạn vi phạm nghĩa vụ của người cha đối với các con. Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định:

- Cha mẹ  có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

- Cha mẹ  không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái  đạo đức xã hội.

Bên cạnh đó, anh trai bạn còn vi phạm nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau:

- Con có  bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

- Con có  nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

- Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

Trước những hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức trên, các thành viên trong gia đình có thể thực hiện các biện pháp sau:

+ Gửi đơn đến tòa án để yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình (nếu các cháu của bạn (con của anh trai) là người chưa thành niên). Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền đối với con chưa thành niên được quy định tại 43 Luật Hôn nhân và gia đình.           

+ Khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình của anh trai bạn. Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình thì: Người nào hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo đó, gia đình bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành vi của anh trai bạn theo quy định của pháp luật. 

3. Bạn Nguyễn Thúy Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Bà ngoại bên nam và bà ngoại bên nữ là 2 chị em ruột. Vậy hai bên nam, nữ này kết hôn với nhau có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Hôn nhân gia và đình thì pháp luật Việt Nam cấm kết hôn “giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.”

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ  nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba theo quy định tại khoản 13 Điều 8 Luật Hôn nhân gia và đình và điểm c.3 mục 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Như vậy, trường hợp của bạn được hiểu như sau: Cha mẹ của bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ nhất. Bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ hai. Cha hoặc mẹ hai bên nam nữ là đời thứ 3. Do đó hai bên nam, nữ là đời thứ 4 nên không vi phạm vào khoản 3 Điều 10 nói trên. Do đó 2 bạn có thể kết hôn được với nhau nếu thỏa mãn những điều kiện khác tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 4 năm 2014

 

 

1. Bà Nguyễn Thị Trang, trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Doanh nghiệp nơi tôi đang làm việc vẫn tổ chức cho công nhân làm thêm giờ, nhưng tôi chưa biết quy định của Nhà nước về tiền công làm thêm giờ được quy định như thế nào, đề nghịquý Đài trả lời giúp?

 

Trả lời:

 

Trước ngày 1/5/2013, theo quy định tại Điều 61 Bộ Luật Lao động (BLLĐ) năm 1994, người lao động làm thêm giờ được trả lương như sau: Vào ngày thường, được trả lương ít nhất bằng 150% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường; Vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, được trả lương ít nhất bằng 200% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường.

 

Nếu làm thêm giờ vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ tùy theo vùng khí hậu), thì còn được trả thêm ít nhất bằng 30% của tiền lương làm việc vào ban ngày.

 

Kể từ ngày 1/5/2013, tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được quy định tại Điều 97 BLLĐ năm 2012 như sau:

 

Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

 

Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

 

Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định nêu trên, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

 

Như vậy, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm theo quy định mới, được trả cao hơn (20%) so với quy định trước đây. Số giờ làm thêm không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường.

 

2. Ông Giang Văn Toàn, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Cán bộ cấp xã công tác lâu năm có hệ số lương cao nhưng do chuẩn hoá đi học, có bằng chuyên môn mà khi chuyển sếp lương thấp hơn mức lương đang hưởng thì tính như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Liên Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện.

 

Trong đó, khoản 2 Điều 2 Thông tư này hướng dẫn việc chuyển xếp lương đối với cán bộ cấp xã có trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ hệ số lương chức vụ vào ngạch, bậc công chức hành chính được căn cứ vào từng thời điểm trong thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn) đã có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để xếp vào bậc lương trong ngạch công chức hành chính.

 

Sau khi xếp vào bậc lương trong ngạch công chức hành chính cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo của chức danh hiện đảm nhiệm, nếu thấp hơn so với hệ số lương chức vụ đã hưởng, thì được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng hệ số lương chức vụ đã hưởng.

 

Trường hợp cán bộ cấp xã có bằng tốt nghiệp chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thuộc diện xếp lương theo ngạch, bậc công chức hành chính và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, nếu tự nguyện có đơn đề nghị xếp lương chức vụ theo chức danh hiện đảm nhiệm thì được xếp lương chức vụ theo chức danh hiện đảm nhiệm và không hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo.

 

 

3. Ông Đinh Văn Mạnh trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp xe chở vật liệu xây dựng rơi vãi trên đường gây mất an toàn giao thông và người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy không đội mũ bảo hiểm có bị xử phạt không, nếu có thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 20 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì người điều khiển xe ô tô chở hàng rời, vật liệu xây dựng dễ rơi vãi mà không có mui, bạt che đậy hoặc có mui, bạt che đậy nhưng vẫn để rơi vãi; chở hàng hoặc chất thải để nước chảy xuống mặt đường gây mất an toàn giao thông và vệ sinh môi trường thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

 

Ngoài ra, người điều khiển phương tiện phải phải khắc phục vi phạm, thu dọn vật liệu, rác, chất phế thải và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; nếu gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường theo quy định tại Khoản 7 Điều 20 Nghị định nêu trên.

 

Đối với người ngồi sau xe máy điện, xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm:

 

Theo quy định tại Điểm i Khoản 3 Điều 6, Điểm d Khoản 4 Điều 8 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì:

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

Như vậy, người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy chính là người ngồi trên xe máy điện, xe đạp máy (không phải người điều khiển) và bị xử phạt theo quy định nêu trên.

i 7��u��� (� xe thô sơ khác bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

 

Như vậy, người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy chính là người ngồi trên xe máy điện, xe đạp máy (không phải người điều khiển) và bị xử phạt theo quy định nêu trên.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 4 năm 2014

 

1. Ông Hoàng Thanh Hải, trú tại Phường Vĩnh Trại, Thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong trường hợp nào thì tổ chức, cá nhân bị lập biên bản vi phạm hành chính có quyền giải trình với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để chứng minh là mình không vi phạm?

 

            Trả lời:

 

Điều 61 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định như sau:

 

1. Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trước khi ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

 

2. Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền có thể gia hạn thêm không quá 05 ngày theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm.

 

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản.

 

3. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

 

Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

 

Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

 

Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các bên phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản.

 

2. Ông Nguyễn Duy Nam, trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cảnh sát cơ động có quyền dừng xe, kiểm tra giấy tờ và xử phạt vi phạm giao thông hay không? 

 

Trả lời:

 

Theo khoản 4 Điều 68 Nghị định 171/2013 của Chính phủ về phân định thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì các lực lượng như CSTT, CS phản ứng nhanh, CSCĐ, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến TTATGT đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi quy định. Theo đó, cảnh sát cơ động có thẩm quyền xử lý những hành vi sai phạm sau:

 

- Đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy mà không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định.

 

- Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư.

 

- Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m.

 

- Quay đầu xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt.

 

- Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định.

 

- Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông; tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ.

 

- Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc kiểm soát giao thông.

 

- Điều khiển xe trong tình trạng say xỉn.

 

- Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy.

 

- Điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ.

 

- Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác.

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ. Trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

 

- Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ.

 

-        

Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông...

 

Như vậy, khi thấy có dấu hiệu nghi vấn khi thực hiện nhiệm vụ thì cảnh sát cơ động vẫn có quyền kiểm tra hành chính để xử lý hoặc đề nghị xử lý theo quy định.

 

3. Bà Nguyễn Thị Tú Anh, trú tại thị trấn Chi Ma, huyện Lộc Bình hỏi: Người có hành vi bán dâm bị xử phạt như thế nào? 

 

Trả lời:

 

Tại điều 23 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình thì đối với hành vi bán dâm sẽ bị:

 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi bán dâm.

 

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp bán dâm cho nhiều người cùng một lúc.

 

 

3. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

 

 Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 4 năm 2014


1. Bà Nguyễn Thị Bé, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 15 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc khiếu nại quyết định xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại. Cụ thể tại Điều 7 của Luật Khiếu nại quy định:

 

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. 

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc tố cáo được thực hiện bằng hình thức đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định theo nguyên tắc được quy định tại Điều 12 Luật Tố cáo.

2. Bà Tú Loan, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chủ cơ sở gas phát tờ rơi quảng cáo bán gas và bếp gas, mặt sau của tờ rơi này là bản đồ Việt Nam nhưng đã vẽ không đúng đường biên giới quốc gia. Hành vi này có vi phạm pháp luật không, nếu vi phạm thì cơ quan nào có quyền xử lý?

 

Trả lời:

Hành vi này vi phạm pháp luật. Theo quy định tại điểm d Khoản 5 Điều 51 Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo:

 

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

d) Sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam trong quảng cáo mà không thể hiện đầy đủ chủ quyền quốc gia;

Đây là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm, đối với tổ chức mức phạt tiền gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

 

Ngoài ra còn bị áp dụng điểm a Khoản 7 Điều 51 Nghị định này quy định về biện pháp khắc phục hậu quả:  “Buộc tháo gỡ, tháo dỡ hoặc xóa quảng cáo đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này”.

Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm:

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp trên bao gồm các cơ quan sau:

- Chủ tịch UBND tỉnh;

- Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

- Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

 

3. Ông Hoàng Văn Lả, trú tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình hỏi: Thế nào là phòng vệ chính đáng, nếu phòng vệ vượt quá thì bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

Điều 15 Bộ luật Hình sự 1999 có quy định về vấn đề Phòng vệ chính đáng, cụ thể như sau:

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy việc phòng vệ chính đáng nói trên phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Thứ nhất, hành vi tấn công của người có hành vi vi phạm phải là đang hiện hữu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân.

- Thứ hai, người phòng vệ có sự chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi tấn công ngay cả những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn công (sự chống trả này phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể và để đánh giá được hành vi phòng vệ là cần thiết, phù hợp là tương đối phức tạp cà cần phải dựa vào một số căn cứ sau: tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, mức độ thiệt hại bị đe dọa gây ra, sức mạnh và sức mãnh liệt của hành vi tấn công, tính chất và mức độ nguy hiểm của phương pháp và phương tiện hay công cụ mà người tấn công sử dụng...).

Nếu hành vi chống trả của người phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì đó là vượt quá phòng vệ chính đáng và người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự và các hành vi tương ứng như: giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá phòng vệ chính đáng./.

 

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 4 năm 2014

 

 

1. Bà Nguyễn Thị Minh Trang, trú tại đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có cho người khác thuê nhà để ở, thời hạn là 2 năm nhưng mới được 6 tháng,  bên thuê đã sử dụng căn nhà thuê để kinh doanh karaoke mà không có sự đồng ý của tôi, vây tôi có quyền chấm dứt hợp đồng thuê nhà này hay không?

 

            Trả lời:

 

- Theo Điều 498 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định bên cho thuê nhà có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà khi bên thuê có một trong các hành vi sau đây:

 

- Không trả tiền thuê nhà liên tiếp trong 3 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;

 

- Sử dụng nhà không đúng mục đích thuê;

 

- Cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng;

 

- Sửa chữa, đổi hoặc cho người khác thuê lại toàn bộ hoặc một phần nhà đang thuê mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê;

 

- Làm mất trật tự công cộng nhiều lần và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt bình thường của những người xung quanh;

 

- Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường.

 

Trong trường hợp trên, bà có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê. Tuy nhiên, trước khi chấm dứt hợp đồng, chị phải báo cho chị A biết trước 1 tháng (nếu không có thỏa thuận khác) theo quy định tại khoản 3 Điều 498 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

 

2. Ông Ma Văn Kết, trú tại xã Gia Miễn, huyện Văn Lãng hỏi: Người ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng xuất khẩu lao động không thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết, mà bỏ ra ngoài làm việc 2 tháng, sau đó tự giác ra trình diện Đại sứ quán Việt Nam và làm thủ tục để được trở về nước thì có bị xử phạt hay không?

 

Trả lời: 

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 95/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tại vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác được quy định như sau:

 

Phạt tiền từ 80 đến 100 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

 

a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;

 

b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;

 

c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng.

 

Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 điều này;

 

b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 2 năm

 

 đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 điều này;

 

c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 5 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 điều này.

 

Tuy nhiên, Nhà nước ta có chính sách cho phép gia hạn đối với lao động tự nguyện về nước trước ngày 11/1/2014, thì sẽ không áp dụng quy định phạt tại Điều 35. Cụ thể: Các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày 1/7/2013 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định về xử phạt tại nghị định này nếu có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.

 

Đối với người lao động Việt Nam ở nước ngoài có hành vi bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng, hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động xảy ra trước ngày nghị định này có hiệu lực mà tự nguyện về nước trong thời gian 3 tháng, kể từ ngày nghị định này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng quy định tại Điều 35 nghị định này.

 

Về trường hợp em của bạn nêu trên, nếu tự nguyện về nước trước ngày 11/1/2014 thì sẽ không áp dụng quy định xử phạt quy định tại Điều 35 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

 

3. Ông Trần Văn Hưng, trú tại xã Thạch Đạn, huyện cao Lộc hỏi: Một người đang có vợ, có chồng mà chung sống với người khác như vợ, chồng với người khác sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT- ngày 25/9/2001 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an - TAND Tối cao - Viện KSND Tối cao  thì hành vi: “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó”.

 

Người có hành vi trên có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

 

- Về xử lý hành chính:

 

Căn cứ Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 09 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Tại Điều 48 quy định: Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn như sau:

 

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

 

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

 

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

            - Về xử lý hình sự:

 

Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

 

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

 

 

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 25 tháng 3 năm 2014

 


1. Ông Trần Văn Long, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Để được cấp giấy phép xây dựng nhà ở cá nhân công dân phải đáp ứng các điều kiện nào?

 

            Trả lời:

 

Theo quy định tại Nghị định 64/2012/NĐ-CP ngày 4 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ về cấp phép xây dựng thì các loại công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng khi đáp ứng các điều kiện chung như sau:

 

1. Phù hợp với quy hoạch xây dựng, mục đích sử dụng đất, mục tiêu đầu tư.

 

2. Tùy thuộc vào quy mô, tính chất, địa điểm xây dựng, công trình được cấp giấy phép xây dựng phải: Tuân thủ các quy định về chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng; đảm bảo an toàn công trình và công trình lân cận và các yêu cầu về: Giới hạn tĩnh không, độ thông thủy, bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật, phòng cháy chữa cháy, hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước, viễn thông), hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, năng lượng, giao thông, khu di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa. Đồng thời đảm bảo khoảng cách đến các công trình dễ cháy, nổ, độc hại, các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

 

3. Hồ sơ thiết kế xây dựng phải được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định thực hiện; thiết kế phải được thẩm định, phê duyệt theo quy định. Đối với nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích sàn nhỏ hơn 250m2, dưới 3 tầng và không nằm trong khu vực bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa thì chủ đầu tư được tự tổ chức thiết kế xây dựng và tự chịu trách nhiệm về sự an toàn của công trình và các công trình lân cận.

 

Ngoài ra, công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ trong đô thị để được cấp giấy phép xây dựng còn phải đáp ứng các điều kiện riêng sau đây:

 

a) Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

 

b) Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết, thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành;

 

c) Công trình xây dựng dân dụng cấp đặc biệt, cấp I trong đô thị phải có thiết kế tầng hầm theo yêu cầu của đồ án quy hoạch đô thị và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 

2. Bà Phan Thị Hà, trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Viên chức vi phạm ở mức độ nào thì bị buộc thôi việc, thời hiệu và thời hạn xử lý là bao lâu?

 

Trả lời: 

 

Theo Điều 13, Nghị định số 27 của Chính phủ về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

 

1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng;

 

2. Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

 

3. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập;

 

4. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

 

5. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 7 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch; năm dương lịch;

 

6. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức.

 

Về Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến thời điểm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật.

 

Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của viên chức, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền xử lý kỷ luật quy định tại Điều 14 Nghị định này phải ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật. Thông báo phải nêu rõ thời điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật, thời điểm phát hiện viên chức có hành vi vi phạm pháp luật và thời hạn xử lý kỷ luật.

 

Về Thời hạn xử lý kỷ luật tối đa là 02 tháng, kể từ ngày phát hiện viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến ngày người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

 

Trường hợp vụ việc có liên quan đến nhiều người, có tang vật, phương tiện cần giám định hoặc những tình tiết phức tạp khác cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để làm rõ thêm thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền xử lý kỷ luật ra quyết định kéo dài thời hạn xử lý kỷ luật, nhưng không quá 04 tháng.

 

3. Ông Đặng Tiến Thành, trú tại khu dây thép, thị trấn Đồng Đăng, huyện  Cao Lộc hỏi: Tôi phạm tội cố ý gây thương tích và phải thi hành án tù giam 3 năm, năm 2009 tôi đã thi hành xong bản án về địa phương sinh sống, lao động được 4 năm nay. Xin hỏi tôi có thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích hay không?

 

Trả lời:

 

Điều 64 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các trường hợp đương nhiên được xóa án tích như sau:

 

1. Người được miễn hình phạt.

 

2. Người bị kết án không phải về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc về tội phạm chống phá hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:

 

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

 

b) 3 năm trong trường hợp hình phạt là tù đến 3 năm;

 

c) 5 năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 3 năm đến 15 năm;

 

d) 7 năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm.

 

Để việc xóa án tích được áp dụng thống nhất, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999. Theo hướng dẫn tại điểm b mục 11 của Nghị quyết này thì thời hạn để xoá án tích được căn cứ hình phạt chính đã tuyên, mà không căn cứ hình phạt bổ sung. Thời hạn đó bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, chứ không phải bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.

 

Như vậy đối chiếu với trường hợp của ông thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 thì đương nhiên được xóa án tích.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 18 tháng 3 năm 2014

 

1. Ông Hà Văn Chất, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Năm 2013, tôi cho một người vay tiền, hai bên có viết giấy vay tiền và thời hạn vay là 01 tháng đến nay đã quá hạn 08 tháng, người vay không trả. Vậy tôi có thể kiện người vay ra toà được không? Nếu khởi kiện ra toà thì thủ tục gồm có những gì ?

 

Trả lời:

 

Về Trách nhiệm hoàn trả số tiền vay

 

Khi viết giấy vay tiền, ông và người vay đã giao kết hợp đồng vay tiền theo quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS). Tại Điều 471 BLDS thì Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

 

Điều 474 BLDS quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

 

- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

 

- Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

 

- Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

 

- Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

 

- Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

 

Nếu người vay không có khả năng trả nợ thì ông có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự quy định tại Điều 427 Bộ luật Dân sự là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Về Thủ tục khởi kiện tại Tòa:

 

+ Quyền khởi kiện vụ kiện dân sự: Theo Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về quyền khởi kiện vụ án quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

 

+ Thủ tục khởi kiện: Nếu có căn cứ cho rằng người vay tiền của ông đã vi phạm sự thỏa thuận. Ông có quyền làm đơn khởi kiện nộp tại tòa án nơi cư trú của bị đơn (người vay tiền) để được thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Hồ sơ khởi kiện gồm:

 

- Đơn khởi kiện (theo mẫu).

 

- Bản sao CMND, hộ khẩu.

 

- Giấy tờ chứng minh việc vay tiền.

 

- Các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp… (Điều 164 BLTTDS).

 

Khi khởi kiện ông có quyền yêu cầu tòa án giải quyết buộc người vay phải trả khoản lãi suất phát sinh do chậm trả theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

 

2. Bạn Hà Thị Hồng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi đã kết hôn với người Sinhgapore và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Sinhgapore, nay tôi muốn tổ chức lễ cưới tại Việt Nam thì tôi có cần phải đăng ký kết hôn tại Việt Nam nữa không?

 

Trả lời:  

 

Tại Điều 16, Mục 3, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có quy định:

 

“Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn”.

 

Theo quy định của pháp luật nói trên, thông thường, nếu vợ chồng bạn đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Singapore và đã được pháp luật Singapore công nhận thì sẽ được công nhận tại Việt Nam. Vì vậy, nếu các bạn muốn tổ chức lễ cưới tại Việt Nam thì không cần làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Việt Nam nữa mà chỉ cần làm thủ tục công nhận việc kết hôn đã được giải quyết tại Singapore của các bạn tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam. Cụ thể: Tại Điều 17 Nghị định nói trên về Thẩm quyền, trình tự, thủ tục ghi vào sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài quy định:

 

“1. Sở Tư pháp, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài (sau đây gọi là ghi vào sổ việc kết hôn). Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Sở Tư pháp, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam, thực hiện ghi vào sổ việc kết hôn”.

