boat racing jet boat racing boat racing games offshore boat racing rc racing boat super boat racing speed boat racing speed boat racing games racing speed boats speed boat races key west boat races sprint boat racing

TRUYỀN HÌNH TRỰC TUYẾN

http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/BT-TRUA_22_05.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 22/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/BT TRUA_22_05.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/an-toan-giao-thong_3.jpg
CM An toàn giao thông ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/CM ATGT_21_05.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/chuyen-thoi-su_0.jpg
CM Chuyện thời sự ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/CM04_21_05 chuyen thoi su.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/phu-nu-xu-lang.jpg
CM phụ nữ xứ lạng ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/CM03_21_05 phu nu.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/khoa-hoc-cong-nghe.jpg
CM Khoa học công nghệ và đời sống ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/CM02_21_05 khoa hoc.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/doan-ket-toan-dan_0.jpg
CM Đoàn kết toàn dân ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/CM01_21_05LAI doan ket toan dan.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/ban-tin-sang_6.jpg
Bản tin sáng ngày 22/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/BT SANG_22_05.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/quoc-te_3.jpg
Bản tin Quốc tế sáng ngày 22/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/BT QUOC TE SANG_22_05.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/thoi-su_10.jpg
Chương trình Thời sự tổng hợp ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/thoi su_9.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/21_05_2015-BT-TRUA_.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/21_05_2015 BT TRUA_.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2015/05/21_05_2015-BT-SANG_.jpg
Bản tin sáng ngày 21/05/2015
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2015/05/21_05_2015 BT SANG_.flv

Trong 2 năm 2013-2014, do ảnh hưởng của mưa bão nên đường lên Khu du lịch Mẫu Sơn bị sạt lở nghiêm trọng với hàng chục điểm sạt lở giao thông trên tuyến này có thời điểm bị tê liệt. Nhằm đáp ứng yêu cầu thông tuyến lên khu du lịch, liên tục trong 2 năm qua, Sở Giao thông Vận tải (GTVT) đã bố trí kinh phí trên 18 tỷ đồng; chỉ đạo các đơn vị thi công tập trung khắc phục các vị trí sạt lở, để đảm bảo đi lại thông suốt.
Giá vàng SJC tại TP HCM sáng 22/5 đã tuột mốc 35 triệu đồng/lượng, giảm 20.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với phiên trước.
Qua 15 năm tổ chức, Hội nghị trở thành sự kiện y học của khu vực phía Nam, với sự tham dự của gần 2.000 đại biểu là các giáo sư, bác sĩ…
Đại biểu Võ Thị Dung: Quốc hội cần có một lời xin lỗi với người lao động, để mình cầu thị, thật tâm trong việc sửa đổi này”
Bị người tình của mẹ ngăn không cho ra khỏi nhà sau khi bị phát hiện hút shisha, Thủy dùng dao đâm ông này nhiều nhát đến tử vong.
Ngày 21 và 22-5, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Quy chế dân chủ cơ sở (QCDCCS) của Quân ủy Trung ương đã tiến hành kiểm tra, nắm tình hình kết quả xây dựng và thực hiện QCDCCS tại Quân đoàn 2.
Ngày 23/5 tới, tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Mỹ (American Museum of Natural History) sẽ diễn ra chuyên đề đặc biệt về châu Á chủ đề Big Cat với sự tham gia của Việt Nam.
Liên đoàn bóng đá châu Á vừa mở rộng lệnh cấm thi đấu đối với chín cầu thủ Việt Nam tham gia bán độ trong trận đấu tại AFC Cup.
Các phái viên hàng đầu Mỹ - Nhật -Hàn sẽ gặp nhau tại Seoul ngày 26 và 27/5 để thảo luận về diễn biến nóng trên bán đảo Triều Tiên.
Chiếc MPV giới thiệu thêm phiên bản RS mang định hướng thể thao, sử dụng động cơ 1,5 lít phun xăng trực tiếp tăng áp.
Bkav vừa tung ra một video ẩn ý về cuộc đua không cân sức giữa báo và ốc sên, ngụ ý so sánh tốc độ giữa công nghệ truyền dữ liệu không dây tầm gần trên Bphone với NFC.