 

Do vậy, bạn đến Sở Tư pháp nơi bạn đăng ký thường trú để đề nghị ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của các bạn. Cán bộ Sở Tư pháp sẽ hướng dẫn bạn làm hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn tại mục 2 Điều 17 như sau:

 

“Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau:

 

a) Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn (theo mẫu quy định);

 

b) Bản sao giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

 

c) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;

 

d) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu”

 

Sau đó, bạn chuẩn bị hồ sơ bao gồm các văn bản nói trên và vợ hoặc chồng đem hồ sơ này đến nộp trực tiếp tại Sở Tư pháp và chờ từ 05-10 ngày làm việc để được cán bộ Sở Tư pháp ghi vào sổ việc kết hôn của các bạn. Sau đó, các bạn sẽ được cấp một Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch do Giám đốc Sở tư pháp ký.

 

Trong trường hợp từ chối ghi vào sổ việc kết hôn, Sở Tư pháp sẽ trả lời bằng văn bản cho các bạn và trong đó nêu rõ lý do cho bạn.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 11 tháng 3 năm 2014  

1. Bà Mai Trúc Quỳnh, trú tại xã Đô Lương, huyện Hữu Lũng hỏi: Trường hợp 2 bên hàng xóm mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau gây thương tích, đi giám định 5%, cơ quan công an không khởi tố vụ án do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Sau đó bên bị hại yêu cầu Tổ hòa giải tiến hành hòa giải, vậy trường hợp này Hòa giải viên có được hòa giải hay không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở thì các trường hợp được hòa giải như sau:

Thứ nhất: Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác:

Thứ hai: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

Thứ ba: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;

Thứ tư: Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;

Thứ năm: Vi phạm pháp luật hình sự trong trường hợp không bị khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật; pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phmj hành chính theo quy định của pháp luật; vụ án đã được khởi tố nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật;

Thứ sáu: Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy căn cứ vào trường hợp thứ năm nêu trên thì đối với vụ việc mà bà hỏi là vụ việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) mà cơ quan công an không khởi tố vụ án vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì khi có yêu cầu, Tổ hòa giải được phép tiến hành hòa giải để bên gây thiệt hại và bên bị hại có thể ngồi với nhau để thỏa thuận mức bồi thường theo ý chí của các bên.

 

2. Bạn Nguyễn Thị Trang, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cá nhân tự mình mua và trang bị bình xịt hơi cay có vi phạm pháp luật không?

 

Trả lời:  

Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì công cụ hỗ trợ còn bao gồm các loại công cụ sau:

- Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, la-de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này;

- Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa;

- Các loại lựu đạn khói, lựu đại cay, quả nổ;

- Các loại dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khóa số tám, bàn chông, dây đinh gai, áo giáp, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn;

- Động vật nghiệp vụ.

Như vậy, bình xịt hơi cay là một trong các loại công cụ hỗ trợ. Việc trang bị và sử dụng các loại công cụ hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Điều 38 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996, chỉ những đối tượng sau đây mới được phép trang bị, sử dụng công cụ hỗ trợ: Quân đội nhân dân; dân quân tự vệ; Công an nhân dân; Đội kiểm tra chống buôn lậu của Hải quan, Hải quan cửa khẩu; Đội kiểm tra của lực lượng quản lý thị trường; Đội tuần tra kiểm soát của Kiểm lâm; Ban, Đội bảo vệ chuyên trách của một số cơ quan, tổ chức nhà nước; Ban Bảo vệ dân phố hoặc tổ chức quần chúng bảo vệ an ninh trật tự ở phường xã; Trường, Trung tâm huấn luyện tập võ thuật và thể thao của Nhà nước; An ninh Hàng không; Đội thi hành án; Tổ chức, cá nhân thi công xây dựng được sử dụng súng bắn đinh.

Ngoài ra, theo quy định tại Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008 của Chính phủ về quản lý, kinh doanh dịch vụ bảo vệ, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ (được thành lập, đăng ký kinh doanh dịch vụ bảo vệ theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp) cũng được phép trang bị công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ. Cụ thể, Điều 7 Nghị định số 52/2008/NĐ-CP quy định:

1. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ được trang bị công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ theo quy định.

2. Bộ Công an hướng dẫn cụ thể về số lượng, chủng loại công cụ hỗ trợ; thủ tục, thẩm quyền trang bị, quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ.

Tại Điều 1 Mục V Thông tư số 45/2009/TT-BCA (C11) ngày 14/7/2009 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 52/2008/NĐ-CP về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ quy định: “Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ được trang bị các loại công cụ hỗ trợ: gậy cao su, gậy sắt, roi cao su, roi điện”. Thủ tục đề nghị cấp giấy phép mua công cụ hỗ trợ, giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ; việc quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ được thực hiện theo quy định tại Mục V Thông tư này. Như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ cũng chỉ được sử dụng hạn chế một số loại công cụ hỗ trợ bao gồm: gậy cao su, gậy sắt, roi cao su, roi điện.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành bạn không thể mua, trang bị bình xịt hơi cay để phòng thân được. Hành vi này còn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

3. Ông Nguyễn Huy Hùng, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cổ đông trong công ty cổ phần có quyền triệu tập họp Đại hội cổ đông hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 77 Luật Doanh nghiệp thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:

a) Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;

b) Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu thay thế;

c) Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty.

Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng cổ đông phải được lập bằng văn bản và phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty, căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông. Kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của Hội đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền./.

 


 

Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 04 tháng 03 năm 2014

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc trú tại xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng hỏi: Những trường hợp vi phạm hành chính nào thì bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn? Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức vi phạm có được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức vi phạm không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

 Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:

- Đình chỉ một phần hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;

- Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, thời hạn đình chỉ hoạt động đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

2. Ông Trần Đại Thắng, trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Do có mâu thuẫn với các anh tôi nên trước khi chết bố tôi có để lại toàn bộ tài sản thừa kế là một ngôi nhà trị giá 300 triệu đồng cho tôi nhưng việc thừa kế này sẽ gây ra sự chia rẽ, sứt mẻ tình cảm anh em trong nhà nên tôi không muốn nhận. Vậy tôi có thể từ chối nhận di sản thừa kế của bố tôi để lại hay không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 642 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

Pháp luật chỉ có trừ trường hợp việc từ chối nhận di sản nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác thì không được từ chối nhận di sản. Do đó, nếu bạn không muốn nhận toàn bộ di sản thừa kế của bố bạn thì bạn hoàn toàn có quyền từ chối nhận di sản trên.

Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế bạn phải thực hiện các thủ tục để từ chối nhận di sản. Nếu quá thời hạn này mà bạn không có từ chối nhận di sản thì bạn đương nhiên được coi là đồng ý nhận di sản thừa kế.

Việc từ chối nhận di sản sản phải được lập thành văn bản; bạn phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế, về việc từ chối nhận di sản.

3. Bà Nguyễn Thị Hồng, trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi làm việc tại một công ty ở Bắc Ninh đã được 4 năm theo hợp đồng không xác định thời hạn, nhưng đến ngày 30/11/2012 tôi bị công ty ra quyết định chấm dứt HĐLĐ mà không rõ nguyên nhân vi phạm. Xin hỏi, công ty ra quyết định như thế là đúng hay sai? Quyền và lợi ích của tôi được đảm bảo như thế nào?

Trả lời

Theo những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo quy định của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) với người lao động trong những trường hợp được quy định tại khoản 1, điều 38 Bộ luật lao động như sau:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

b) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật này;

c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;

d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.

Như vậy, trường hợp của chị không thuộc vào những trường hợp mà người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Bên cạnh đó pháp luật quy định khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp tại Điều 38 phải tuân thủ thời hạn báo trước như sau (khoản 3, điều 38): Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm; ít nhất 03 ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.

Trong trường hợp của chị đã làm việc được 4 năm, Hợp đồng lao động ký với công ty là không xác định thời hạn thì nếu muốn chấm dứt HĐLĐ với chị thì công ty phải báo trước cho chị ít nhất là 45 ngày

 Việc Công ty chấm dứt HĐLĐ với chị mà không có bất cứ 1 lý do gì, (không rõ nguyên nhân). Như vậy, căn cứ vào điều 38 và 85 BLLĐ là không đúng quy định. Vì công ty đã ra quyết định chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật với chị nên căn cứ vào điều 41 Bộ luật lao động, quyền và lợi ích của chị sẽ được giải quyết như sau: “Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việcphải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày người lao động không được làm việc. Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật này (khoản 1, Điều 41 BLLĐ).

Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ 01 năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc bằng nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có (khoản 1, Điều 42 BLLĐ)./.

Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 25 tháng 02 năm 2014

 

 

1. Ông Hoàng Văn Thi Trú tại  khối 2, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Một người có hành vi vi phạm hành chính là buôn lậu, chống người thi hành công vụ và hủy hoại tài sản, thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan khác nhau thì cơ quan nào có thẩm quyền xử phạt?

 

Trả lời:

 

Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính  được quy định tại Điều 52 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo đó:

 

- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những người được quy định tại các điều từ Điều 38 đến Điều 51 của Luật xử lý vi phạm hành chính là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính đối với chức danh đó.

 

Trong trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành do Chính phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định áp dụng trong nội thành.

 

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý. Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

 

- Trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc sau đây:

 

+ Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

 

+ Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;

 

+ Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

 

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Hành vi môi giới mại dâm có thể bị xử lý trách nhiệm hình sự như thế nào?

 

Trả lời:

 

Môi giới mại dâm là hành vi của người làm trung gian để tổ chức, móc nối, dụ dỗ, dẫn dắt các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.

 

Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) hành vi môi giới mại dâm có thể bị xử lý hình sự như sau:

 

1. Người nào dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mại dâm thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm:

 

a) Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

 

b) Có tổ chức;

 

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

 

d) Phạm tội nhiều lần ;

 

đ) Tái phạm nguy hiểm;

 

e) Đối với nhiều người;

 

g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

 

a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

 

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng.”

 

3. Ông Nguyễn Hồng Quân, trú tại xã Hữu Lễ, huyện Lộc Bình hỏi: Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của cá nhân được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời

 

Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể của cá nhân được quy định tại Điều 32 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

 

- Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể.

- Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện có để cứu chữa.

 

- Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.

 

- Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp:

 

+ Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;

 

+ Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;

 

+ Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết.


Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 18 tháng 02 năm 2014

 


1. Bà Trần Thị Thịnh, trú tại thôn Bản Lầy, xã Xuân Lễ, huyện Lộc Bình hỏi: Người được bầu làm hòa giải viên của tổ hòa giải ở thôn, bản thì phải có điều kiện gì, thủ tục bầu và công nhận như thế nào. Khi hòa giải thì phải tuân theo các nguyên tắc gì?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở có hiệu lực từ 01/01/2014 thì Người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây: Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật.

 

Về thủ tục bầu, công nhận hòa giải viên: Người có đủ tiêu chuẩn nêu trên có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.

 

Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức sau đây: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

 

Kết quả bầu hòa giải viên: Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý. Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo đặc điểm tình hình dân số, kinh tế, xã hội của địa phương thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp. Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng. Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

 

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Về Nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở: Khi hòa giải thì Hòa giải viên phải tuân theo các nguyên tắc sau:

 

1. Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở.

 

2. Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.

 

3. Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật này.

 

4. Tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

 

5. Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

 

6. Không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự.

 

2. Bà Hà Thị Lài, trú tại thôn Mai Thành, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Con tôi là công nhân lao động có đóng BHXH bị tai tạn giao thông, cơ quan có thẩm quyền xác định con tôi có vi phạm giao thông dẫn đến tai nạn. Vậy con tôi co được Bảo hiểm xã hội thanh toán chi phí khám chữa bệnh không?

 

Trả lời: .

 

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 39/2011/TTLT-BYT-BTC 11 tháng 11 năm 2011 của Liên Bộ Y tế, Tài chính quy định về hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia bảo hiểm y tế bị tai nạn giao thông thì trường hợp:

 

Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp có vi phạm pháp luật về tai nạn giao thông được hướng dẫn như sau: Khi có đủ căn cứ xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do hành vi vi phạm pháp luật về giao thông của người bị tai nạn gây ra, cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thanh toán như sau:

 

1. Trường hợp người bị tai nạn còn đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: cơ quan Bảo hiểm xã hội thông báo trực tiếp cho cho người bị tai nạn hoặc thân nhân của người bị tai nạn (cha, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con đẻ từ 18 tuổi trở lên) biết về việc người bị tai nạn đã vi phạm pháp luật về giao thông và không được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

 

2. Trường hợp người bị tai nạn đã ra viện: cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thu hồi chi phí khám bệnh, chữa bệnh mà quỹ Bảo hiểm y tế đã thanh toán theo quy định tại Điều 5 Thông tư này.

 

3. Trường hợp người bị tai nạn tử vong: cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thanh quyết toán các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnh với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế (không thu hồi chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã thanh toán đối với trường hợp này).

 

3. Ông Nguyễn Văn Thức, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc đưa tin của cơ quan báo chí, nhà báo về phòng, chống tham nhũng được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 12 Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng thì việc đưa tin của cơ quan báo chí, nhà báo về phòng, chống tham nhũng được quy định như sau:

 

1. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền đưa tin phản ánh về vụ việc tham nhũng và hoạt động phòng, chống tham nhũng. Khi đưa tin về vụ việc tham nhũng, người có hành vi tham nhũng, cơ quan báo chí, nhà báo phải đưa tin trung thực, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đưa tin đó.

 

Cơ quan báo chí phát hiện hoặc nhận dược tố cáo của công dân về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì phải báo ngay cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân bằng văn bản. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thụ lý và trả lời cho báo chí cách giải quyết. Cơ quan báo chí có quyền đưa tin về vụ việc có dấu hiệu tham những từ các thông tin, tài liệu mà mình có được và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin được đăng tải trên báo chí.
 

Trường hợp có căn cứ cho rằng kiến nghị, phản ánh, tin, bài, tố cáo của công dân về vụ việc tham nhũng không có cơ sở thì cơ quan báo chí thông báo cho công dân về việc không đưa tin và nêu rõ lý do.
 

2. Tổng biên tập, nhà báo chịu trách nhiệm về việc đưa tin và chấp hành pháp luật về báo chí, đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động báo chí.
 

 3. Cơ quan báo chí, nhà báo không được đưa tin về những vụ việc không có căn cứ rõ ràng; đưa tin sai sự thật; phương hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích của tổ chức, cá nhân, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của công dân; không được tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và các thông tin khác theo quy định của pháp luật.
 

4. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền và nghĩã vụ từ chối tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo, người cung cấp thông tin về vụ việc tham những, về người có hành vi tham nhũng nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên để phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử.
 

5. Khi đưa tin trên báo chí về vụ việc có dấu hiệu tham những, cơ quan báo chí, nhà báo đưa tin sai sự thật phải cải chính, xin lỗi theo quy định của pháp luật về báo chí. Nếu lợi dụng quyền thông tin báo chí để xuyên tạc, vu khống thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

 

Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 11 tháng 02 năm 2014

 

1. Ông Hòang Đình Dũng, trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi: Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các tình tiết nào là tình tiết tăng nặng, tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ?

 

Trả lời:

 

Theo quy định Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các tình tiết giảm nhẹ như sau:
 

1. Người vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;
 

2. Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính;

3. Vi phạm hành chính trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
 

4. Vi phạm hành chính do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;

5. Người vi phạm hành chính là người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

6. Vi phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;

7. Vi phạm hành chính do trình độ lạc hậu;
 

8. Những tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ quy định.
 

Bên cạnh đó tại Khoản 5 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, phụ nữ mang thai, người già yếu vi phạm pháp luật hành chính được coi là tình tiết giảm nhẹ.
 

*Về tình tiết tăng nặng: Khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các tình tiết sau là tình tiết tăng nặng:
 

a) Vi phạm hành chính có tổ chức;
 

b) Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm;
 

c) Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện hành vi vi phạm hành chính;
 

d) Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm hành chính;
 

đ) Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; vi phạm hành chính có tính chất côn đồ;
 

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hành chính;
 

g) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm hành chính;
 

h) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính;
 

i) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
 

k) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính;
 

l) Vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;
 

m) Vi phạm hành chính đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai.
 

Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 10 cũng quy định: Tình tiết quy định trên đã được quy định là hành vi vi phạm hành chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

 

2. Bà Hoàng Thị Phước, trú tại xã Yên Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: Em gái tôi đã lấy chồng, về bên chồng được một thời gian, cuộc sống không hạnh phúc, nay muốn xác nhận tình trạng hôn nhân để lấy chồng mới. Tôi đến ủy ban xã xác nhận thì cán bộ cho rằng tôi không làm thay được, yêu cầu em tôi đến để làm thủ tục và phải làm cam đoan về việc chưa đăng ký kết hôn với ai và chịu trách nhiệm với lời cam đoan đó. Cho tôi hỏi cán bộ hướng dẫn như vậy có đúng không?

 

Trả lời:

 

Thứ nhất: Đối với vấn đề thay em bạn làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho em bạn.
 

Theo quy định của Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về Hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực tại Điều 1 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch thì: “Người có yêu cầu đăng ký hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con) hoặc yêu cầu cấp các giấy tờ về hộ tịch mà không có điều kiện trực tiếp đến cơ quan đăng ký hộ tịch, thì có thể ủy quyền cho người khác làm thay. Việc ủy quyền phải bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực hợp lệ.

Nếu người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền, thì không cần phải có văn bản ủy quyền, nhưng phải có giấy tờ chứng minh về mối quan hệ nêu trên.”

Như vậy bạn là anh/chị ruột của em bạn thì hoàn toàn có thể được em bạn ủy quyền làm thay thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho em bạn tại Ủy ban nhân dân xã mà không cần giấy tờ ủy quyền, tuy nhiên, bạn cần có giấy tờ chứng minh cho cán bộ tư pháp - hộ tịch của xã là mình là chị ruột của em bạn, ví dụ: sổ hộ khẩu của gia đình hoặc giấy tờ chứng minh khác.

 

Thứ hai: Đối với việc yêu cầu em bạn làm cam đoan về việc chưa đăng ký kết hôn với ai và phải chịu trách nhiệm về lời cam đoan đó.
 

Trong quá trình làm thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì theo quy định của mục 20 Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về Hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực thì:“Người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ, có chồng, nhưng đã ly hôn … thì phải xuất trình trích lục Bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn …”

Do đó, trong trường hợp của em bạn, nếu đã kết hôn và ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì em bạn phải xuất trình trích lục Bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc đã ly hôn; nếu em bạn không có giấy tờ chứng minh nói trên và Ủy ban nhân dân xã cũng không rõ về tình trạng hôn nhân của em bạn thì em bạn phải viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình và phải chịu trách nhiệm về việc cam đoan này.
 

Như vậy, về cơ bản cán bộ Tư pháp – hộ tịch hướng dẫn em bạn phải hoàn tất hồ sơ xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho mình và đến nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân xã kèm theo bản cam đoan và chịu trách nhiệm về cam đoan của mình là hoàn toàn có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp không đến nộp hồ sơ trực tiếp được thì bạn có thể nộp thay và phải xuất trình giấy tờ hợp lệ theo hướng dẫn nêu trên.


Trả lời bạn nghe Đài
thứ ba, ngày 04 tháng 02 năm 2014

1. Bạn Hoàng Trọng Nghĩa, trú tại khu ga Bắc, thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Trường hợp trong hộ gia đình có thành viên bị câm, không biết gì, không có chứng minh thư, không có khả năng thực hiện việc ký, điểm chỉ khi công chứng việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cùng các thành viên trong hộ thì phải làm thế nào?

 

 

Trả lời:

 

Trong trường hợp của bạn, phải xác định được thành viên đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hay đã mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

 

 

1. Trường hợp thứ nhất: người đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

 

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

 

Căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp thì trường hợp của bạn có thể được giải quyết như sau:

 

* Việc người đó không có chứng minh nhân dân: Khi yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng/sở hữu tài sản thì người yêu cầu công chứng phải nộp giấy tờ tùy thân (theo Điều 35 Luật Công chứng). Giấy tờ tùy thân là Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu. Như vậy, thành viên trong hộ gia đình của bạn phải xin cấp chứng minh nhân dân hoặc có thể dùng hộ chiếu để thay thế.

 

* Việc người đó bị câm, không ký, điểm chỉ được:

 

Theo Điều 9 Luật Công chứng: Trong trường hợp pháp luật quy định việc công chứng phải có người làm chứng hoặc trong trường hợp pháp luật không quy định việc công chứng phải có người làm chứng nhưng người yêu cầu công chứng không đọc được hoặc không nghe được hoặc không ký và không điểm chỉ được thì phải có người làm chứng.

 

Như vậy, gia đình bạn có thể mời người làm chứng trong việc lập và ký hợp đồng công chứng. Người làm chứng phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

- Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

- Không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ về tài sản liên quan đến việc công chứng.

 

 

2. Trường hợp thứ hai: người đó mất năng lực hành vi dân sự

 

Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định (Điều 22 Bộ luật Dân sự).

 

Trường hợp của bạn nêu, nếu người đó không có khả năng nhận thức thì gia đình có thể yêu cầu Tòa tuyên người đó mất năng lực hành vi dân sự; và cử người giám hộ.  (theo Điều 319 Bộ luật Tố tụng dân sự)

 

* Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.

 

* Đơn yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có đủ các nội dung: Ngày, tháng, năm viết đơn; Tên Toà án có thẩm quyền giải quyết đơn; Tên, địa chỉ của người yêu cầu; Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó; Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có; Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu; Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

 

* Kèm theo đơn yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự phải có kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

 

Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong quyết định tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Toà án phải quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

 

Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên thành viên trong hộ gia đình của bạn mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện của người đó (do Tòa chỉ định) sẽ cùng các thành viên khác của hộ gia đình thực hiện các thủ tục để chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

2. Bà Hoàng Thị Hà, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi có con với một người nhưng chưa đăng ký kết hôn. Xin hỏi, cha của đứa bé muốn tặng nhà, đất cho tôi thì phải làm những thủ tục gì, có được miễn thuế thu nhập cá nhân không?

 

Trả lời:

 

Căn cứ theo Luật Đất đai và Luật Công chứng thì thủ tục tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm các bước sau:

 

* Công chứng Hợp đồng tặng cho/chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Người cho và người nhận phải đến Phòng Công chứng số 1 hoặc Văn phòng công chứng để thực hiện. Hồ sơ yêu cầu công chứng bao gồm: Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu; Dự thảo hợp đồng (nếu có); Bản sao giấy tờ tuỳ thân; Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng mà pháp luật quy định phải có.

 

Sau khi nộp phí công chứng và thù lao công chứng tại tổ chức công chứng nơi bà yêu cầu công chứng thì bà sẽ được nhận hợp đồng tặng cho/chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng nhận của tổ chức công chứng để tiến hành thủ tục đăng ký sang tên bạn theo quy định của pháp luật.

 

* Đăng ký sang tên bạn trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

Sau khi công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, bà có thể mang hợp đồng đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi có đất. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì có thể nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

 

- Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy tờ khác, như chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai bên…

 

- Thủ tục: Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp các bên chuyển nhượng/bên nhận tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính đó được xác định theo số liệu địa chính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho các bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ tài chính. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính (nếu có), các bên tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ.

 

 

Lưu ý:

 

Khoản 2 Điều 23 Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định: thuế suất đối với thu nhập từ việc tặng cho bất động sản là 10% giá trị tài sản; đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản là 2%. Hơn nữa, bà và người cha của con bà chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn nên về mặt pháp lý, hai người không phải là vợ chồng nên không thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 28 tháng 01 năm 2014


1. Ông Hà Trí Bảo, trú tại xã Hoàng Đồng, tp Lạng Sơn hỏi: Tôi là tài xế lái xe taxi. Trong 1 lần chở khách xe của tôi bị một xe khác đi ngược chiều đâm vào, hậu quả là hành khách trên xe của tôi bị thương và xe tôi bị hư hỏng (xe của tôi đi đúng làn đường và đúng tốc độ). Sau khi gây ra tai nạn chiếc xe kia đã bỏ chạy. Vậy tôi muốn hỏi tài xế của chiếc xe gây tai nạn rồi bỏ chạy kia sẽ bị xử lí như thế nào?

 

 

Trả lời

 

Hành vi đi ngược chiều đâm vào xe taxi làm hành khách bị thương và xe taxi bị hư hỏng và sau khi gây ra tai nạn bỏ trốn thì tùy vào mức độ thiệt hại cho sức khỏe của hành khách ngồi trên xe taxi và xe taxi của bạn mà người lái xe kia có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự hoặc chỉ phải chịu xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 về Xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và Nghị định 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 về Xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Cụ thể:

 

- Nếu thiệt hại đối với hành khách ngồi trên xe taxi và xe taxi được cơ quan có thẩm quyền xác định là gây thiệt hại nghiêm trọng và với tình tiết sau khi gây tai nạn rồi bỏ trốn thì người lái xe này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định theo điểm c khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 và sẽ phải chịu áp dụng hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội, cụ thể:

 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

 

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

 

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

 

 

 

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

 

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

 

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

- Ngược lại, nếu thiệt hại đối với hành khách ngồi trên xe taxi và xe taxi được cơ quan có thẩm quyền xác định là gây thiệt hại chưa hoặc ít nghiêm trọng thì tùy thuộc vào hành vi vi phạm cụ thể về an toàn giao thông đường bộ mà người lái xe này chỉ phải chịu xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định 34/2010/NĐ-CP: “Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm đối hành vi: Đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi ngược chiều của đường một chiều; trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định”.

 

Bên cạnh đó, cho dù ở vi phạm ở mức độ nào thì người lái xe trên cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 cho hành khách trên xe taxi và và cho chủ xe taxi bị hỏng.

 

 

 

 

2. Bà Hà Kiều Anh, trú tại phường Chi Lăng, tp Lạng Sơn hỏi: Trong khối tôi vừa qua có xảy ra vụ trộm cắp tài sản trị giá gần 50 triệu đồng. Cơ quan công an đã xác định kẻ lấy cắp và xử lý theo pháp luật. Tuy nhiên kẻ tiêu thụ tài sản lại không bị xử lý. Tôi muốn hỏi kẻ tiêu thụ tài sản đó có vi phạm pháp luật hay không?

 

 

Trả lời:

 

Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 5  triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6  tháng đến 3  năm”.

 

Theo đó, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Trong đó, tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là tài sản đang được một người chiếm hữu không hợp pháp và tài sản đó là đối tượng của tội phạm mà họ thực hiện trước đó như tội phạm thuộc nhóm tội chiếm đoạt tài sản (trong tình huống này là tội trộm cắp tài theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc tội phạm khác. Hành vi tiêu thụ tài sản được hiểu là những hành vi có tính chất dịch chuyển tài sản từ người có tài sản do phạm tội sang người khác như hành vi mua, tạo điều kiện để bán hoặc để trao đổi tài sản đó. Bên cạnh đó, hành vi phạm tội tiêu thụ tài sản có đặc điểm trên chỉ cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có khi không có sự hứa hẹn trước. Nếu có sự hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ, thu mua tài sản trộm cắp thì hành vi của người tiêu thụ là hành vi của một đồng phạm với tội trộm cắp tài sản với vai trò là người giúp sức người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

 

Như vậy, việc bạn hỏi nếu kẻ thu mua tài sản do trộm cắp biết rõ tài sản có được là do trộm cắp, đã có sự chào giá, hứa hẹn trước sẽ thu mua tài sản do người trộm cắp có được sau khi thực hiện hành vi trộm cắp là chính xác thì hành vi của người thu mua tài sản này có thể là hành vi đồng phạm với vai trò là người giúp sức trong vụ án trộm cắp tài sản trên với người trộm cắp theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Và ngược lại kẻ thu mua tài sản do trộm cắp mà có này có sự chào giá, thu mua tài sản do trộm cắp mà có nhưng không có sự hứa hẹn trước thì hành vi của người này phạm Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định của Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999. Còn đối với trường hợp mặc dù người mua có chào giá trước nhưng không hề biết tài sản mình mua là do trộm cắp mà có, trường hợp này chỉ là một giao dịch dân sự đơn thuần, hành vi của người mua không phải là hành vi vi phạm pháp luật. Khi phát hiện tài sản thực hiện trong giao dịch là tài sản do trộm cắp thì giao dịch dân sự đó sẽ vô hiệu, và các bên phải trả lại nhau những gì đã trao.

 

Bên cạnh đó, nếu bạn có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của người tiêu thụ tài sản nói trên, bạn nên trình báo cơ quan công an để làm rõ, giải quyết và trừng trị người phạm tội.

 

3. Ông Phan Văn Đức, trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Nếu một công nhân làm việc với hợp đồng không thời hạn, do hoàn cảnh gia đình nên nghỉ làm không báo trước được chỉ kip đưa đơn trước 2 ngày sau đó người này nghỉ việc, thì người này có bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng  trái luật không và có được hưởng chế độ nghỉ việc không?

 

 

Trả lời

 

Để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người lao động chỉ phải tuân thủ các quy định về thời hạn báo trước theo quy định tại Khoản 3 Điều 37 của Bộ luật Lao động năm 2012 như sau: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

 

Nếu người lao động tuân thủ đúng thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 thì được coi là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp. Nếu tuân thủ không đúng thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 thì được coi là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

 

Ngoài ra, Điều 43 có quy định về nghĩa vụ của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

 

 

 

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

 

 

 

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

 

 

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

 

Theo như bạn trình bày, người lao động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn và người lao động mới chỉ báo trước được 02 ngày sau đó nghỉ việc do gia đình có việc. Căn cứ vào quy định về thời hạn báo trước, trong trường hợp này, người lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật do vi phạm về thời hạn báo trước nên không được hưởng trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động khỏan tiền lương của những ngày người lao động đã nghỉ không báo trước.

 

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý riêng đối với trường hợp lao động nữ mang thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không phải tuân thủ thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 nói trên. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai quy định tại Điều 156 như sau: “Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.”/.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 21 tháng 01 năm 2014

 

1. Bạn Trần Anh Tuấn, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi muốn làm lại giấy kết hôn và đã đến UBND phường nơi đăng ký xin cấp lại nhưng tên của tôi trong giấy kết hôn và chứng minh nhân dân không khớp. Hiện giờ tôi không còn giữ giấy khai sinh nên không có căn cứ để sửa đổi tên gọi cho phù hợp. Vậy tôi phải làm thế nào để xác thực tên của mình?

 

Trả lời

 

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch đã nêu rõ: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó. Do đó, khi tên của bạn trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và chứng minh nhân dân là khác nhau thì cần phải xác định tên chính xác theo Giấy khai sinh của bạn. Nếu bạn đã làm mất Giấy khai sinh thì tùy từng trường hợp, bạn có thể xin cấp lại bản chính Giấy khai sinh hoặc làm thủ tục đăng ký lại việc sinh theo hướng dẫn tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

 

* Trường hợp xin cấp lại bản chính giấy khai sinh:

 

Khoản 1 Điều 62 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP nêu: Trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh bị mất, hư hỏng hoặc phải ghi chú quá nhiều nội dung do được thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch hoặc điều chỉnh hộ tịch mà Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ được, thì được cấp lại bản chính Giấy khai sinh.

 

Theo đó, bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh để xin cấp lại bản chính Giấy khai sinh; nếu tại đây còn lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh thì cán bộ đăng ký sẽ làm thủ tục cấp bản chính Giấy khai sinh cho bạn theo thủ tục hướng dẫn tại Điều 63 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

 

* Trường hợp đăng ký lại việc sinh:

 

Nếu cả bản chính giấy khai sinh và sổ hộ tịch đều đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được thì bạn được đăng ký lại việc sinh (theo Điều 46 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP). Bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi bạn cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh trước đây để thực hiện việc đăng ký lại. Thủ tục đăng ký lại thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 48 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, cụ thể như sau:

 

- Bạn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định).

 

Trong trường hợp đăng ký lại tại Ủy ban nhân dân cấp xã, không phải nơi bạn đã đăng ký hộ tịch trước đây, thì Tờ khai phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký hộ tịch về việc đã đăng ký; trừ trường hợp đương sự xuất trình được bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây.

 

- Khi nhận hồ sơ hợp lệ, cán bộ tư pháp hộ tịch sẽ làm thủ tục cấp bản chính giấy khai sinh “Đăng ký lại” cho bạn.

 

Về việc xác định tên của bạn khi không còn bản chính và bản sao giấy khai sinh đã cấp trước đây: Nếu hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.

 

2. Bạn Vũ Thanh Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất năm 2012 khi chưa đăng ký kết hôn. Năm 2013 tôi đăng ký kết hôn, sau đó tôi và chồng đã tiến hành công chứng văn bản sáp nhập tài sản riêng của tôi vào sản chung với với chồng. Vậy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của tôi được cấp năm 2012 có bị thu hồi lại không?

 

 

Trả lời:

 

Sau khi bạn và chồng thực hiện công chứng Văn bản thỏa thuận để nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung (theo khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình) thì 2 vợ chồng phải tiến hành thủ tục theo quy định của Luật Đất đai, Luật Nhà ở và văn bản hướng dẫn để đăng ký quyền sử dụng/sở hữu tại Văn phòng đăng ký đất và nhà thuộc Phòng tài nguyên và môi trường huyện, thành phố nơi có bất động sản. Khi làm thủ tục đăng ký sang tên quyền tài sản thì bạn và chồng phải nộp bộ hồ sơ gồm: Đơn đăng ký; Giấy chứng nhận mà cơ quan thẩm quyền đã cấp cho bạn; Văn bản thỏa thuận tài sản; giấy tờ nhân thân của hai vợ chồng…. Việc đăng ký quyền tài sản có thể thực hiện theo hai hình thức:

 

- Thứ nhất: Cơ quan có thẩm quyền sẽ đăng ký biến động tại trang 3 hoặc trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đã cấp cho bạn, nội dung: Tài sản thuộc quyền sử dụng/sở hữu của chồng bạn và bạn theo Văn bản thỏa thuận tài sản số công chứng bao nhiêu do tổ chức công chứng nào lập. Theo hình thức này thì Giấy chứng nhận đã cấp cho bạn sẽ không phải thu hồi lại nhưng đã được đăng ký biến động nên căn cứ vào giấy chứng nhận đó sẽ xác định được quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở là tài sản chung của 2 vợ chồng bạn.

 

- Thứ hai: Cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp cho 2 vợ chồng bạn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mới căn cứ vào văn bản thỏa thuận tài sản sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung vợ chồng của bạn. Giấy chứng nhận cũ sẽ bị thu hồi. Khi vợ chồng bạn hoàn thành nghĩa vụ tài chính thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp cho vợ chồng bạn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mới (mang tên hai vợ chồng bạn).

 

3. Ông Phan Văn Thuật, trú tại xã Bằng Khánh, huyện Lộc Bình hỏi: Người 17 tuổi phạm tội trộm cắp nhưng không gây thiệt hại lớn thì bị tạm giam bao lâu, nếu hết thời hạn có được gia hạn tạm giam thêm không và có thông báo cho gia đình biết không?

 

Trả lời:

 

Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về việc Bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội cụ thể như sau:

 

1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

 

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

 

3. Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam.

 

Như vậy, theo quy định trên thì cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, đối với việc gia hạn thêm thời hạn tạm giam thì việc thông báo đến gia đình, người đại điện hợp pháp của bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc cả đối với người đã thành niên, chưa được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định cụ thể. Nhưng về mặt nguyên tắc mọi quyết định liên quan đến người chưa thành niện phạm tội đều phải được thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ, tạo điều kiện cho những người này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên. Gia đình bạn có thể yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp các thông tin cần thiết về việc tạm giam, cũng như ra quyết định ra hạn tạm giam theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 14 tháng 01 năm 2014

 

1. Ông Hoàng Thế Anh, trú tại xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi: Em tôi bị đánh thương tích 19% vụ án đã được tòa án huyện xét xử, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe, viện phí. Nhưng đến nay đã 6 tháng bị cáo vẫn chưa bồi thường. Vậy, em tôi phải làm gì để được thi hành án.

 

Trả lời 

 

Theo điểm a khoản 2 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự,  Bản án, quyết định về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với trường hợp của gia đình ông, sau khi có bản án, quyết định của tòa án thì bị đơn dân sự phải thi hành ngay bản án, quyết định đó, tức là phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho em ông.

 

Gia đình ông có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án (đơn yêu cầu có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện) hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án nêu rõ nội dung yêu cầu và các thông tin liên quan đến việc thi hành án (Điều 32 Luật Thi hành án dân sự). Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

 

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

 

b) Tên cơ  quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

 

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

 

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

 

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

 

Người làm  đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Gia đình ông có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự (Phong toả tài khoản; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản). 

 

Thời hạn tự  nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (theo khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự); sau thời gian này mà đương sự không tự nguyện thi hành án thì gia đình ông yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế (theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự).

 

 2. Bạn Nguyễn Mai Lan, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp bố mẹ bỏ mặc không chăm sóc con cái và thường xuyên quậy phá, quấy nhiễu các thành viên khác trong gia đình thì cơ quan nào có thẩm quyền xử lý?

 

Trả lời:

 

Hành vi trên có dấu hiệu vi phạm các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trái đạo đức xã hội. Trước hết, anh bạn vi phạm nghĩa vụ của người cha đối với các con. Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định:

 

- Cha mẹ  có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

 

-        

Cha mẹ  không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái  đạo đức xã hội.

-        

 

Bên cạnh đó, anh trai bạn còn vi phạm nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau:

 

- Con có  bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

 

- Con có  nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

 

-        

Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

-        

 

Trước những hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức trên, các thành viên trong gia đình có thể thực hiện các biện pháp sau:

 

+ Gửi đơn đến tòa án để yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình (nếu các cháu của bạn (con của anh trai) là người chưa thành niên). Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền đối với con chưa thành niên được quy định tại 43 Luật Hôn nhân và gia đình.           

 

+ Khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình của anh trai bạn. Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình thì: Người nào hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo đó, gia đình bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành vi của anh trai bạn theo quy định của pháp luật. 

 

3. Bạn Nguyễn Thúy Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Bà ngoại bên nam và bà ngoại bên nữ là 2 chị em ruột. Vậy hai bên nam, nữ này kết hôn với nhau có vi phạm pháp luật không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Hôn nhân gia và đình thì pháp luật Việt Nam cấm kết hôn “giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.”

 

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ  nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba theo quy định tại khoản 13 Điều 8 Luật Hôn nhân gia và đình và điểm c.3 mục 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

 

Như vậy, trường hợp của bạn được hiểu như sau: Cha mẹ của bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ nhất. Bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ hai. Cha hoặc mẹ hai bên nam nữ là đời thứ 3. Do đó hai bên nam, nữ là đời thứ 4 nên không vi phạm vào khoản 3 Điều 10 nói trên. Do đó 2 bạn có thể kết hôn được với nhau nếu thỏa mãn những điều kiện khác tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 07 tháng 01 năm 2014
      

1. Ông Hoàng Văn Thức trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi trốn thuế ở mức bao nhiêu tiền thì bị khởi tố hình sự về Tội trốn thuế?

 

Trả lời:

 

Tội trốn thuế là hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng, tội trốn thuế đã được sửa đổi về số tiền trốn thuế trong Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 so với bộ luật hình sự 1999, với hình phạt nghiêm khắc nhất là 07 năm tù và phạt tiền gấp 03 lần số tiền trốn thuế.

 

Điều 161 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về Tội trốn thuế như sau:

 

1. Người nào trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 01 lần đến 05 lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

 

2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ 01 lần đến 05 lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ 6  tháng đến 03 năm.

 

3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ 600 triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07  năm.

 

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 01 lần đến 03 lần số tiền trốn thuế.” 

 

2. Bà Nguyễn Hải Anh. Trú tại khu Dây Thép, thị trấn Đồng Đăng hỏi: Tôi muốn gửi đơn ra tòa đề nghị giải quyết thuận tình ly hôn nhưng chồng tôi ở nước ngoài không về được nước được, vậy chồng tôi đề nghị tòa giải quyết vắng mặt có được không?

 

Theo quy định tại Điều 85 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” và “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn”. Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;

 

b) Đời sống chung không thể kéo dài;

 

c) Mục đích của hôn nhân không đạt.

 

Về thủ tục giải quýêt ly hôn tại toà án Việt Nam, theo quy định thủ tục này được tiến hành dựa trên yêu cầu của đương sự là thuận tình ly hôn hay đơn phương xin ly hôn. Vì vậy có 2 trường hợp:

 

1. Nếu vợ chồng thuận tình ly hôn, thì điều kiện tiến hành xin công nhận thuận tình ly hôn tại Việt Nam bao gồm: Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con (cần lưu ý sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con).

 

Trường hợp các bên chỉ tranh chấp một trong các vấn đề về tài sản, nuôi con, tình cảm.. Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp theo thủ tục chung.   

 

Theo đó, thủ tục thuận tình ly hôn được tiến hành theo các bước sau:

 

- Bước 1: nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng;

 

- Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho đương sự

 

- Bước 3:  nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

 

- Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải.