Thông tin thời tiết

Lạng Sơn28
Hà nội 27
Đà Nẵng28
Hồ Chí Minh27

CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 21/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/CT KINH TOI 21-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 21/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/CT TAY 21-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 21/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/CT DAO 21-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 20/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/KINH TOI 20-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 20/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/CT TAY 20-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 20/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/CT DAO 20-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 19/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/KINH TOI 19-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 19/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/CT TAY 19-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 19/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/CT DAO 19-5.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 18/05/2015
sites/default/files/audio/2015/05/KINH TOI 18-5.mp3
Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 22/5/2015

  

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

 

6h02' : Bản tin sáng ngày 22/5/2015

 

6h08' : Bản tin Quốc tế ngày 22/5/2015

  

6h15’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 124

 

6h22’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 142

 

6h28’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 169

 

6h37’: Chuyên mục  An toàn giao thông

 

6h49’: Chuyên mục  Đại đoàn kết toàn dân

 

7h00’: Ký sự  Huyền thoại Phú Quốc – Tập 8/30

 

7h20’: Chuyên mục  Vì chủ quyền an ninh biên giới

 

7h33’: Khám phá thế giới  Quốc đảo Madagascar – Tập 3/8

 

8h00’: Chuyến xe nhân ái  Kỳ 154 – Tân Hạnh

 

8h26’: Diễn đàn doanh nghiệp 

 

8h26’: Ca nhạc  Chúng con canh giấc ngủ cho Người

 

9h00’: Bản tin sáng ngày 22/5/2015

 

9h05’: Bản tin Quốc tế ngày 22/5/2015

 

9h13’: Bản tin tiếng Trung ngày 21/5/2015

 

9h28’: Chuyên mục  Đảng trong cuộc sống hôm nay

 

9h37’: Hành tinh thể thao ngày 22/5/2015

 

 

10h00’: Chương trình thời sự tổng hợp ngày 21/5/2015

 

10h29’: Trang THCS  Số 141

 

10h47’: Chuyên mục  Tuổi trẻ Xứ Lạng

 

10h57’: Phim truyện  Ống hoàng thời trang - Tập 10/30 Phim HQ

 

11h45’: Bản tin trưa ngày 22/5/2015

 

12h00’: Phim truyện  49 ngày – Tập 19/30 Phim HQ

 

12h40’: Chương trình truyền hình tương tác Play Music

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 22/5/2015

 

15h17’: Phim truyện  Đại gia không chồng – Tập 2/48 Phim VN

 

16h01’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 124

 

16h07’: Chuyên mục  Khoa học công nghệ và đời sống

 

16h17’: Chuyên mục  Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay

 

16h29’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 22/5/2015

 

16h59’: Chuyên mục  Chuyện thời sự 

 

17h30’: Trang THCS  Số 142

 

17h46’: Phim hoạt hình  Dive Olly Dive P1 – T27/52

 

18h00’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 128

 

18h04’: Phim truyện  Tìm lại công lý – Tập 8/26 Phim HQ

 

18h49’: Ai? Việc gì? Ở đâu?  Số 34

 

19h00': Chuyển tiếp chương trình thời sự VTV1

 

19h50': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 22/5/2015

 

20h14’: Bản tin trong nước ngày 22/5/2015

 

20h19’: Bản tin Quốc tế ngày 22/5/2015

 

20h24’: Bản tin thể thao ngày 22/5/2015

 

20h37’: Chuyên mục  Lao động và công đoàn

 

20h46’: Chuyên mục  Sức khỏe và đời sống

 

20h58’: Phim truyện  Số phận bị đánh cắp – Tập 20/30 Phim VN

 

21h44’: Phim truyện  49 ngày - Tập 20/30 Phim HQ

 

22h29’: Chuyên mục  Giáo dục và đào tạo

 

22h40’: Bản tin tiếng Trung ngày 22/5/2015

 

22h55’: Chuyên mục  Trang truyền hình thành phố

 

23h06’: Bản tin sức khỏe  Tập 170

 

23h16’: Thăm nhà người nổi tiếng  Châu Thanh

 

23h34’: Ca nhạc  Đất nước tình yêu

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19  tháng 5 năm 2015

1. Ông Nguyễn Đức Nhuận, trú tại 16D, tổ 1, khối 7, ngõ 2, đường Lê Hồng  Phong, phường Tam Thanh, tp Lạng Sơn hỏi: Việc khiếu nại đối với cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng diện tích, không đúng đối tượng, không đúng quy định được pháp luật đất đai quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

- Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Nếu quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho con trai bác là không đúng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bác thì bác có quyền khiếu nại quyết định hành chính đó.