 

- Bước 5: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành (không thay đổi quyết định về việc ly hôn) nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

 

Hồ sơ xin công nhận thuận tình ly hôn gồm có các giấy tờ sau đây:

 

- Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn (theo mẫu của từng Tòa);

 

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

 

- Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao);

 

- Giấy khai sinh của con (bản sao - nếu có);

 

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như:

 

GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao);

 

Do đó, nếu muốn ly hôn tại Việt Nam, bà phải thực hiện các thủ tục theo quy định tại khoản 3 Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2005), đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng, cụ thể là: người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.

Như vậy, chồng bà bắt buộc phải về Việt Nam để thực hiện các thủ tục xin ly hôn và tham gia phiên toà xử ly hôn mà không thể yêu cầu toà án xử vắng mặt được.

 

3. Bà Hà Thị Huệ, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Gia đình tôi có 4 người con: 2 trai và 2 gái, các con đã lập gia đình và có nhà cửa đất đai. Nay tôi muốn lập di chúc cho người con trai thứ thì cách lập di chúc hợp pháp như thế nào?

 

Trả lời:


Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự:

 

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

 

- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

 

Khi lập di chúc, bác có thể lựa chọn một trong các hình thức sau:

 

 

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

 

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Người làm chứng cho việc lập di chúc có thể bất kỳ người nào, trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự);

 

- Di chúc bằng văn bản có công chứng;

 

- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

 

Trong di chúc, cần thể hiện rõ các nội dung nêu tại Điều 653 Bộ luật Dân sự, cụ thể như sau:

 

Ngày, tháng, năm lập di chúc;

 

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

 

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

 

- Di sản để lại và nơi có di sản;

 

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

 

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc./.

 


Trả lời bạn nghe Đài
 Thứ ba, ngày 31 tháng 12 năm 2013
         

1. Ông Hà Văn Quang, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Người phạm tội có những điều kiện gì thì được Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là bao lâu?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP 06 tháng 11 năm 2013 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự về án treo thì:  Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù.
 

1. Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
 

a) Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự;
 

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.
 

Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:
 

- Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
 

- Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
 

- Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
 

- Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;
 

- Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
 

- Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
 

- Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
 

- Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
 

- Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
 

- Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;
 

- Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;
 

c) Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;
 

d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
 

Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999”;
 

đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng.
 

2. Về Ấn định thời gian thử thách: Khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, Toà án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 1 năm và không được quá 5 năm.
 

2. Bà Hoàng Thị Hằng, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của học sinh và nhà giáo; người tổ chức hoạt động dạy học thêm khi chưa được cấp phép và cơ sở giáo dục thu sai học phí thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ Nghị định 138/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục thì:

1. Đối với vi phạm quy định về chính sách đối với nhà giáo hoặc hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục:
 

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với nhà giáo.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.

2. Đối với hành vi phạm quy định về kỷ luật người học, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người học

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi kỷ luật buộc người học thôi học không đúng quy định.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối vi hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, ngược đãi, xâm phạm thân thể người học.

- Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ giảng dạy từ 1 tháng đến 6 tháng đi với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này.

- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hủy bỏ các quyết định trái pháp luật và khôi phục quyn học tập của người học đi với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điu này.

3. Đối với vi phạm quy định về dạy thêm

- Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về dạy thêm theo các mức phạt sau đây: Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm không đảm bảo cơ sở vật chất theo quy định; Từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm không đúng đối tượng; Từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm không đúng nội dung đã được cấp phép; Từ 6.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm khi chưa được cấp phép.

- Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép dạy thêm theo quy định. Ngoài ra còn bị áp dung các biện pháp khắc phục hậu quả.
 

4. Đối với hành vi phạm quy định về học phí, lệ phí và các khoản thu khác

- Vi phạm quy định về học phí, lệ phí bị xử phạt theo quy định tại Nghị định quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không công khai thu, chi tài chính theo quy định.

- Phạt tiền t 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức thu các khoản trái quy định.

- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trả lại cho người học số tiền đã thu và chịu mọi chi phí t chức trả lại; trường hp không trả lại được thì nộp v ngân sách nhà nước theo quy định.



Trả lời bạn nghe Đài
Thứ ba, ngày 24 tháng 12 năm 2013

 

  1. Bà Triệu Thị Kem, trú tại thôn Hoàng Thủy, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Gia đình tôi có diện tích đất rừng nhưng bị người cùng thôn lấn chiếm để trồng gừng, tôi không đồng ý nên đã nhổ gừng đi và viết đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp gửi UBND xã, UBND thành phố nhiều lần nhưng vẫn không được giải quyết. Vậy tôi phải làm gì để được giải quyết dứt điểm vụ việc này?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 135 Luật đất đai năm 2003 về hòa giải tranh chấp đất đai thì Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Thời hạn hoà giải là 30 ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân cấp xã nhận được đơn.

Theo Điều 136 Luật đất đai, Điều 264 Luật Tố tụng hành chính quy định về Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết.

- Tranh chấp đất đai mà một trong các bên đương sự không có giấy chứng nhận QSDĐ thì do Uỷ ban nhân dân giải quyết. Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính; Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về quyền Khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai tại Điều 138 Luật Tố tụng hành chính quy định: Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Điều 7 Luật Khiếu nại thì: Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

Hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

          2. Ông Hoàng Văn Tiến, trú tại thôn An Dinh II, xã Tân Liên, huyện Cao Lộc hỏi: Do mâu thuẫn nên vợ tôi bị một người cùng thôn đánh và xúc phạm danh dự, nhân phẩm, sau đó vợ tôi đã nhặt được hòn đá ném vào đầu người kia bị chảy máu đầu, khâu 3 mũi. Như vậy vợ tôi có bị khởi tố hình sự không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; Có tổ chức; Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Như vậy nếu sau khi người bị hại đi giám định tỷ lệ thương tật trên 11% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm k khoản 1 nếu trên, có đơn yêu cầu khởi tố hình sự thì vợ ông có thể bị khởi tố hình sự, bên cạnh đó còn phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho người bị hại theo quy định.

 

3. Nhắn tin:

- Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của ông Hứa Văn Chẹt, trú tại thôn Ba Biến, xã Thiện Hòa, huyện Bình Gia khiếu nại về việc bị Chủ tịch UBND huyện thu hồi 4 ha đất rừng. Nội dung này đã được chúng tôi trả lời trên chuyên mục vào ngày 03/9/2013. Đề nghị ông thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện của mình theo quy định của Luật khiếu nại, Luật Tố tụng hành chính để được giải quyết theo quy định.

Để được trợ giúp về mặt pháp luật, ông có thể đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ số 413B, đường Bà triệu, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn để được tư vấn và trợ giúp theo quy định của pháp luật.

 

 

 

 Trả lời bạn nghe Đài thứ ba ngày 17 tháng 12 năm 2013

 

1. Ông Hoàng Văn Nhã, trú tại xã Xuân Mãn huyện Lộc Bình hỏi: Tôi  bị cảnh sát giao thông tạm giữ xe máy do không có giấy phép lái xe và xe chưa có đăng ký thuộc trường hợp bị tạm giữ phương tiện vi pham. Vây tôi có được đặt tiền để đảm bảo cho việc xử phạt không?

 

Trả lời:

Về giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản, ngày 3/10/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành từ ngày 18/11/2013. Theo đó, tại Khoản 1 Điều 14 quy định:

Phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có đủ một trong các điều kiện dưới đây thì người có thẩm quyền tạm giữ có thể giao cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản phương tiện dưới sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền tạm giữ:

- Cá nhân vi phạm phải xuất trình sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú hoặc có giấy xác nhận của cơ quan, đơn vị về nơi công tác; nếu tổ chức vi phạm phải có địa chỉ hoạt động cụ thể, rõ ràng được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận; có nơi giữ, bảo quản phương tiện đáp ứng các điều kiện (quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định 115/2013/NĐ-CP).

- Tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ, bảo quản phương tiện.

Như vậy, đối với phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ, bảo quản phương tiện theo quy định nêu trên.

 

 

2. Bà Hà Thị Mai, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi, người có hành vi vận chuyển mua bán pháo nổ ở mức bao nhiêu thì bị xử phạt tiền, mức bao nhiêu thì bị khởi tố hình sự?

 

Trả lời:

Để xử lý đối với hành vi sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng pháo nổ, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản như Thông tư liên tịch số 06/2008/BCA-TANDTC-VKSNDTC về xử lý sản xuất, mua, bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các loại pháo và thuốc pháo; Nghị định 36/2009/NĐ-CP ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý và sử dụng pháo; Chỉ thị 902/CT-TTg ngày 25/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý VK, VLN, CCHT, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm, đảm bảo ANTT trong tình hình mới…

Theo khoản 2,4 điểm đ điều 13 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội quy định:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng và tịch thu tang vật đối với hành vi sử dụng các loại pháo mà không được phép.

- Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng và tịch thu tang vật phương tiện đối với một trong những hành vi sau đây: Sản xuất, tàng trữ, mua, bán, vận chuyển trái phép pháo, thuốc pháo nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về quản lý, sử dụng pháo sẽ bị truy cứu TNHS theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao như sau:

1. Người nào sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ; chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc pháo thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ” theo điều 232 Bộ luật Hình sự;

2. Người nào mua bán trái phép qua biên giới pháo nổ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Buôn lậu” theo điều 153 Bộ luật Hình sự;

3. Người nào vận chuyển trái phép qua biên giới pháo nổ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vận chuyển hàng hoá qua biên giới” theo điều 154 Bộ luật Hình sự;

4. Người nào có hành vi mua bán hoặc tàng trữ, vận chuyển trái phép pháo nổ với mục đích buôn bán ở trong nước thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điều 155 Bộ luật hình sự.

 

Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ” đối với:

- Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 2kg đến dưới 30 kg; chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc pháo có số lượng từ 1kg đến dưới 15 kg hoặc dưới số lượng đó nhưng đã bị xử lý hành chính hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm. Nếu vận chuyển, mua bán trái phép qua biên giới, bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

- Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ; chế tạo tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 30kg đến dưới 90kg; thuốc pháo có số lượng từ 15kg đến dưới 75kg, bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm;

- Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ; chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 90kg đến dưới 300 kg; thuốc pháo có số lượng từ 75kg đến dưới 200kg, bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm;

- Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ; chế tạo tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 300kg trở lên; thuốc pháo có số lượng từ 200 kg trở lên, bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Người nào cùng lúc phạm nhiều tội thì bị xét xử với mức hình phạt cao của khung hình phạt quy định cho mỗi tội./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 10 tháng 12 năm 2013

 


1. Bà Nguyễn Mai Trâm, trú tại thôn khòn khuyên, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn: Hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng là gì. Người có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh thì bị phạt như thế nào ?

 

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 4, Điều 8 Nghị định số 08/2013/NĐ-CP ngày 10/01/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất, buôn bán hàng giả thì hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng bao gồm:

 

- Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hoá; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;

 

- Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá;

 

- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá;

 

- Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.

 

Đối với hành vi buôn bán hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng nêu trên sẽ bị phạt tiền với mức tiền phạt tương ứng căn cứ vào số lượng hàng giả tương đương với số lượng và giá rị của hàng thật. Mức tiền phạt thấp nhất là từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị đến 1.000.000 đồng. Mức tiền phạt cao nhất là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Đối với Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Hàng giả là phụ gia thực phẩm, hóa mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, xi măng, sắt thép xây dựng, mũ bảo hiểm; Hành vi nhập khẩu hàng giả hoặc cá nhân, tổ chức buôn bán hàng giả là người trực tiếp nhập khẩu hàng giả đó thì bị phạt tiền gấp hai lần các mức tiền phạt quy định nêu trên, nhưng không quá 70.000.000 đồng.

 

Nếu hành vi buôn bán, sản xuất hàng giả đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009.

 

2. Ông Hoàng Đình Tiệp, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người nhận chuyển nhượng đất nằm trong vùng quy hoạch thì có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không, trong quá trình sử dụng hằng năm vẫn nộp thuế sử dụng đất mà đến nay qua nhiều năm quy hoạch không được thực hiện thì có được cấp phép xây dựng hay không?

 


Trả lời:

 

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 48 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất như sau:

 

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà không có tranh chấp thì diện tích đất có giấy tờ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch mà đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 48 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, nếu đất không có tranh chấp nhưng thuộc khu vực thu hồi theo quy hoạch mà đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 29 Luật Đất đai năm 2003, trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố có diện tích đất phải thu hồi mà Nhà nước chưa thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng theo mục đích đã xác định trước khi công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

 

Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 3 năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh hoặc huỷ bỏ và công bố.

 

Nếu đất gia đình ông đang sử dụng ổn định và không có tranh chấp về ranh giới, mặc dù có quy hoạch, nhưng trên 3 năm mà quy hoạch đó chưa được thực hiện, chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì ông có quyền đề nghị UBND thành phố xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

 

Về cấp phép xây dựng: Theo Điều 7 Nghị định số 64/2012/NĐ-CP ngày 4/9/2012 của Chính phủ về cấp phép xây dựng thì đối với Công trình được cấp giấy phép xây dựng tạm khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

 

1. Nằm trong khu vực đã có quy hoạch chi tiết xây dựng, quy hoạch điểm dân cư nông thôn (quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới) được cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố nhưng chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

2. Phù hợp với mục đích sử dụng đất, mục tiêu đầu tư.

 

3. Đảm bảo an toàn cho công trình, công trình lân cận và các yêu cầu về: Môi trường, phòng cháy chữa cháy, hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước, viễn thông), hành lang bảo vệ công trình thuỷ lợi, đê điều, năng lượng, giao thông, khu di sản văn hoá, di tích lịch sử - văn hóa và đảm bảo khoảng cách đến các công trình dễ cháy, nổ, độc hại, các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

 

4. Hồ sơ thiết kế xây dựng đáp ứng quy định tại Khoản 3 Điều 5 Nghị định này.

 

5. Phù hợp với quy mô công trình và thời gian thực hiện quy hoạch xây dựng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

 

6. Chủ đầu tư phải có cam kết tự phá dỡ công trình khi thời hạn tồn tại của công trình ghi trong giấy phép xây dựng tạm hết hạn và không yêu cầu bồi thường đối với phần công trình phát sinh sau khi quy hoạch được công bố. Trường hợp không tự phá dỡ thì bị cưỡng chế phá dỡ và chủ đầu tư phải chịu mọi chi phí cho việc phá dỡ công trình,

 

Giấy phép xây dựng tạm chỉ cấp cho từng công trình, nhà ở riêng lẻ, không cấp theo giai đoạn và cho dự án./.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 3 tháng 12 năm 2013

 

         

1. Ông Nguyễn Văn Bính, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người khám tuyển nghĩa vụ quân sự mà gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự  để trốn thực hiện nghĩa vụ quân sự thì sẽ bị xử lý như thế nào?
 

Trả lời:

Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu thì ngày 09/10/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2013/NĐ-CP.

 

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng bao gồm: Vi phạm quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự; vi phạm quy định về lực lượng dự bị động viên; vi phạm quy định về động viên công nghiệp; vi phạm quy định về hoạt động công nghiệp quốc phòng; vi phạm quy định về dân quân tự vệ; vi phạm quy định về bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; lấn chiếm đất quốc phòng, đất ở, nhà ở do Quân đội quản lý; vi phạm quy định về sử dụng giấy phép lái xe quân sự, biển số mô tô, biển số ô tô, biển số phương tiện vận tải quân sự; vi phạm quy định về sử dụng, mua, bán, sản xuất quân trang và biển công tác, cờ hiệu.

 

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực cơ yếu bao gồm: Vi phạm quy định về sử dụng sản phẩm mật mã không do Ban Cơ yếu Chính phủ cung cấp để bảo vệ thông tin thuộc phạm vi bí mật Nhà nước; vi phạm quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước khi truyền thông tin mật bằng phương tiện thông tin, viễn thông hoặc lưu giữ thông tin mật bằng thiết bị điện tử, tin học mà không mã hóa bằng mật mã của cơ yếu; vi phạm quy định về thời hạn không được tham gia hoạt động mật mã và quy định về sản xuất, cung cấp sản phẩm mật mã để bảo vệ thông tin thuộc phạm vi bí mật Nhà nước.

 

Nghị định này quy định mức phạt tiền từ 02 triệu đến 04 triệu đồng đối với các hành vi vi phạm như: Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự; đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự…; phạt từ 800.000 đồng đến 1,2 triệu đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng; phạt từ 500.000 đồng đến 01 triệu đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung sơ tuyển ghi trong giấy gọi sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng…

 

Bên cạnh đó, hành vi buôn bán trái phép quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, cành tùng, biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng, mũ kêpi, mũ dã chiến, lễ phục, quân phục thường dùng, quân phục dã chiến, quân phục nghiệp vụ và các loại quân trang khác… bị phạt tiền đến 20 triệu.

 

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu là 01 năm; riêng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý đất quốc phòng, đất ở, nhà ở do Quân đội quản lý; công trình quốc phòng và khu quân sự là 02 năm…

 

            Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/11/2013 và thay thế Nghị định 151/2003/NĐ-CP ngày 09/12/2003.

           

          2. Ông Vũ Quốc Hào, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi bị tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền tạm giữ phải bảo quản tang vật vi phạm như thế nào, nếu hêt thời hạn tạm giữ tang vật vi phạm mà người vi phạm cố ý không đến nhận thì có bị bán đấu giá để xung công quỹ nhà nước hay không?

 

Trả lời:

 

Vấn đề này, ngày 03 tháng 10 năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính

 

Theo đó thì Nghị định quy định nghiêm cấm chiếm đoạt, bán, trao đổi, cầm cố, thế chấp, đánh tráo, thay thế tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu và các hành vi trục lợi khác; vi phạm niêm phong, mang tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu ra khỏi nơi tạm giữ, bảo quản trái phép; làm mất, thiếu hụt, hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu.

 

 Nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu là nhà, kho, bến, bãi, âu thuyền, trụ sở cơ quan hoặc nơi khác do người có thẩm quyền tạm giữ, tịch thu quyết định.

 

Người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu. Trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định tạm giữ, tịch thu về việc quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện.

 

Khi trả lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu, người được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản có trách nhiệm: Kiểm tra quyết định trả lại hoặc quyết định chuyển tang vật, phương tiện đó; kiểm tra Chứng minh nhân dân và giấy tờ khác có liên quan của người đến nhận; Yêu cầu người đến nhận lại tang vật, phương tiện đối chiếu với biên bản tạm giữ để kiểm tra về chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, đặc điểm, hiện trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu dưới sự chứng kiến của cán bộ quản lý. Việc giao, nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải được lập thành biên bản.

 

Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã quá thời hạn tạm giữ nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ít nhất 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 82 Luật xử lý vi phạm hành chính và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18 tháng 11 năm 2013. Bãi bỏ Nghị định số 70/2006/NĐ-CP ngày 24/7/2006 quy định việc quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính và Nghị định số 22/2009/NĐ-CP ngày 24/02/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 70/2006/NĐ-CP./.


Trả lời bạn nghe Đài 
Thứ ba, ngày 26 tháng 11 năm 2013

 

1. Bà Nguyễn Hằng Thu, trú tại xã Hùng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi đang làm hồ sơ chuyển công tác, đòi hỏi phải có Phiếu Lý lịch Tư pháp, xin hỏi phiếu Lý lịch tư pháp là gì, ai có thẩm quyền cấp và trình tự thủ tục cấp như thế nào?

 

Trả lời:

            Lý lịch Tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.

Phiếu Lý lịch Tư pháp là phiếu do Trung tâm lý lịc tu pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích, bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.

Về trình tự cấp phiếu Lý lịch Tư pháp (LLTP) theo Quyết định số 105/QĐ-STP ngày 12/7/2013 của Sở Tư pháp Lạng Sơn ban hành quy định thủ tục, trình tự thực hiện cơ chế một cửa đối với lĩnh vực cấp phiếu Lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn thì người yêu cầu phải lập hồ sơ cấp phiếu LLTP bao gồm: Tờ khai yêu cầu cấp phiếu LLTP (theo mẫu); Bản chụp giấy CMND hoặc hộ chiếu; bản chụp hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú; văn bản ủy quyền (đối với trường hợp ủy quyền).

Người yêu cầu cấp phiếu LLTP nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa và trả kết quả  tại Sở Tư pháp. Thời gian giải quyết là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với trường hợp người được cấp phiếu LLTP là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, hoặc trong trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn giải quyết là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Người yêu cầu cấp phiếu LLTP phải nộp lệ phí là 200.000đ/lần/người, đối với học sinh sinh viên, người có công, thân nhân liệt sĩ là 100.000đ/lần/người.

           

            2. Bà Hoàng Anh Tuyến, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn sẽ bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 24/09/2013, Chính Phủ ban hành Nghị định số 109/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn.

Nghị định này quy định về các hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về giá, phí, lệ phí, hóa đơn.

Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến quản lý nhà nước về giá, phí, lệ phí, hóa đơn được quy định tại Nghị định khác của Chính phủ thì áp dụng quy định tại các Nghị định đó để xử phạt.

Nghị định quy định hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng. Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý giá là 150 triệu đồng, trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí, hóa đơn là 50 triệu đồng.

Đặc biệt, đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Theo Nghị định, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa đơn là 01 năm, trong lĩnh vực giá, phí, lệ phí là 02 năm. Đối với hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn dẫn đến trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế.

Cũng theo Nghị Định này, phần lớn các mức phạt tiền trong lĩnh vực hóa đơn đều tăng mức phạt tối thiểu nhưng giảm mức phạt tối đa, tiêu biểu:

+ Phạt tiền từ 2.000.000đ đến 4.000.000đ đối với hành vi tự in hóa đơn, khởi tạo hóa đơn điện tử không đủ nội dung quy định.

+ Phạt tiền từ 4.000.000đ  đến 8.000.000đ  đối với các hành vi:

– Tự in hóa đơn hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ các điều kiện quy định.

– Cung cấp phần mềm tự in hóa đơn không đủ nguyên tắc theo quy định hoặc hóa đơn khi in ra không đáp ứng đủ nội dung quy định.

+ Phạt tiền từ 20.000.000đ đến 50.000.000đ đối với hành vi tự in hóa đơn giả và hành vi khởi tạo hóa đơn điện tử giả.

+ Phạt tiền từ 2.000.000đ đến với 4.000.000đ đối với hành vi đặt in hóa đơn mà không ký hợp đồng in bằng văn bản.

+ Phạt tiền từ 6.000.000đ đến 18.000.000đ đối với hành vi không khai báo đúng quy định về mất hóa đơn trước khi thông báo phát hành.

+ Phạt tiền từ 20.000.000đ đến 50.000.000đ đối với hành vi đặt in hóa đơn giả.

+ Phạt tiền từ 6.000.000đ đến 18.000.000đ đối với hành vi không lập thông báo phát hành hóa đơn trước khi hóa đơn được đưa vào sử dụng nếu các hóa đơn này gắn với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã được kê khai, nộp thuế theo quy định.

+ Phạt tiền từ 4.000.000đ đến 8.000.000đ đối với hành vi không nộp thông báo, báo cáo hóa đơn gửi cơ quan thuế .

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 09/11/2013,  thay thế Nghị định số 106/2003/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí; Nghị định số 84/2011/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá và Chương V Nghị định số 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Các quy định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về giá, phí, lệ phí, hóa đơn không nêu tại Nghị định được thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính./.

 

TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

 

Thứ ba, ngày 19 tháng 11 năm 2013

 

 

 

1. Bà Nguyễn Thị Tú, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi dự định nhận chuyển nhượng một mảnh đất hiện đang đứng tên hai vợ chồng nhưng người chồng lại đang chấp hành án phạt tù. Tôi phải làm những thủ tục gì để có thể nhận chuyển nhượng mảnh đất đó một cách hợp pháp. Tôi xin chân thành cảm ơn?

 


Trả lời:

 

Để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất một cách hợp pháp thì bà phải cùng hai vợ chồng chủ sử dụng đất thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Công chứng (theo khoản 2 Điều 689 Bộ luật Dân sự). Khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì các bên (bên chuyển nhượng là hai vợ chồng chủ sử đụng đất, và bên nhận chuyển nhượng là bà) phải đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện công chứng hợp đồng đó (theo khoản 1 Điều 39 Luật Công chứng). Tuy nhiên, khoản 2 Điều 39 Luật Công chứng có quy định một số trường công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, gồm:

 

- Người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được;

 

- Người yêu cầu công chứng là người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.

 

Như vậy, đối với trường hợp của bà, người chồng bên chủ sử dụng đất đang thi hành án phạt tù, không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng được nên có lý do chính đáng để yêu cầu công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Theo đó, bà có thể đến tổ chức hành nghề công chứng bất kỳ trên địa bàn nơi có bất động sản để yêu cầu công chứng viên đến Trại giam nơi người chồng đang thi hành án phạt tù để thực hiện thủ tục công chứng. Để thực hiện được việc công chứng tại trại giam thì bạn lưu ý: phải được sự đồng ý của ban quản lý trại giam; Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc công chứng có công văn gửi đến trại giam để thông báo về việc thực hiện công chứng tại trại giam; Ngoài việc nộp phí công chứng theo điều 56 Luật Công chứng thì bà còn phải nộp thêm một khoản thù lao do yêu cầu thực hiện công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng theo khoản 2 Điều 57 Luật Công chứng; khoản thù lao này do các bên tham gia giao dịch và tổ chức hành nghề công chứng tự thỏa thuận.

 

2. Ông Nguyễn Văn Bằng, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Sau khi niêm yết việc khai nhận di sản thừa kế là 30 ngày tại xấp xã, các tổ chức hành nghề công chứng có cần phải lập biên bản kết thúc niêm yết không?

 


Trả lời:

 

Thủ tục niêm yết thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhn di sản thừa kế hiện nay được thực hiện theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Công chứng với những nội dung cơ bản sau:

 

- Việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế phải được niêm yết trong thời hạn 15 ngày. Việc niêm yết do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện tại trụ sở của Ủy ban nhân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản. Trong trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì niêm yết tại nơi tạm trú có thời hạn cuối cùng của người đó.

 

- Nội dung niêm yết phải nêu rõ họ, tên của người để lại di sản; họ, tên của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế; quan hệ của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế với người để lại di sản thừa kế; danh mục di sản thừa kế. Cuối bản niêm yết phải ghi rõ nếu có khiếu nại, tố cáo về việc bỏ sót, giấu giếm người được hưởng di sản thừa kế; bỏ sót di sản thừa kế; di sản thừa kế không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người đlại di sản thì khiếu nại, tố cáo đó được gửi cho tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc niêm yết.

 

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận việc niêm yết và bảo quản việc niêm yết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết.

 

Quy định trên không yêu cầu các tổ chức công chứng phải lập biên bản kết thúc niêm yết. Trên thực tế, các tổ chức công chứng có thể lập biên bản hoặc không lập biên bản này; chỉ cần xác nhận đã đủ thời gian niêm yết (theo ngày tháng ghi trong thông báo niêm yết) và  trong thời gian niêm yết có hay không có kiếu nại, tố cáo liên quan.

 

3. Bà Phạm Thị Ngà, trú tại xã Tân Liên, huyện Cao Lộc hỏi: Những hành vi nào được coi là vi phạm trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi. Người có hành vi vi phạm lĩnh vực này thì bị xử phạt như thế nào?

 


 

 

 

Trả lời:

 

Ngày 09/10/2013 Chính phủ ban hành 

 

 

Nghị định số 119/2013/NĐ-CP 

 

 

 

 

 

quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 11 năm 2013

 

Theo Nghị định, những hành vi sau được coi là vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi: Hành vi vi phạm quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh cho động vật, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú ý; sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; hành nghề thú y. Hành vi vi phạm các quy định về quản lý và bảo tồn nguồn gen vật nuôi, khảo nghiệm giống vật nuôi mới; sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu giống vật nuôi; quản lý chất lượng giống vật nuôi. Hành vi vi phạm các quy định về sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi; kinh doanh, sử dụng thức ăn chăn nuôi; xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi; khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi….

 

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi đối với cá nhân vi phạm là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức vi phạm là 100.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi đối với cá nhân vi phạm là 100.000.000 đồng, đối với tổ chức vi phạm là 200.000.000 đồng.

 

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với chủ vật nuôi có một trong các hành vi vi phạm như không thực hiện việc tiêm phòng vắc xin hoặc các biện pháp phòng bệnh bắt buộc khác cho động vật để phòng các bệnh thuộc Danh mục các bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bênh bắt buộc; không chấp hành việc lấy mẫu bệnh phẩm để kiểm tra, phát hiện bệnh; Không chấp hành việc tiêm phòng bắt buộc vắc xin hoặc các biện pháp phòng bệnh bắt buộc khác trong vùng ổ dịch cũ, vùng đã và đang bị dịch uy hiếp.

 

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm khai báo kiểm dịch không trung thực về số lượng, khối lượng, chủng loại động vật, sản phẩm động vật; Nguồn gốc xuất xứ của động vật, sản phẩm động vật, mục đích sử dụng, địa chỉ nơi đến; Kết quả phòng bệnh, kết quả xét nghiệm động vật, sản phẩm động vật.

 

Đối với hành vi vi phạm về sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, Nghị định quy định rõ: phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi không đảm bảo một trong các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật theo quy định; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi không có hồ sơ hoặc không ghi hồ sơ theo dõi quá trình sản xuất giống vật nuôi; Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất, kinh doanh giống thuần chủng, cụ kỵ, ông bà, hạt nhân không có cán bộ kỹ thuật; Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi chưa được công nhận kết quả khảo nghiệm; Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi không có tên trong Danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất, kinh doanh hoặc không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền…

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 05 tháng 11 năm 2013

 


1. Bà Trần Thị Bằng, trú tại xã Bằng Khánh, huyện Lộc Bình hỏi: Người tham gia chiến đấu tại chiến trường mà không còn giấy tờ gì chứng minh là bị thương hoặc bị chết  thì có được xác nhận là thương binh hay liệt sỹ không?

 

Trả lời:

 

Vấn đề bà hỏi liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội - Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư liên tịch  28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP  ngày 22/10/2013 Hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh đối với người hy sinh, bị thương trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu từ ngày 31/12/1991 trở về trước không còn giấy tờ.

 

Theo đó, căn cứ xác nhận liệt sĩ là danh sách liệt sĩ lưu tại cơ quan, đơn vị có ghi tên người hy sinh, hoặc giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước có ghi nhận là liệt sĩ hoặc hy sinh trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu; người hy sinh đã được chính quyền và nhân dân suy tôn đưa vào an táng trong nghĩa trang liệt sĩ nơi hy sinh, được gắn bia mộ liệt sĩ từ ngày 31/12/1994 trở về trước.

 

 

Xác nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh

 

Thông tư liên tịch nêu rõ, để được cấp Giấy chứng nhận bị thương, người đề nghị phải có căn cứ chứng minh quá trình tham gia cách mạng và căn cứ chứng minh bị thương trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu.

 

Trong đó, căn cứ chứng minh quá trình tham gia cách mạng đối với người thoát ly tham gia cách mạng hoặc hoạt động không thoát ly nhưng sau đó thoát ly tham gia công tác tại các cơ quan Nhà nước phải có một trong các giấy tờ sau: Lý lịch cán bộ; lý lịch đảng viên; lý lịch quân nhân; lý lịch công an nhân dân; quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc; hồ sơ bảo hiểm xã hội hoặc các giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước...

 

Đối với người hoạt động không thoát ly và sau đó không tiếp tục tham gia công tác tại các cơ quan Nhà nước thì phải có bản khai chi tiết quá trình tham gia cách mạng, có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

 

Căn cứ chứng minh bị thương trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu là: Giấy tờ có ghi sức ép hoặc chấn thương; danh sách quân nhân bị thương (hoặc người bị thương) của cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng khi bị thương có ghi tên cá nhân bị thương. 

 

Giấy tờ, tài liệu của cơ quan, đơn vị lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước có ghi nhận cá nhân bị thương khi tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu. Trường hợp giấy tờ, tài liệu không ghi các vết thương cụ thể thì căn cứ vào kết quả kiểm tra vết thương thực thể của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.

 

Người bị thương thuộc lực lượng quân đội, công an có vết thương thực thể nhưng không còn danh sách quân nhân bị thương do cơ quan, đơn vị quản lý quân nhân khi bị thương đã giải thể hoặc không lưu giữ được. 

 

Người không thuộc lực lượng quân đội, công an bị thương trong kháng chiến chống Pháp ở miền Nam và các chiến trường B, C, K và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện còn vết thương thực thể...

 

Ngoài quy định căn cứ cấp Giấy chứng nhận bị thương, Thông tư liên tịch cũng quy định cụ thể thủ tục xác nhận đối với từng trường hợp: Người bị thương thuộc lực lượng quân đội đã phục viên, xuất ngũ; người bị thương thuộc lực lượng quân đội hiện đang tại ngũ; người bị thương thuộc lực lượng công an đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc; người bị thương thuộc lực lượng công an hiện đang tại ngũ; người bị thương không thuộc lực lượng quân đội, công an. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2013.

 

2. Ông Nguyễn Thanh Hải, trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Cha tôi là cán bộ tiền khởi nghĩa, mất năm 1967. Mẹ tôi hưởng tiền trợ cấp hàng tháng đến năm 2000 thì mất. Tôi là con trai độc nhất thì có tiếp tục được hưởng tiền trợ cấp hàng tháng không? Nếu được thì thủ tục thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại  điểm c, điểm d khoản 3 Điều 16 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ, cán bộ tiền khởi nghĩa chết thì con trên 18 tuổi được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng trong những trường hợp sau:

 

- Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng từ nhỏ, sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận.

 

- Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, không có thu nhập hàng tháng hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận.

 

Nếu ông Quy thuộc trường hợp đủ điều kiện để hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo quy định nêu trên, việc giải quyết chế độ được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 40 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, cụ thể như sau:

 

Thân nhân người có công có trách nhiệm lập bản khai tình hình thân nhân theo mẫu gửi UBND cấp xã kèm bản sao giấy chứng tử.

 

- Trường hợp thân nhân là con từ đủ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng từ nhỏ phải có thêm giấy xác nhận mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật.

 

- Trường hợp thân nhân là con từ đủ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi mà không có thu nhập hàng tháng hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn phải có thêm giấy xác nhận mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và giấy xác nhận thu nhập (Mẫu TN) của UBND cấp xã.

 

UBND cấp xã trong thời gian 5 ngày kể  từ ngày nhận được bản khai và các giấy tờ kèm theo có trách nhiệm chứng nhận tình hình thân nhân (bao gồm cả trường hợp thân nhân hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng) và gửi các giấy tờ theo quy định đến Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội.

 

Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ có trách nhiệm lập danh sách những trường hợp đủ điều kiện hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng gửi đến Sở Lao động-Thương binh và Xã hội kèm các giấy tờ theo quy định.

 

Sở Lao động-Thương binh và Xã hội trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ quy định trên đây có trách nhiệm đối chiếu, ghép hồ sơ người có công đang quản lý với hồ sơ đề nghị hưởng tuất và ra quyết định trợ cấp.

 

3. Nhắn tin:

 

- Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của các hộ dân trú tại khối 4,6,7 phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn kiến nghị xử lý đối với hành vi xây nhà lấn vỉa hè đường Lý Thường Kiệt của một số hộ dân. Đơn gửi nhiều nơi trong đó đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

 

- Đơn của bà Phạm Thị Huệ, trú tại xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng khởi kiện về hành vi vu khống làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của công dân. Đề nghị bà làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng giải quyết theo thẩm quyền.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 10 năm 2013

 

1. Ông  Vi Minh Ngát, trú tại thôn Bản Chạp,  xã Đồng Giáp, huyện Văn Quan hỏi: Tôi có một xe công nông mua từ tháng 01/2003 biển số 12L- 1349 đã đăng ký theo quy định của pháp luật. Được biết năm 2008 Nhà nước cấm các loại xe công nông không được lưu hành trên đường quốc lộ và hỗ trợ mỗi đầu xe từ 5 đến 9 triệu đồng để chuyển đổi phương tiện. Tuy nhiên đến nay gia đình tôi vẫn chưa nhận được khoản tiền hỗ trợ này. Xin hỏi chế độ này quy định như thế nào và gia đình tôi phải làm gì để được hưởng quyền lợi của mình?

 

Trả lời:

 

Ngày 29/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 548/QĐ-TTg về Về việc hỗ trợ thay thế xe công nông; xe lôi máy; xe cơ giới ba bánh; xe thô sơ ba, bốn bánh thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông. Theo đó xe công nông được lắp ráp từ các động cơ diezen một xi lanh và tận dụng các tổng thành ôtô (còn được gọi là xe đầu ngang, xe độ chế) thuộc đối tượng được hỗ trợ.

Về Mức hỗ trợ: Đối với trường hợp mua xe cơ giới ba bánh, bốn bánh (loại xe được phép lưu hành theo quy định của pháp luật) hoặc chuyển đổi nghề để thay thế xe thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông: mức hỗ trợ là 5 triệu đồng cho 01 xe phải thay thế;  Đối với trường hợp mua xe tải để thay thế xe thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông; ngoài mức hỗ trợ 5 triệu đồng cho 01 xe phải thay thế còn được hỗ trợ thêm 4 triệu đồng cho 01 xe tải mua mới. Số xe tải mua mới được hỗ trợ không vượt số xe phải thay thế.

Thời gian thực hiện hỗ trợ: đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2009.

Tại Điều 5 của Quyết định còn quy định: Đối với những hộ gia đình tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên được hưởng chính sách hỗ trợ thay thế xe công nông, xe tải quá niên hạn theo Quyết định số 1491/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ thì không được hưởng chính sách hỗ trợ mua xe tải ban hành kèm theo Quyết định này.

Như vậy căn cứ vào chế độ hỗ trợ này thì các gia đình có xe công nông bị đình chỉ tham gia giao thông thuộc đối tượng được hỗ trợ thực hiện việc kê khai và nhận hỗ trợ đến ngày 31/12/2009 theo thời hạn tại quyết định 548 của Thủ tướng Chính phủ.

Như vậy, trong thời gian trước ngày 31/12/2009 gia đình ông phải thực hiện việc kê khai để xem xét hỗ trợ. Nếu biết thông tin được hỗ trợ mà không thực hiện việc kê khai hoặc kê khai sau thời điểm 31/12/2009 thì không được hỗ trợ theo quy định nêu trên.

 

2. Bà Phạm Thị Từ, trú tại thôn Làng Trắng, xã Hùng Đức, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Qung hỏi: Vợ chồng tôi lấy nhau và có 02 con gái, hiện nay đã ly hôn. Trong thời gian ly hôn chồng tôi lấy vợ mới và đã có con với người này. Nay chồng tôi mất không để lại di chúc, người vợ hiện nay của chồng tôi không cho con gái tôi hưởng di sản thừa kế của chồng tôi để lại. Xin hỏi, con gái chúng tôi có được hưởng tài sản thừa kế do chống tôi để lại không, muốn được chia con tôi phải làm thế nào?

Trả lời

Khi chồng  cũ của bà chết không để lại di chúc, phần tài sản trên sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điều 676 Bộ luật dân sự. Tại Điều 676 Bộ luật dân sự quy định Người thừa kế theo pháp luật như sau:  Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Những người ở cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.

Như vậy con gái bà là con đẻ của người để lại di sản thì có quyền hưởng di sản thừa kế từ người bố của mình như các đồng thừa kế khác. Để được chia tài sản thừa kế con gái bà có quyền khởi kiện yêu cầu chia Tòa án có thẩm quyền chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

3. Ông Hà Đình Đức, trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Người làm công việc nặng nhọc, độc hại thì có được nghỉ hưu trước tuổi không, khi nghỉ hưu trước tuổi thì có bị trừ tỷ lệ % lương hưu không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội, điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường là 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ.  Đối với người có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì tuổi nghỉ hưu được giảm tối đa là 5 tuổi so với người làm việc trong điều kiện lao động bình thường.

Như vậy, đối với người lao động có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì được nghỉ hưu trước tuổi tối đa là 5 tuổi so với người làm việc trong điều kiện lao động bình thường và không phải trừ tỷ lệ % hưởng lương hưu./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 10 năm 2013


1. Ông Nguyễn Hữu Mạc, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Năm 2014 là tôi sẽ được nghỉ hưu. Nhưng tôi đang sinh sống ở nước ngoài vì vậy tôi muốn uỷ quyền cho con tôi (đã trên 18 tuổi) giải quyết việc xin lĩnh lương hưu cũng như thanh toán lương hưu về sau. Vậy xin cho hỏi tôi có thể uỷ quyền toàn bộ cho con tôi không? Và tôi sẽ cần những giấy tờ gì?

Trả lời:

Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự). Theo đó, ông có thể ủy quyền cho con ông thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến việc nhận lương hưu của ông.

Con ông được thực hiện các công việc do ông ủy quyền trong phạm vi đại diện theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Dân sự:

- Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền.

- Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

- Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi đại diện của mình.

- Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Khi ủy quyền cho con ông, ông có thể đến cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (nơi ông đang sinh sống) để yêu cầu công chứng Giấy ủy quyền (thẩm quyền công chứng theo Điều 65 Luật Công chứng). Khi công chứng giấy ủy quyền, ông phải xuất trình giấy tờ tùy thân (hộ chiếu) và các giấy tờ liên quan đến việc ông có quyền nhận lương hưu theo quy định của pháp luật.

2. Bạn Trần Văn Thái, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Em ruột của tôi đứng tên trên giấy đăng ký xe ô tô, nhưng hiện nay em tôi đã mất. Em tôi đã có vợ nhưng nay vợ em đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Tôi muốn sang tên chủ quyền xe cho tôi thì phải làm thế nào?

Trả lời:

Việc sang tên đổi chủ xe khi chủ sở hữu xe đã chết được thực hiện theo trình tự thủ tục gồm: khai nhận di sản thừa kế đối với di sản là quyền sở hữu xe; sang tên đăng ký xe. Như vậy, trước khi làm thủ tục đăng ký sang tên chiếc xe cho bạn thì gia đình bạn phải tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với chiếc xe đó.

Nếu em trai bạn để lại di chúc thì người được em trai bạn chỉ định trong di chúc sẽ có quyền tiến hành khai nhận di sản theo quy định của pháp luật.

Nếu em trai bạn không để lại di chúc thì những người thừa kế theo pháp luật của em trai bạn sẽ tiến hành thủ tục này, gồm những người thừa kế quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự:

+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

+ Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Đối với trường hợp của bạn thì người khai nhận di sản thừa kế của em trai bạn sẽ là: bố, mẹ, vợ của em trai, và những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất khác (nếu có).

- Hồ sơ theo Điều 35 Luật Công chứng gồm: Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu; Dự thảo hợp đồng, giao dịch; Bản sao giấy tờ tuỳ thân; Bản sao giấy đăng ký xe; Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có, như: Giấy chứng tử của em trai bạn; …

Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, tổ chức công chứng thụ lý yêu cầu công chứng. Tổ chức công chứng tiến hành niêm yết công khai Thông báo về việc khai nhận di sản thừa kế tại trụ sở UBND cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại UBND cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Thời gian niêm yết theo quy định hiện hành là 15 ngày. Nội dung niêm yết nêu rõ: họ, tên người để lại di sản; họ, tên của những người thoả thuận hoặc người khai nhận và quan hệ với người để lại di sản; danh mục di sản được thoả thuận phân chia hoặc được khai nhận; cuối bản niêm yết phải ghi rõ nếu có khiếu nại, tố cáo về việc bỏ sót người được hưởng di sản, bỏ sót di sản, di sản không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người để lại di sản, thì khiếu nại, tố cáo dó được gửi cho cơ quan thực hiện công chứng, chứng thực.

Các đồng thừa kế lập văn bản khai nhận di sản thừa kế hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có chứng nhận của tổ chức công chứng.

Sau khi công chứng văn bản thừa kế, người được hưởng di sản sẽ làm thủ tục sang tên quyền sở hữu chiếc xe tại cơ quan đăng ký xe. Sau khi có đăng ký xe mang tên người thừa kế thì người đó sẽ có quyền bán xe cho bạn. Sau đó bạn thực hiện việc nộp thuế và đăng ký tại cơ quan công an có thẩm quyền sang tên theo quy định của pháp luật.

 3. Nhắn tin:

- Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn tố cáo của ông Trần Quốc Định, trú tại thôn Chè Lân, xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc. Nội dung đơn tố cáo cán bộ Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Cao Lộc trong việc thực hiện bồi thường đất. Đơn của ông đã được Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Cao Lộc và UBND huyện Cao Lộc giải quyết tố cáo theo thẩm quyền.

- Đơn của ông Nông Văn Nhi, trú tại xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan khiếu nại về việc chi trả tiền hỗ trợ cho học sinh mầm non vùng khó khăn. Đơn chúng tôi chuyển đến UBND xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan xem xét, giải quyết./.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 10 năm 2013


 


1. Bà Phạm Thị Huệ, trú tại thôn Nhị Hà, xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi bị người khác vu khống cho tôi là phạm tội lừa đảo mặc dù tôi chưa bị xét xử, chưa bị kết tội, chưa bị xử phạt hành chính của bất cứ cơ quan nào. Vậy tôi phải làm gì để khôi phục danh dự, nhân phẩm cho tôi?

 



Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật hình sự: "Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm".

 

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 01 năm đến 7 năm:

 

1) Có tổ chức;

 

2) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

3) Đối với nhiều người;

 

4) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

 

5) Đối với người thi hành công vụ;

 

6) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm.

 

Để được xem xét, xử lý vụ việc thì bà phải làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự gửi đến Công an huyện Hữu Lũng để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, vì tội vu khống là tội chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự. Kèm theo đơn yêu cầu khởi tố bà có thể trình bày yêu cầu về bồi thường thiệt hại (nếu có), bồi thường về danh dự, nhân phẩm, buộc công khai xin lỗi theo quy định của pháp luật.

 

2. Ông Lý Văn Tiếu, trú tại thôn Pác Bó, xã Hải Yến, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi được giao đất giao rừng để trồng rừng dự án, đến nay có 2 hộ gia đình cùng thôn đến tranh chấp khoảng 150m­­2 đất trong diện tích của tôi được giao vì cho rằng đây là đất làm nương của họ trước đây, họ cố tình chặt cây của tôi để trồng cây của họ xuống. Vậy tôi phải làm gì để giải quyết dứt điểm vụ việc trên?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 135 Luật đất đai năm 2003 về hòa giải tranh chấp đất đai thì Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Thời hạn hoà giải là 30 ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân cấp xã nhận được đơn. Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất.

 

Điều 136 Luật đất đai, Điều 264 Luật Tố tụng hành chính quy định về Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

 

- Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết.

 

- Tranh chấp đất đai không có giấy chứng nhận QSDĐ thì do UBND huyện giải quyết lần đầu. Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính; Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Căn cứ vào các quy định trên, với vụ việc của ông sau khi đã được hòa giải tại UBND xã thì căn cứ vào việc đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì ông có thể gửi đơn đến UBND huyện Cao Lộc giải quyết theo thẩm quyền.

 

Còn việc đất đang trong quá trình giải quyết tranh chấp mà một bên làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất, không chấp hành quy định về giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất trong quá trình giải quyết tranh chấp thì sẽ chịu những bất lợi khi xem xét giải quyết tranh chấp đất đai và có thể bị áp dụng biện pháp hành chính để xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật đất đai.

 

 

3. Nhắn tin:

 

Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của các ông, bà sau:

 

- Bà Nông Thị Tiện, trú tại thôn Nà Quan, xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng tố cáo ông bí thư Đảng ủy thị trấn Na Sầm cùng vợ có những hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, tài sản của bà, có những hành động mê tín, dị đoan và vi phạm pháp luật. Bà đã gửi đơn nhiều lần đến các cơ quan chức năng huyện Văn Lãng nhưng không cơ quan nào xem xét, giải quyết. Đơn chúng tôi chuyển đến Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy xem xét, giải quyết.

 

- Ông Mã Văn Anh, trú tại thôn Khuổi Phầy, xã Hải Yến, huyện Cao Lộc khiếu nại bản án dân sự phúc thẩm số 28/2011/DS-PT ngày 6/7/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Đề nghị ông làm đơn gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

 

- Đơn của các hộ dân trú tại khu Cầu Chui, đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn kiến nghị giải quyết việc bán thực phẩm chức năng nước ngoài không rõ nguồn gốc, có dấu hiệu lừa đảo. Đơn chúng tôi chuyển đến Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 08 tháng 10 năm 2013

 

 


1. Bà Nguyễn Thị Hồng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi được biết nhà nước mới có chính sách trợ cấp nhà giáo nghỉ hưu chưa hưởng phụ cấp thâm niên, xin hỏi điều kiện hưởng được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Quyết định 52/2013/QĐ-TTg ngày 30/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ trợ cấp thâm niên trong lương hưu có hiệu lực thi hành từ 15/10/2013 thì đối tượng áp dụng là nhà giáo nghỉ hưu đang trực tiếp giảng dạy, giáo dục ở các cơ sở giáo dục công lập và các học viện, trường, trung tâm làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội hoặc giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại các xưởng trường, trạm, trại, phòng thí nghiệm, tàu huấn luyện của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các cơ sở giáo dục đại học công lập. 

 

Nhà giáo nêu trên được hưởng chế độ trợ cấp khi có đủ 3 điều kiện.

 

Thứ nhất, có thời gian trực tiếp giảng dạy, giáo dục, hướng dẫn thực hành tại các cơ sở giáo dục công lập từ đủ 5 năm (60 tháng) trở lên.

 

Thứ hai, nghỉ hưu (kể cả trường hợp chờ đủ tuổi để hưởng lương hưu và bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu) trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/1994 đến ngày 31/5/2011.

 

Thứ ba, đang hưởng lương hưu tại thời điểm ngày 1/1/2012. Trường hợp đang tạm dừng hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì được hưởng trợ cấp sau khi được hưởng lại lương hưu.

 

Theo Quyết định, mức trợ cấp một lần bằng tiền, được xác định theo công thức: Số tiền trợ cấp = (lương hưu hằng tháng x 10%) x số năm được tính trợ cấp.

 

Trong đó, lương hưu hằng tháng là mức lương hưu đang hưởng tại thời điểm 15/10/2013.

 

2. Bà Hoàng Thị Nương, trú tại thị trấn Đình Lập hỏi: Người lao động đi nước ngoài lao động theo hợp đồng mà bỏ trốn thì bị xử phạt như thế nào?


Trả lời:

 

Theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì phạt tiền đến 100 triệu đồng đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng.

 

Cụ thể, phạt tiền từ 80-100 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động, hết hạn cư trú; bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng; sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng; lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định.

 

Ngoài phạt tiền, người lao động vi phạm còn bị buộc phải về nước; cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 2 năm hoặc 5 năm...

 

Nghị định có hiệu  lực thi hành từ 10/10/2013.

 

3. Ông Trần Văn Đăng, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Mua bán xăng dầu không đảm bảo chất lượng thì bị phạt như thế nào?


Trả lời:

 

Theo Nghị định 97/2013/NĐ-CP ngày 27/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng thì hành vi gian lận về sử dụng phương tiện đo lường trong kinh doanh xăng dầu sẽ bị phạt đến 50 triệu đồng.

 

Trong đó, với hành vi vi phạm quy định về chất lượng xăng dầu lưu thông trên thị trường phạt tiền từ 1-1,5 lần giá trị hàng hóa vi phạm đối với hành vi tồn trữ, vận chuyển xăng dầu có chất lượng không phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Tiêu chuẩn công bố áp dụng.

 

Phạt tiền từ 1,5-2,5 lần giá trị hàng hóa vi phạm đối với một trong các hành vi vi phạm: Pha trộn chất phụ gia hoặc các chất khác vào xăng dầu làm thay đổi chất lượng xăng dầu hoặc chất lượng xăng dầu không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Tiêu chuẩn công bố áp dụng; mua, bán xăng dầu có chất lượng không phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Tiêu chuẩn công bố áp dụng; xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất, pha chế xăng dầu có chất lượng không phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Tiêu chuẩn công bố áp dụng./.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 01 tháng 10 năm 2013
.

 

1. Bạn Nguyễn Thị Mai Lan, trú tại xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi sinh năm 1982, trước đây tôi đăng ký khai sinh ở một xã của tỉnh khác, đến năm 2010 tôi  lấy chồng chuyển về sống tại huyện Hữu Lũng nhưng trên hộ khẩu ghi sinh năm 1983. Nay tôi bị mất Giấy khai sinh bản chính và cũng không còn lưu giữ bản sao. Vậy tôi cần làm những thủ tục gì để được cấp lại Giấy khai sinh?

 

Trả lời:


Điều 46, Điều 47 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định, việc sinh đã được đăng ký, nhưng sổ khai sinh và bản chính Giấy khai sinh đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thì được đăng ký lại.

 

Thẩm quyền đăng ký lại việc sinh thuộc UBND cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh trước đây thực hiện việc đăng ký lại.

 

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 13 Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 2/2/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực, thì:

 

- Người có yêu cầu đăng ký lại việc sinh nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình bản sao Giấy khai sinh đã cấp hợp lệ trước đây (nếu có); trong trường hợp không có bản sao Giấy khai sinh, thì đương sự phải tự cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng Sổ đăng ký khai sinh không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan.

 

- Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy khai sinh. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện đăng ký lại việc sinh (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ.

 

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 3 ngày.

 

- Khi đăng ký lại việc sinh, nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh được ghi theo nội dung của bản sao Giấy khai sinh đó.

 

Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó.

 

Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên. Trong trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện tại.

 

Phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo thời điểm đăng ký lại việc sinh. Riêng phần ghi về quốc tịch của cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ đã được thôi quốc tịch Việt Nam, đã nhập quốc tịch nước ngoài, thì quốc tịch của cha, mẹ vẫn phải ghi quốc tịch Việt Nam; Quốc tịch hiện tại của cha, mẹ được ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.

 

Theo quy định tại điểm a, Điều 7 Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, trong trường hợp UBND cấp xã không có căn cứ để xác định được đương sự đã đăng ký khai sinh, thì UBND cấp xã chỉ xác nhận về việc Sổ đăng ký khai sinh của năm đó không còn lưu trữ.

 

Trong trường hợp việc sinh trước đây được đăng ký tại UBND cấp huyện, thì do UBND cấp huyện xác nhận. Xác nhận về việc Sổ đăng ký khai sinh không còn lưu trữ được thay cho xác nhận đương sự đã đăng ký khai sinh.

 

Trường hợp bạn đã mất bản chính Giấy khai sinh, thì được đăng ký lại việc sinh tại UBND xã nơi đăng ký khai sinh lần đầu hoặc đăng ký lại việc sinh tại UBND xã nơi bà cư trú hiện nay (UBND xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng).

 

Nếu trong Sổ đăng ký khai sinh tại nơi đăng ký khai sinh lần đầu không còn lưu trữ, bạn cũng không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, thì có thể sử dụng hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên để làm căn cứ đăng ký lại.

 

Trường hợp đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó.

 

Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.

 

Như thông tin bạn cung cấp, bạn sinh vào năm 1982 nhưng hiện nay không có giấy tờ gì chứng minh năm sinh đó là đúng. Tuy nhiên trên Sổ hộ khẩu gia đình ghi bạn sinh năm 1983. Trường hợp Sổ hộ khẩu được lập trước khi bạn có các giấy tờ khác như Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, thì thông tin ghi trên Sổ hộ khẩu là căn cứ để đăng ký lại giấy khai sinh cho bạn, trong đó có năm sinh là 1983 và ngược lại.

 

Thực hiện đúng trình tự, thủ tục nêu trên, bạn sẽ được cấp mới Giấy khai sinh bản chính có đóng dấu “đăng ký lại”.

 

 


2. Bà Hoàng Thị Nhung, trú tại xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi và chồng tôi đã li thân hơn nửa năm nay. Trước kia vì một số xung đột, chồng tôi hay hành hung: bóp cổ tôi, đẩy tôi xuống bờ ruộng,.. Rồi sau đó, không liên lạc tầm 3,4 tháng. Thời gian gần đây, chồng tôi liên tục nhắn tin chửi mắng tôi toàn những từ thô tục và rất nhiều lời hăm doạ khác, đe doạ sẽ làm cho tôi mất việc làm, phá xe, đập điện thoại.... Trước kia chúng tôi kết hôn mà chưa có giấy đăng kí kết hôn. Vậy bây giờ tôi phải làm sao để chấm dứt việc này? Tôi không còn yêu thương chồng tôi nữa, vậy làm thế nào để anh ta không còn theo hăm doạ tôi nữa?

 

 

 

Trả lời:

 

Tại Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:

 

 

 

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

 

 

 

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

 

 

 

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

 

 

 

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

 

 

 

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

 

 

 

đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

 

 

 

e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

 

g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

 

 

 

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

 

 

 

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

 

 

 

2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng”

 

Như vậy, mặc dù bà và chồng bà chưa đăng ký kết hôn mà chỉ sống với nhau như vợ chồng nhưng theo quy định của pháp luật nói trên thì những hành động hành hung của chồng bà đối với bà như: bóp cổ, đẩy xuống bờ ruộng, nhắn tin chửi mắng toàn những từ thô tục và rất nhiều lời hăm doạ khác, đe doạ sẽ làm cho mất việc làm, phá xe, đập điện thoại... là những hành vi bạo lực gia đình, những hành vi của chồng bà là những hành vi bị cấm theo Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn bà trở thành nạn nhân bạo lực gia đình. Theo Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì bà có các quyền sau đây:

 

 

 

“a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

 

 

 

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

 

 

 

c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

 

 

 

d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

 

 

 

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật”

 

Theo đó, nếu muốn chấm dứt tình trạng bị chồng bà hành hung, hăm dọa thì bà hoàn toàn có thể thực hiện các quyền nói trên để đề nghị các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của bà. Các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ cho bà trong trường hợp này được quy định cụ thể tại Điều 18 như sau:

 

 

 

“Điều 18. Phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình

 

 

 

1. Người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 23 và khoản 4 Điều 29 của Luật này.

 

 

 

2. Cơ quan công an, Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình”

 

Theo đó, bà có thể đến gặp cơ quan có thẩm quyền: công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi bà sinh sống hoặc nơi bà bị chồng hành hung... để đề nghị được giúp đỡ, xử lý./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 24 tháng 9 năm 2013

 

 

1. Ông Trần Quốc Định, trú tại thôn Chè Lân, xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi: Theo quy định của pháp luật thì quy trình giải quyết tố cáo được quy định như thế nào? Khi tôi đã tố cáo lần đầu đến người có thẩm quyền giải quyết mà tôi không đồng ý với kết luận giải quyết thì tôi có được tố cáo tiếp không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của  Điều 21 Luật Tố cáo quy định về Thời hạn giải quyết tố cáo như sau:

 

1. Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo.

 

2. Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày.

 

Căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo. Kết luận nội dung tố cáo phải có các nội dung sau đây: Kết quả xác minh nội dung tố cáo; Kết luận việc tố cáo đúng, đúng một phần hoặc sai; xác định trách nhiệm của từng cá nhân về những nội dung tố cáo đúng hoặc đúng một phần; Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (nếu có).

 

Việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo: Sau khi có kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:

 

1. Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật;

 

2. Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;

 

3. Trường hợp hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

Về Gửi kết luận nội dung tố cáo: Người giải quyết tố cáo phải gửi kết luận nội dung tố cáo cho người bị tố cáo. Việc gửi văn bản đảm bảo không tiết lộ thông tin về người tố cáo và bảo vệ bí mật nhà nước. Trong trường hợp người tố cáo có yêu cầu thông báo kết quả giải quyết tố cáo thì người giải quyết tố cáo gửi thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo. Thông báo kết quả giải quyết tố cáo phải nêu rõ kết luận nội dung tố cáo, việc xử lý người bị tố cáo, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước. Người giải quyết tố cáo phải gửi kết luận nội dung tố cáo cho cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan cấp trên trực tiếp.

 

Tại Điều 27 Luật Tố cáo quy định việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp như sau:

 

1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo.

 

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp xem xét, xử lý như sau:

 

a) Trường hợp quá thời hạn quy định tại Điều 21 của Luật này mà tố cáo không được giải quyết thì yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết tố cáo phải giải quyết, trình bày rõ lý do về việc chậm giải quyết tố cáo; có biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo;

 

b) Trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là đúng pháp luật thì không giải quyết lại, đồng thời thông báo cho người tố cáo về việc không giải quyết lại và yêu cầu họ chấm dứt việc tố cáo;

 

c) Trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật thì tiến hành giải quyết lại theo trình tự quy định của Luật này.

 2. Bà Hoàng Anh Tú, trú tại khối Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi được biết chủ trương của tỉnh là cho phép kinh doanh tạm thời ở một số lề đường theo quy hoạch đã phê duyệt. Xin hỏi quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng Phí sử dụng lề đường, bến, bãi trên địa bàn tỉnh được tỉnh quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 16/9/2013, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng Phí sử dụng lề đường, bến, bãi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

         

Đối tượng nộp phí là các đối tượng được phép sử dụng lề đường, bến, bãi vào mục đích đi lại, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng lề đường, bến, bãi; Các đối tượng được phép sử dụng tạm thời một phần hè phố, lòng đường đô thị ngoài mục đích giao thông vào mục đích kinh doanh, dịch vụ được cấp có thẩm quyền cho phép. Quyết định này không áp dụng đối với các phương tiện vận tải trong khu vực cửa khẩu và cặp chợ biên giới

 

Theo đó mức thu Phí cụ thể như sau:

         

Đối với việc tạm dừng, đỗ xe ô tô ở những lề đường được phép đỗ theo quy hoạch sử dụng đất giao thông đường bộ, đô thị, mức thu phí là 5.000 đồng/xe/lần tạm dừng và 100.000 đồng/xe/tháng.

 

         Đối với việc sử dụng tạm thời hè phố, lòng đường đô thị, bến, bãi được cấp có thẩm quyền cho phép (không thuộc trường hợp Nhà nước giao đất thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất), áp dụng loại đường để xác định mức thu Phí theo Quy định về giá các loại đất hàng năm do UBND tỉnh quyết định.

         

Ở khu vực Thành phố Lạng Sơn: Trên địa bàn các Phường mức thu là 12.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 1; 10.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 2; 8.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 3; 6.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 4. Trên địa bàn các xã: Tại các khu vực giáp ranh đô thị, ven đường giao thông chính mức thu là 5.000 đồng/m2/tháng; Tại các khu vực còn lại mức thu là 3.000 đồng/m2/tháng.

        

Ở các huyện: Trên địa bàn Thị trấn mức thu là 6.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 1; 5.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 2; 4.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 3; 3.000 đồng/m2/tháng đối với đường loại 4; Trên địa bàn các xã mức thu là 2.000 đồng/m2/tháng.

        

Quyết định nêu rõ UBND các xã, phường, thị trấn tổ chức thu Phí theo phân cấp địa bàn quản lý. Đơn vị tổ chức thu phí được trích để lại 60% trên tổng số phí thu được trước khi nộp vào ngân sách Nhà nước để trang trải cho các hoạt động tổ chức thu Phí, phần còn lại 40% nộp vào ngân sách Nhà nước.

        

UBND tỉnh giao Sở Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan tham mưu cho UBND tỉnh ban hành: quy định cụ thể các khu vực, đường phố, đoạn đường phố (hoặc tuyến đường) được phép sử dụng tạm thời hè phố, lòng đường đô thị, bến, bãi, mặt nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh (không thuộc trường hợp Nhà nước giao đất thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất); Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Cục Thuế tỉnh và các cơ quan liên quan hướng dẫn, kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thực hiện; UBND các huyện, thành phố chỉ đạo bộ phận chức năng liên quan và hướng dẫn thực hiện việc tổ chức triển khai thực hiện Quyết định này.

         

Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký, thay thế Quyết định số 08/2004/QĐ-UB ngày 12/02/2004 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc quy định mức thu Phí sử dụng lề đường, bến, bãi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn./.

 

                                                                    

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 17 tháng 9 năm 2013

 


1. Ông Hoàng Trọng Nghĩa, trú tại thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập hỏi: Tôi được biết Nhà nước mới có quy định về nâng mức trợ cấp đối với người có công với cách mạng, đề nghị Đài cho tôi biết cụ thể mức trợ cấp đối với thương binh và các đối tượng khác được tăng như thế nào?

  

Trả lời:

 

Ngày 4 tháng 9 năm 2013 Chính phủ ban hành Nghị định 101/2013/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Theo đó, mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng là 1.220.000 đồng, thay vì mức 1.110.000 đồng như tại Nghị định 

  

47/2012/NĐ-CP hiện nay.

 

Cùng với việc nâng mức chuẩn, Nghị định 101/2013/NĐ-CP cũng nâng mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hằng tháng, trợ cấp ưu đãi một lần đối với người có công; trợ cấp thương tật đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; trợ cấp thương tật đối với thương binh loại B.

 

Cụ thể, thân nhân của 1 liệt sĩ sẽ được hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng là 1.220.000 đồng/tháng (quy định hiện hành là 1.110.000 đồng). Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 2 liệt sĩ là  2.440.000 đồng/tháng; đối với thân nhân của 3 liệt sĩ trở lên là 3.660.000 đồng/tháng (Nghị định 47/2012/NĐ-CP hiện hành chỉ quy định trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 2 liệt sĩ trở lên là 1.983.000 đồng/tháng).

 

Bà mẹ Việt Nam anh hùng sẽ hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ; đồng thời, được hưởng phụ cấp 1.023.000 đồng/tháng (hiện nay là 931.000 đồng). Bên cạnh đó, người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình cũng được hưởng trợ cấp 1.220.000 đồng/tháng.

 

Mức trợ cấp hằng tháng đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến cũng được điều chỉnh tăng từ 931.000 đồng lên 1.023.000 đồng/tháng.

 

Đối người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: Nghị định nêu rõ, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học được hưởng trợ cấp hằng tháng từ 927.000 đến 2.782.000 đồng hoặc được hưởng phụ cấp ưu đãi hằng tháng từ 612.000 đến 1.220.000 đồng tùy mức độ suy giảm khả năng lao động.

 

Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung quy định người phục vụ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên sống ở gia đình được trợ cấp 1.220.000 đồng/tháng; Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 18 tuổi trở lên sống cô đơn không nơi nương tựa hoặc con dưới 18 tuổi mồ côi cả cha mẹ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng là 976.000 đồng/tháng.

    

Bổ sung quy định trợ cấp ưu đãi hằng năm cho người có công

 

Đặc biệt, so với Nghị định 47/2012/NĐ-CP, Nghị định mới đã bổ sung thêm quy định về mức trợ cấp ưu đãi hằng năm cho người có công.

  

Cụ thể, liệt sĩ không còn người hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng thì người thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp thờ cúng 500.000 đồng/năm.

 

Trợ cấp ưu đãi đối với con của người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng không hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học tại cơ sở giáo dục mầm non là 200.000 đồng/năm; tại cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, trường dự bị đại học, trường năng khiếu, trường lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật là 250.000 đồng/năm; tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học, phổ thông dân tộc nội trú là 300.000 đồng/năm.

 

  

 

Đối với thương binh

  

Nghị định cũng điều chỉnh tăng mức trợ cấp thương tật đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. Cụ thể, mức trợ cấp cũ từ 748.000 đồng (tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 21%) đến 3.560.000 đồng (tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 100%)  được điều chỉnh tăng lên 822.000 đồng (tỷ lệ 21%) đến 3.913.000 đồng (tỷ lệ 100%) tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

 

Mức trợ cấp thương tật đối với thương binh loại B hiện đang từ 618.000 đến 2.945.000 đồng sẽ tăng lên là 679.000 đến 3.237.000 đồng tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

 

Nghị định có hiệu lực từ 20/10/2013. Các khoản trợ cấp, phụ cấp ưu đãi quy định tại nghị định này được tính thực hiện từ ngày 1/7/2013.

     

  

  

 

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh, trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi muốn hỏi về việc kết hôn với người định cư ở nước ngoài thì đăng ký ở đâu, hồ sơ cần những thủ tục, giấy tờ gì?

  

Trả lời

 

Việc đăng ký kết hôn với người nước ngoài được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Nghị định này mới được Chính phủ ban hành để thay thế cho Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP.

 

  

 

1. Về thẩm quyền quyền đăng ký kết hôn

 

Theo quy định tại Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 6 của Nghị định số 24 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài; trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn.

 

Cơ quan đại diện thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nếu việc đăng ký đó không trái với pháp luật của nước sở tại; trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài kết hôn với nhau thì Cơ quan đại diện thực hiện đăng ký việc kết hôn, nếu có yêu cầu.

 

 

2. Về hồ sơ đăng ký kết hôn

 

Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 24 thì hồ sơ đăng ký kết hôn gồm các giấy tờ sau đây của mỗi bên:

 

a) Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu quy định);

 

b) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ; giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó là người không có vợ hoặc không có chồng;

 

Trường hợp pháp luật nước ngoài không quy định việc cấp giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy xác nhận tuyên thệ của người đó hiện tại không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó;

 

c) Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

 

d) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu (đối với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước), Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế như Giấy thông hành hoặc Thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài);

 

đ) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú (đối với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước), Thẻ thường trú hoặc Thẻ tạm trú hoặc Chứng nhận tạm trú (đối với người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam kết hôn với nhau).

 

Ngoài giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, bên nam, bên nữ phải nộp giấy tờ tương ứng sau đây:

 

a) Đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật Nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến bảo vệ bí mật Nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành đó;

 

b) Đối với công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc đã ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam;

 

c) Đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thì còn phải có giấy tờ chứng minh về tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

 

d) Đối với người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam thì phải có giấy do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật của nước đó;

 

đ) Đối với người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

   

3. Về thủ tục nộp, tiếp nhận hồ sơ

 

Theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 24 hồ sơ đăng ký kết hôn do một trong hai bên kết hôn nộp trực tiếp tại Sở Tư pháp, nếu đăng ký kết hôn tại Việt Nam hoặc cơ quan đại diện, nếu đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện.

 

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam không quá 25 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí. Trường hợp Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan công an xác minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 của Nghị định này thì thời hạn được kéo dài không quá 10 ngày làm việc.

 

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện không quá 20 ngày, kể từ ngày cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí. Trường hợp cơ quan đại diện yêu cầu cơ quan trong nước xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Nghị định này thì thời hạn được kéo dài không quá 35 ngày.


 

2. Nhắn tin

 

- Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của bà Phạm Thị Hòa, Hoàng Thị Tiếp trú tại thôn Hoàng Tân, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn khiếu nại về việc bị thu hồi đất mà không có quyết định thu hồi. Đơn chúng tôi chuyển đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

 

 

- Đơn của ông Vũ Xuân Tịnh, trú tại thị trấn Chơn Thành, tỉnh Bình Phước khiếu nại về việc bị tai nạn ở ngoài vùng cư trú (thị trấn Na Sầm, huyện Văn lãng) mà không được hỗ trợ theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội. Đơn chúng tôi chuyển đến Chủ tịch UBND huyện Văn Lãng xem xét, giải quyết theo quy định./.

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 10 tháng 9 năm 2013

 

 

1. Ông Nông Văn Nhi, trú tại xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan hỏi: Tôi được biết Chính phủ có quy định hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo lớp 3-4 tuổi tại những nơi có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn. Đề nghị đài cho biết cụ thể mức hỗ trợ được quy định như thế nào?

 
Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BGDĐT-BTC-BNV ngày 11/3/2013 của Liên bộ Giáo dục và Đào tạo - Tài chính - Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện chi hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non theo quy định tại Quyết định 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011.

 
Theo Thông tư này, các đối tượng trẻ em mẫu giáo 3 và 4 tuổi đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo, các xã và thôn bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo các quy định hiện hành; hoặc có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo; hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế sẽ được hỗ trợ ăn trưa 120.000 đồng/tháng/trẻ.


 Bên cạnh đó, trẻ mẫu giáo 5 tuổi đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non theo Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 cũng được hỗ trợ 120.000 đồng/tháng/trẻ. Trẻ mẫu giáo dân tộc ít người từ 3 - 5 tuổi thuộc hộ nghèo được hỗ trợ bằng 30% mức lương tối thiểu chung/tháng/trẻ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 19/11/2012.

 

Nguyên tắc hỗ trợ cho các đối tượng trên là: Mỗi trẻ được hưởng chính sách hỗ trợ tối đa trong 3 năm học; năm học được hưởng là năm học mà trẻ đạt đến 3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi theo giấy khai sinh. Việc chi trả kinh phí hỗ trợ ăn trưa được cấp cho cơ sở giáo dục mầm non hoặc trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ theo số tháng thực học, tối đa 9 tháng/năm học và thực hiện 2 lần trong năm: lần 1 chi trả đủ 04 tháng vào tháng 10 hoặc tháng 11 hàng năm; lần 2 chi trả đủ 05 tháng vào tháng 3 hoặc tháng 4 hàng năm.

 

2. Ông Hứa Văn Bường, thôn Nà Vi, xã Hồ Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi: Khi không đồng ý với quyết định hành chính hay hành vi hành chính về đất đai thì tôi có quyền làm như thế nào theo quy định của pháp luật?

 


Trả lời:

 

Theo quy định của Luật Khiếu nại thì: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính”.

 

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính.Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại (Điều 31 Luật Khiếu nại, tố cáo).


Như vậy khi có quyết định hành chính hay hành vi hành chính về đất đai mà ông cho rằng trái pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của bản thân thì ông có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

 

Trường hợp ông không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND huyện hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp ông không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Luật Tố tụng hành chính quy định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.

 

Về Thời hiệu khởi kiện là 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

 

 

3. Nhắn tin

 

Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của ông Chu Minh Toàn 75 tuổi, trú tại khối 7, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi về chính sách cải cách tiền lương theo Nghị định 235/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng bộ trưởng. Đơn của ông chúng tôi chuyển đến Chủ tịch UBND huyện Cao Lộc xem xét, trả lời./.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 3 tháng 9 năm 2013

 

 

 

1. Ông Lô Trần Soi, trú tại tôn Nà Lù, xã Thiện Long, huyện Bình Gia hỏi: Một người cố ý gây thương tích 4% cho người khác thì có bị khởi tố hình sự không, nếu bị khởi tố thì bị phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

 Theo quy định tại Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì: Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm:

 

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

 

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

 

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

 

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

 

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

 

e) Có tổ chức;

 

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

 

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

 

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm.

 

 

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

 

Như vậy nếu gây thương tích 4% như ông hỏi (dưới 11%) nếu thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm k khoản 1 nêu trên thì vẫn có thể bị khởi tố hình sự.

 

Về mức phạt thì căn cứ vào các tình tiết vụ án mà Tòa án quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

 

Ngoài ra bị cáo còn phải bồi thường thiệt hại về mặt dân sự cho bị hại theo thiệt hại thực tế mà bị cáo đã gây ra cho bị hại.

         

2. Ông Hứa Văn Chẹt, trú tại thôn Ba Biến, xã Thiện Hòa, huyện Bình Gia hỏi: Tôi không đồng ý với quyết định hành chính về đất đai của UBND huyện thì phải làm thế nào?

 

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Luật Khiếu nại thì: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính”.

 

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính.Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại (Điều 31 Luật Khiếu nại, tố cáo).

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Luật Tố tụng hành chính quy định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.

 

Về Thời hiệu khởi kiện là 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc.

 
3. Nhắn tin:

 

Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được các nội dung đơn như sau:

 

-  Đơn tố cáo đề ngày 7/7/2013 của ông Phạm Thanh Tịnh, trú tại đường Bà triệu, phường Đông Kinh. Đơn của ông chúng tôi chuyển đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

 

- Đơn của bà Nông Thị Lem, trú tại thôn Nà Me, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn đề nghị về việc Thi hành án theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

 

 

 

 

Thưa quý vị và các bạn, trong tuần qua chúng tôi đã nhận được nhiều đơn thư hỏi, phản ánh, kiến nghị của quí khán thính giả về các lĩnh vực pháp luật, tình hình thực hiện pháp luật trong đời sống, trong đó có nhiều đơn thư nội dung, địa chỉ còn chưa rõ ràng, cụ thể. Vì vậy đề nghị bạn quí khán thính giả có thắc mắc về lĩnh vực pháp luật khi viết đơn thư hỏi cần phải trình bày cần rõ ràng, cụ thể, đúng trọng tâm, kèm theo địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi xác minh, hướng dẫn, trả lời được kịp thời, chính xác. Đài PT-TH tỉnh cũng rất hoan nghênh các cơ quan, đơn vị đã phối hợp trả lời những thắc mắc, kiến nghị của nhân dân để Đài có cơ sở trả lời quí khán thính giả được kịp thời, đúng theo quy định của pháp luật./.

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 27 tháng 8 năm 2013

 

1.Ông Nguyễn Hữu Hảo, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định của pháp luật về việc vượt xe khi tham gia giao thông được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định việc Vượt xe như sau :

 

1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

 

2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

 

3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

 

4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

 

a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

 

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

 

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

 

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

 

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

 

b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

 

c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

 

d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

 

đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

 

e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc, trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Khi văn bằng, chứng chỉ cá nhân có sai lệch so với giấy chứng minh thư thì có được tự sửa vào văn bằng, chứng chỉ cho phù hợp hay không, nếu không được thì ai có quyền chính sửa?

Trả lời:

Theo quy định tại Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT và công văn hướng dẫn số 4366/BGDĐT-PC ngày 23/7/2010 của Bộ Giáo dục và đào tạo hướng dẫn về một số nội dung về văn bằng, chứng chỉ của giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp thì Các trường hợp chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ quy định như sau:

 

Cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm chỉnh sửa nội dung ghi trên văn bằng, chứng chỉ đã cấp cho người học trong các trường hợp sau đây:

 

a) Sau khi được cấp văn bằng, chứng chỉ, người học được cơ quan có thẩm quyền cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật về cải chính hộ tịch;

 

b) Các nội dung ghi trên văn bằng, chứng chỉ bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ”. Ngoài hai trường hợp này, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ không được phép chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ đã cấp cho người học.

 

Việc cải chính hộ tịch được ủy ban nhân dân cấp xã hoặc ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; việc chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ được thực hiện căn cứ vào giấy khai sinh của người học, hồ sơ lưu trữ liên quan đến quá trình học tập của người học.

 

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định: “Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó”. Do đó, khi làm các thủ tục cấp văn bằng, chứng chỉ cho người học, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm xác định chính xác các nội dung liên quan đến nhân thân ghi trên văn bằng, chứng chỉ căn cứ vào giấy khai sinh của người học. Người học có trách nhiệm cung cấp chính xác các thông tin để ghi trên văn bằng, chứng chỉ. Trước khi cấp phát văn bằng, chứng chỉ, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ cần đưa thông tin sẽ ghi trên văn bằng, chứng chỉ cho người học để người học kiểm tra tính chính xác của thông tin.

 

Trong trường hợp nội dung về nhân thân của người học đã ghi trên văn bằng, chứng chỉ không khớp với bản chính giấy khai sinh do lỗi của người học như cung cấp bản sao chứng thực giấy khai sinh sai so với bản chính; mượn giấy khai sinh của người khác để đi học, có nhiều giấy khai sinh khác nhau,... thì người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ không có trách nhiệm chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ.

 

3. Bà Nguyễn Thị Hà, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi bị xử phạt hành chính 20 triệu đồng, tôi không có khiếu nại gì nhưng nay do điều kiện kinh tế khó khăn tôi muốn nộp làm nhiều lần có được không?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 79 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về Nộp tiền phạt nhiều lần như sau:

 

1. Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 200.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức;

 

b) Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn đề nghị của cá nhân phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế; đối với đơn đề nghị của tổ chức phải được xác nhận của cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp.

 

2. Thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 06 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá 03 lần.

 

Mức nộp phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng số tiền phạt.

 

3. Người đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết định việc nộp tiền phạt nhiều lần. Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần phải bằng văn bản

 

Như vậy, căn cứ vào quy định trên bà có thể làm các thủ tục cần thiết để thực hiện việc nộp tiền phạt làm nhiều lần.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 13 tháng 8 năm 201Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 20 tháng 8 năm 2013

 

1. Ông Nguyễn Văn Thiện, trú tại xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất mà trì hoãn, kéo dài việc làm thủ tục để cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho người dân thì phải xử lý như thế nào?


Trả lời:


Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định khi người sử dụng đất nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì:


- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn khi nhận hồ sơ có trách nhiệm viết giấy biên nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ, trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc phải kiểm tra hồ sơ và thông báo bằng văn bản cho người nộp hồ sơ biết nếu cần phải bổ sung, hoàn thiện hồ sơ (khoản 3 Điều 11).


Thời gian thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ được quy định như sau: Không quá năm mươi (50) ngày làm việc đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu (khoản 1 Điều 12).


Như vậy, nếu lý do mà Văn phòng đăng ký QSDĐ chưa thực hiện các thủ tục theo quy định để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho người dân là do thiếu hồ sơ hoặc vì bất kỳ lý do nào khác thì người dân có thể yêu cầu Văn phòng đăng ký QSDĐ thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và các giấy tờ cần bổ sung để người dân hoàn thiện hồ sơ theo quy định của pháp luật. Trường hợp không có lý do chính đáng thì có thể khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp huyện để được giải quyết. Trình tự giải quyết khiếu nại về đất đai được quy đinh theo Điều 138 Luật Đất đai:


- Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.


- Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau:


+ Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;


+ Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân;


+ Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính đó. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.


Đối với cán bộ thực hiện việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ mà cố tình trì hoãn, cố tình kéo dài, giải quyết chậm thời hạn, gây khó khăn, sách nhiễu thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Luật cán bộ, công chức.


2. Bà Nguyễn Thị Hồng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi đang vay nợ 4 tỷ nhưng nay không có khả năng trả nợ.  Hợp đồng vay nợ được công chứng hợp pháp. Nếu họ khởi kiện thì tôi trốn có được không? Nếu trốn thì tội có nặng hơn không? phải chịu bao nhiêu năm tù?


Trả lời:


Khi ký hợp đồng vay tiền, bà đã có nghĩa vụ phải trả nợ bên vay theo Điều 474 Bộ luật Dân sự. Nay gia đình bà không có khả năng trả nợ tức là không thể thực hiện được nghĩa vụ thì bà phải thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền theo Điều 302 Bộ luật Dân sự. Với hoàn cảnh như bà hiện nay thì cách tốt nhất không phải là chạy trốn mà nên tìm cách thương lượng với bên cho vay. Gia đình bà có thể thương lượng, thỏa thuận để họ hoãn thời gian trả nợ hoặc trả nợ từng phần ….


Nếu bà bỏ trốn thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về  tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009. Hành vi khách quan của tội phạm này là:


- Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ hợp đồng hợp pháp (vay, mượn, thuê …).


- Sau khi nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản mà mình đang quản lý hoặc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Nếu không dùng thủ đoạn gian dối như vậy, nhưng sau khi đã nhận tài sản rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản thì cũng được coi là hành vi chiếm đoạt tài sản.


Điều 140 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

 

“Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản


1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 đồng đến dưới 40 triệu đồng hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3  năm hoặc phạt tù từ 3  tháng đến 3 năm:


a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;


b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.


2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:


a) Có tổ chức;


b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

 

 

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;


đ) Tái phạm nguy hiểm;


e) Gây hậu quả nghiêm trọng.


3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:


a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;


b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.


4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:


a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;


b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.


5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.”

 

Về hình phạt thì Tòa án có thẩm quyền sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật, căn cứ vào nhiều yếu tố (như lỗi của người phạm tội, hậu quả pháp lý, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ …) để quyết định hình phạt theo khung hình phạt nêu trên. 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 13 tháng 8 năm 2013
Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 13 tháng 8 năm 2013

 

1.Ông Hoàng Hữu Thái, trú tại xã Yên Trạch huyện Cao Lộc hỏi: Khi nào thì phạm nhân được đặc xá và chế độ thăm gặp phạm nhân được quy định như thế nào?

 

 

 

Trả lời:

 


Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.

 

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 76/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đặc xá, nhân dịp sự kiện trọng đại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội có ý nghĩa lớn về đối nội, đối ngoại đối với sự phát triển của đất nước; ngày lễ Quốc khánh 2/9 hoặc các ngày lễ khác gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước; xét thấy cần thiết, Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định về đặc xá.

 

Tờ trình của Chính phủ phải nêu rõ sự cần thiết của việc đặc xá, dự kiến thời điểm đặc xá, đối tượng được đề nghị đặc xá, điều kiện của người được đề nghị đặc xá, các trường hợp không đề nghị đặc xá; thành phần Hội đồng Tư vấn đặc xá; tổ chức thực hiện đặc xá và những nội dung khác liên quan hoạt động đặc xá.

 

 

Điều kiện của người được đề nghị đặc xá

 

1. Căn cứ Điều 10, Điều 11 của Luật Đặc xá và Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước, Chính phủ hướng dẫn cụ thể điều kiện của người được đề nghị đặc xá.

 

2. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam được coi là đã lập công lớn, là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, là người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Đặc xá được hiểu như sau:

 

a) Người lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù: là người đang chấp hành hình phạt tù đã có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm; cứu được tính mạng của nhân dân hoặc tài sản lớn của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc khác được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

 

b) Người mắc bệnh hiểm nghèo: là người bị mắc một trong các bệnh ung thư, bại liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng; suy tim độ III hoặc suy thận độ IV trở lên, có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa hoặc bản sao Bệnh án của bệnh viện cấp tỉnh trở lên; nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS đang có những nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu, có phiếu xét nghiệm HIV và kết luận của Trung tâm Y tế cấp huyện trở lên.

 

c) Người ốm đau thường xuyên: là người đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện nhiều lần, trong một thời gian dài, không lao động, không tự phục vụ bản thân được và không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế cấp tỉnh trở lên.

 

d) Hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình: là người đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam có gia đình đang lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, không còn tài sản gì đáng kể hoặc có bố đẻ, mẹ đẻ vợ, chồng, con ốm đau nặng kéo dài, không có người chăm sóc mà người đó là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình cư trú.

 

Chế độ thăm gặp thân nhân của phạm nhân được quy định tại Điều 3 Thông tư 46/2011/TT-BCA cụ thể:

 

Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong một tháng (trừ trường hợp vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đang bị giam tại buồng kỷ luật), mỗi lần gặp không quá một giờ.

 

Phạm nhân chấp hành tốt nội quy, tích cực học tập, lao động, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện) cho phép kéo dài thời gian nhưng không quá 3 giờ.

 

Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 1 tháng. Phạm nhân chấp hành tốt nội quy hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng trong nhà thăm gặp không quá 24 giờ.

 

Phạm nhân là người chưa thành niên được gặp thân nhân không quá 3 lần trong 1 tháng, mỗi lần gặp không quá 3 giờ; nếu chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 24 giờ.

 

Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức cho phạm nhân được gặp thân nhân theo chế độ gặp vào tất cả các ngày trong tuần, ngày nghỉ, ngày lễ, Tết theo quy định./.

 

2. Bà Nguyễn Thị Lan, trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định hỏi: Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng như thế nào?

 

 

 

Trả lời:

 

Ngày 31/7/2013, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 10/2013/QĐ-UBND về thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

 

Theo đó, UBND tỉnh Ủy quyền cho Sở Xây dựng tổ chức cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng cấp đặc biệt, cấp I, cấp II; công trình tôn giáo, công trình di tích lịch sử - văn hoá, công trình tượng đài, tranh hoành tráng; công trình thuộc dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các công trình trên tuyến, đoạn đường phố chính tại thành phố Lạng Sơn.

 

UBND tỉnh Ủy quyền cho Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn cấp giấy phép xây dựng cho các công trình và nhà ở riêng lẻ tại các khu vực: Các khu cửa khẩu Tân Thanh, Cốc Nam, Hữu Nghị, Chi Ma; Khu phi thuế quan, khu hợp tác kinh tế biên giới Đồng Đăng, khu trung chuyển hàng hoá, khu chế xuất; Các khu công nghiệp Đồng Bành, Hồng Phong; Cụm công nghiệp địa phương số 2; Các khu công nghiệp, Cụm công nghiệp, Khu cửa khẩu khác được UBND tỉnh giao.

 

UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng các công trình còn lại và nhà ở riêng lẻ ở đô thị, bao gồm cả nhà ở riêng lẻ trong khu vực đã được Nhà nước công nhận bảo tồn thuộc địa giới hành chính do mình quản lý, trừ các khu vực UBND tỉnh đã ủy quyền cho Sở Xây dựng và Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn. UBND cấp xã cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt và tại những khu vực theo quy định của UBND cấp huyện khi xây dựng phải có giấy phép xây dựng thuộc địa giới hành chính do mình quản lý.

 

     

Quyết định nêu rõ: công trình do cơ quan nào cấp giấy phép xây dựng thì cơ quan đó điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng do mình cấp. UBND tỉnh quyết định thu hồi giấy phép xây dựng do cấp dưới cấp không đúng quy định./.

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 6 tháng 8 năm 2013

 

1.Ông Phạm Văn Hưng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp nào doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bị xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh?

   

Trả lời:

 

Tại khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bị xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh trong các trường hợp sau đây: 

 

- Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo; 

 

- Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp đó là: 

 

+ Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; 

 

+ Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; 

 

+ Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam; 

 

+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; 

 

+ Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; 

 

+ Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh; 

 

+ Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản. 

 

- Không đăng ký mã số thuế trong thời hạn một năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 

 

- Không hoạt động tại trụ sở đăng ký trong thời hạn sáu tháng liên tục, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính; 

 

- Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh trong mười hai tháng liên tục; 

 

- Ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh; 

 

- Doanh nghiệp không gửi báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày có yêu cầu bằng văn bản; 

 

- Kinh doanh ngành, nghề bị cấm.

 
2. Ông Hoàng Hồng Hà, trú tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Trường hợp một người tham gia đánh bạc, không bị bắt quả tang. Nhưng bị các đối tượng khác khai ra vậy có bị kết tội đánh bạc không hoặc như vậy bị xử lý như thế nào?

 
Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở (nguồn có được thông tin về tội phạm) sau đây làm căn cứ cho khởi tố vụ án, phục vụ cho quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội:

 

1. Tố giác của công dân;

 

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

 

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

 

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

 

5. Người phạm tội tự thú.

 

Ngoài ra, trong quá trình lấy lời khai của những người có hành vi phạm tội đã bị bắt mà phát hiện ra hành vi phạm tội của những người phạm tội khác chưa bị bắt thì những người có hành vi phạm tội chưa bị bắt này cũng sẽ bị áp dụng các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật như triệu tập, truy nã… để xử lý theo quy định của pháp luật.

 

Như vậy, trường hợp một người tham gia đánh bạc, mặc dù không bị bắt quả tang nhưng bị các đối tượng bị bắt khác khai ra. Người đó vẫn bị triệu tập theo quy định của pháp luật để làm rõ về hành vi đánh bạc nói trên, qua hoạt động điều tra, nếu có đủ các căn cứ xác định hành vi đánh bạc trái phép của nhóm đánh bạc này (có sự tham gia của người này) đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc trái phép được quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì hành vi đánh bạc đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị áp dụng hình phạt về tội phạm nói trên. Cụ thể:

  

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng trở lên đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tài điều 249 của BLHS năm 1999, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

  

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

  

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

  

c) Tái phạm nguy hiểm.

  

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”

 

Nếu hành vi đánh bạc nói trên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà chỉ là hành vi vi phạm hành chính thì hành vi đó sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, cụ thể: Điều 23 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội có quy định về việc xử phạt hành vi đánh bạc trái phép như sau:

 

1. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các ô số lô, số đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

  

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi đánh bạc sau đây nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự:

 

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

  

b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

 

c) Cá cược “cá độ” bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;”

 
Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 30 tháng 7 năm 2013

 

1. Ông Phan Hữu Hùng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng thì những người nào phải có nghĩa vụ kê khai tài sản?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 07 năm 2013   Về minh bạch tài sản, thu nhập thì Người có nghĩa vụ kê khai tài sản bao gồm:

 

1. Đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, người được dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

 

2. Cán bộ, công chức từ Phó trưởng phòng của Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên và người được hưởng phụ cấp chức vụ tương đương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

 

3. Sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó tiểu đoàn trưởng, người hưởng phụ cấp chức vụ tương đương phó tiểu đoàn trưởng trở lên trong Quân đội nhân dân; sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó tiểu đoàn trưởng, Phó trưởng công an phường, thị trấn, Phó đội trưởng trở lên trong Công an nhân dân.

 

4. Người giữ chức vụ tương đương Phó trưởng phòng trở lên tại bệnh viện, viện nghiên cứu, cơ quan báo, tạp chí, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

 

5. Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học, trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, người giữ chức vụ tương đương Phó trưởng phòng trở lên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề của Nhà nước.

 

6. Thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành viên, thành viên ban kiểm soát, kiểm soát viên, người giữ chức danh quản lý tương đương từ Phó trưởng phòng trở lên trong doanh nghiệp nhà nước, người là đại diện phần vốn của Nhà nước, phần vốn của doanh nghiệp nhà nước và giữ chức danh quản lý từ Phó trưởng phòng trở lên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước, của doanh nghiệp nhà nước.

 

7. Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Trưởng công an, chỉ huy trưởng quân sự, cán bộ địa chính, xây dựng, tài chính, tư pháp - hộ tịch xã, phường, thị trấn.

 

8. Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm tra viên, thẩm phán, thư ký tòa án, kiểm toán viên nhà nước, thanh tra viên, chấp hành viên, công chứng viên nhà nước.

 

9. Người không giữ chức vụ quản lý trong các cơ quan nhà nước, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong các lĩnh vực quy định tại Danh mục ban hành kèm theo Nghị định này.

 

2. Bà Hứa Mai Lan, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Gia đình tôi ký hợp đồng chuyển nhượng 1 thửa đất cho bà Nguyễn Thị Minh. Bà Minh đã nhận đất và trả 70% giá trị theo hợp đồng. Số tiền còn lại bà Minh cam kết thanh toán sau khi thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn thành. Tuy nhiên đến nay đã sau 3 tháng mà bà Minh vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại cho tôi, xin hỏi bà Minh có phải trả tiền gốc và lãi chậm trả không?

 

Trả lời:

 

Hợp đồng là sự thỏa thuận mang tính bắt buộc giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ. Nhằm đảm bảo các thỏa thuận được thực hiện nghiêm chỉnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền, pháp luật có quy định thỏa thuận phạt vi phạm là một biện pháp phòng ngừa, xử lý vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

 

Theo quy định tại Điều 422 Bộ luật Dân sự, phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận. Như vậy việc phạt vi phạm chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận của các bên về mức phạt trong hợp đồng.

 

Căn cứ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự, khi các bên giao kết hợp đồng xảy ra tranh chấp, bên cho rằng mình bị phía bên kia vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Bên có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, nếu họ không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

 

Cụ thể, đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, phạt vi phạm, bên đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh hành vi vi phạm của phía bên kia.

 

Căn cứ vào việc đánh giá chứng cứ, xác định hành vi vi phạm, Tòa án sẽ buộc bên vi phạm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng. Việc phạt vi phạm, Tòa án sẽ căn cứ vào mức phạt đã được thỏa thuận trong hợp đồng để xác định.

 

Trường hợp của bà, khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên mua đã nhận đất và trả 70% giá trị tiền mua thửa đất cho bà. Số tiền còn lại (30%) bên mua cam kết sau khi làm xong giấy tờ chuyển nhượng, sang tên chủ sử dụng thì sẽ thanh toán nốt. Thủ tục đã thực hiện xong, nhưng đã qua 3 tháng, bên mua chưa thanh toán số tiền còn lại đó. Đây là trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bà có quyền yêu cầu bên mua thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã cam kết và nộp phạt chậm thanh toán (nếu trong hợp đồng có thỏa thuận).

 

Trường hợp bên mua kéo dài thời gian, không thanh toán, bà cần khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào các chứng cứ chứng minh việc bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Tòa án sẽ buộc bên mua thanh toán đủ số tiền cho bà. Áp dụng khoản 2, Điều 438 và khoản 2, Điều 305 Bộ luật Dân sự, Tòa án sẽ tuyên buộc bên mua phải trả lãi kể từ ngày chậm trả, theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

 

Nếu trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký có thỏa thuận về việc phạt và mức phạt vi phạm nghĩa vụ, thì Tòa án sẽ căn cứ vào hợp đồng để xác định trị giá tiền phạt buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện nộp tiền phạt.

 

3. Ông Nguyễn Đức Hà, trí tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Những đối tượng nào thì được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”?

 

Trả lời:

 

Theo Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 05 năm 2013  của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thì:

 

1. Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:

 

a) Có 2 con trở lên là liệt sỹ;

 

b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

 

c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ;

 

d) Có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ;

 

đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

 

Người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

 

Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó.

 

Thương binh quy định tại Điểm b, Điểm đ Khoản 1 Điều này là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần.

 

Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

 

2. Những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng phản bội, đầu hàng địch, có hành động gây nguy hại cho cách mạng hoặc vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử bằng hình thức phạt tù mà bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được hưởng án treo) thì không được xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”./.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 23 tháng 7 năm 2013

1. Ông Trần Hữu Chiến, trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định hỏi: Tôi được biết Thủ tướng Chính phủ mới có chính sách về hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng. Đề nghị Đài cho biết vụ thể về chính sách này như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 26/4/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở.

Theo Quyết định này thì Hộ gia đình được hỗ trợ là hộ gia đình có người có công với cách mạng đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8/1945; Thân nhân liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng. Hộ gia đình đang ở nhà tạm hoặc nhà bị hư hỏng nặng kể cả những hộ đã được hỗ trợ theo các chính sách khác trước đây với mức độ phải phá dỡ để xây mới nhà ở hoặc phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở.

 

Mức Hỗ trợ ngân sách Nhà nước (gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương) sẽ hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải phá dỡ để xây mới nhà ở; hỗ trợ 20 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở. Việc hỗ trợ phải đảm bảo nguyên tắc sau khi được hỗ trợ, các hộ xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đã có, đảm bảo diện tích sử dụng tối thiểu 30m2 (đối với những hộ độc thân thì có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không thấp hơn 24m2); đảm bảo "3 cứng" (nền cứng, khung-tường cứng, mái cứng).

 

Cũng theo Quyết định này trong năm 2013, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện cơ bản xong việc hỗ trợ về nhà ở cho 71.000 hộ gia đình người có công với cách mạng.

 

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2013.

 

2. Bà Trần Hải Thanh, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau:

Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

 

Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế;

 

b) Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được quy định như sau:

 

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

 

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

 

c) Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được áp dụng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

 

d) Trong thời hạn được quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

 

3. Bà Hoàng Thị Hồng, trú tại xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng hỏi: Khi xử lý vi phạm hành chính thì nghiêm cấm những điều gì?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 12 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định những hành vi bị nghiêm cấm như sau:

1. Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.

 

2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

 

3. Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính.

 

4. Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

 

5. Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng quy định tại Luật này.

 

6. Áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.

 

7. Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.

 

8. Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

 

9. Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

 

10. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

 

11. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành chính, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính. 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ 3, ngày 16 tháng 7 năm 2013

 

1. Ông Vũ Đức Anh, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của Luật An toàn thực phẩm, nếu cá nhân hoặc tổ chức vi phạm về thành phần chất độc hại có trong thực phẩm quá mức cho phép, có thể gây tổn hại đến sức khỏe, thậm chí tính mạng con người thì mức xử  phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Sản xuất, kinh doanh thực phẩm có chứa chất  độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây  ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép là hành vi bị cấm theo quy định tại Điểm d Khoản 5 Điều 5 Luật An toàn thực phẩm.

Tổ chức, cá  nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm hành vì  nói trên sẽ bị xử phạt hành chính với mức tiền phạt từ 20.000.000 đ đến 40.000.000 đồng. Trường hợp áp dụng mức phạt tối đa là 40.000.000 đồng mà vẫn còn thấp hơn 7 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức tiền phạt sẽ được áp dụng bằng 7 lần giá trị thực phẩm vi phạm, tối đa là 100.000.000 đồng kèm theo buộc tiêu huỷ tang vật vi phạm.

Trong trường hợp tái phạm, ngoài hình thức phạt tiền như đã nêu, cơ sở vi phạm còn bị xử phạt bổ sung bằng hình thức: Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm từ 9 tháng đến 12 tháng.

Nếu thực phẩm có chứa chất độc hại đó gây hậu quả nghiêm trọng (tổn hại sức khỏe hoặc tử vong) thì cá nhân vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

 

2. Bà Nguyễn Thị Minh Anh hiện trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định hỏi: Bà có cháu là sĩ quan quân đội công tác tại một đơn vị đóng quân tại huyện Tràng Định. Nay cháu bà Ngọc muốn được đăng ký thường trú về nhà riêng tại huyện Tràng Định thì cần những thủ tục gì?

Trả lời:

Việc đăng ký hộ khẩu thường trú cho sỹ quan quân đội về nhà riêng được thực hiện theo quy định tại Điều 21, Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành gồm những thủ tục sau:

1. Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

2. Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp quy định tại Điều 5 Nghị định số 107/2007/NĐ-CPđược sửa đổi theo Nghị định 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 của Chính phủ. Trừ trường hợp đăng ký thường trú về với bố, mẹ hoặc vợ thì không phải xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về mối quan hệ nêu trên.

3. Giấy giới thiệu (ký tên, đóng dấu, ghi rõ họ tên) của Thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp kèm theo một trong các giấy tờ sau:

- Quyết định điều động, tuyển dụng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước là cán bộ, công chức, người thuộc Quân đội nhân dân;

- Quyết định về nâng lương cán bộ, công chức; nâng lương, phong, thăng cấp bậc hàm; quyết định bổ nhiệm