* Trình tự khiếu nại (Điều 7 Luật Khiếu nại):

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

* Hình thức khiếu nại (Điều 8 Luật Khiếu nại):

- Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

- Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

- Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.

 

 

2. Bà Trần Yến Thanh, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bố tôi là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, có 20% cổ phần trong công ty, bố tôi chết không để lại di chúc. Vậy số cổ phần này sẽ được chia như thế nào, thủ tục ra sao?

 

Trả lời:

 

 

Khi cổ đông của công ty cổ phần chết, thì số cổ phần (phần vốn góp) của họ trong công ty trở thành tài sản thừa kế để lại cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trường hợp cổ đông chết không để lại di chúc thì những người thừa kế theo pháp luật được hưởng. Tại Điều 676 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà  nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ  ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Người chưa thành niên sẽ do người Giám hộ thực hiện quyền và nghĩa vụ cổ đông thay cho họ đến khi con thành niên.

 

Thủ tục khai nhận thừa kế, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được thực hiện tại tổ chức công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng. Người thừa kế phải thông báo với công ty về việc hưởng thừa kế số cổ phần của cổ đông đã chết để trở thành cổ đông mới của công ty. Trường hợp người được hưởng thừa kế không muốn trở thành cổ đông sáng lập của Công ty thì có thể chuyển nhượng số cổ phần trên cho các cổ đông sáng lập khác trong Công ty hoặc cho người khác không phải là cổ đông sáng lập nếu được Đại hội đồng cổ đông Công ty chấp thuận.

Theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định việc đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty cổ  phần như sau:

Trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, công ty gửi thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:

- Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế  hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp và mã số thuế);

- Họ, tên, số Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ  chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, chức danh, địa chỉ thường trú của người đang là  đại diện theo pháp luật của công ty và của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty;

- Họ, tên và chữ ký của Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần.

Kèm theo Thông báo phải có: Quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty làm thay đổi nội dung điều lệ công ty, của Hội đồng quản trị công ty cổ phần trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty không làm thay đổi nội dung điều lệ công ty; bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty.

Quyết định, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông phải ghi rõ những nội dung được sửa  đổi trong Điều lệ công ty.

Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao giấy biên nhận và đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần./.

 


 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12  tháng 5 năm 2015


 

1. Bà Chu thị Kiền, trú tại xã Chu Túc, huyện Văn Quan hỏi: Tôi là dân tộc thiểu số thuộc hồ nghèo, tôi đang khởi kiện một vụ tranh chấp dân sự ra Tòa án. Được biết khi khởi kiện thì phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí cho Nhà nước. Vậy theo quy định hiện hành thì những đối tượng nào được miễn án phí, trường hợp của tôi có được miễn hay không?

 

Trả lời:

Theo quy định tại các Điều 8, 10, 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 thì:

Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án theo quy định của Pháp lệnh này.

 

Tại Điều 10 quy định Những trường hợp sau đây không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

2. Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước;

3. Viện Kiểm sát khởi tố vụ án hành chính;

4. Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm;

5. Cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 11 quy định về Miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí như sau:

Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sỹ; người có công với cách mạng.

2. Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

3. Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

4. Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5. Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ;

6. Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.

 

Như vậy căn cứ vào các quy định trên, theo trình bày trong đơn gia đình bà thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ thì thuộc đối tượng được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí theo khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tại Điều 15 quy định Người đề nghị được miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí ,án phí, lệ phí Tòa án phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng từ chứng minh thuộc trường hợp được miễn. Đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm làm đơn; Họ, tên, địa chỉ của người làm đơn; Lý do và căn cứ đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án; Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc.

 

 

 

2. Ông Vũ Văn Bẩy, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi niêm yết giá bán không đúng hoặc gian lận trong kinh doanh xăng dầu thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

 

Căn cứ Nghị định 97/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng thì hành vi vi phạm quy định về kinh doanh xăng dầu bị xử lý như sau:

Đối với Hành vi vi phạm quy định về niêm yết giá bán và giá bán lẻ xăng dầu (Điều 20 Nghị định):

1. Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không niêm yết giá bán lẻ xăng dầu hoặc niêm yết giá bán lẻ xăng dầu không đúng quy định, không rõ ràng gây nhầm lẫn cho khách hàng;

b) Niêm yết giá bán lẻ xăng dầu không đúng với giá do thương nhân đầu mối quy định;

c) Bán không đúng giá niêm yết do thương nhân đầu mối quy định.

2. Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tự ý điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu không đúng thời điểm thương nhân đầu mối quy định.

3. Hình thức xử phạt bổ sung

Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

Buộc nộp lại ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp được do thực hiện vi phạm hành chính mang lại.

Đối với Hành vi gian lận về sử dụng phương tiện đo lường trong kinh doanh xăng dầu (Điều 22 Nghị định):

1. Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không có chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kiểm định, tem kiểm định) phương tiện đo xăng dầu;

b) Sử dụng chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kiểm định, tem kiểm định) phương tiện đo xăng dầu đã hết hiệu lực;

c) Sử dụng chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kiểm định, tem kiểm định) bị tẩy xóa, sửa chữa.

2. Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng phương tiện đo bị sai, bị hỏng hoặc không đạt yêu cầu về đo lường hoặc sai scủa phương tiện đo vượt quá giới hạn sai số cho phép;

b) Tự ý tháo dỡ niêm phong, kẹp chì, dấu kiểm định, tem kiểm định trên phương tiện đo mà không thông báo với cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

3. Phạt tiền từ 35 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kim định, tem kim định) giả mạo;

b) Không thực hiện kiểm định phương tiện đo trong thời hạn quy định theo yêu cu của cơ quan có thẩm quyền;

c) Làm thay đổi cấu trúc kỹ thuật, đặc tính kỹ thuật đo lường của phương tiện đo;

d) Tác động, điều chỉnh, sửa chữa, thay thế, lắp thêm, rút bớt thiết bị của phương tiện đo làm sai lệch kết quả đo hoặc sử dụng các thiết bị khác để điều chỉnh sai số của phương tiện đo vượt quá giới hạn sai số cho phép;

đ) Có hành vi gian lận khác về đo lường khi bán xăng dầu.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu từ 01 tháng đến 06 tháng đối với vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a Khoản 2 và Khoản 3 Điều này;

b) Tịch thu chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định, tem kiểm định) đối với vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 1, Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 3 Điều này;

c) Tịch thu phương tiện đo và các thiết bị khác đối với vi phạm quy định tại Điểm c, Điểm d Khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc đình chỉ sử dụng phương tiện đo vi phạm và thực hiện kiểm định phương tiện đo trước khi đưa vào sử dụng đi với vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Điểm a, Điểm b, Điểm đ Khoản 3 Điều này;

b) Buộc nộp lại ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do vi phạm hành chính đối với vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 và Khoản 3 Điều này./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5  tháng 5 năm 2015

 

1. Ông Hà Anh Tuấn, trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hiện nay, các cơ quan Nhà nước đã và đang tiến hành nhiều cuộc thanh kiểm tra các lĩnh vực để phòng ngừa tham nhũng. Sau khi Thanh tra đã ban hành Kết luận thanh tra, vậy pháp luật quy định như thế nào về việc thực hiện kết luận thanh tra để kết luận này được chấp hành nghiêm chỉnh?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định việc thực hiện kết luận thanh tra như sau:

 

Về nguyên tắc thực hiện kết luận thanh tra như sau:

 

Kết luận thanh tra phải được đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh;

 

Các sai phạm được xác định cụ thể, rõ ràng trong kết luận thanh tra phải được xử lý nhanh chóng, nghiêm chỉnh; kiến nghị, yêu cầu trong kết luận thanh tra phải được xem xét, xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật;

 

Kết luận thanh tra phải được cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện;

 

Nội dung đang được thanh tra lại, nội dung kết luận thanh tra xin ý kiến chỉ đạo mà chưa có ý kiến chỉ đạo xử lý của người có thẩm quyền thì chưa bắt buộc phải thực hiện.

 

Xử lý cán bộ, công chức, viên chức, người có hành vi vi phạm

 

Căn cứ phân cấp quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với cơ quan ban hành kết luận thanh tra có trách nhiệm: Chỉ đạo việc tổ chức kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân có hành vi vi phạm; Tiến hành thủ tục xử lý kỷ luật, ban hành quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó.

 

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ thuật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, pháp luật về lao động và pháp luật có liên quan.

 

2. Bà Hoàng Thị Phi, trú tại xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về tội Hủy hoại tài sản của người khác?

 

Trả lời:

 

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác được quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự:

 

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

 

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

 

d) Để che giấu tội phạm khác;

 

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

 

e) Tái phạm nguy hiểm;

 

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

 

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

 

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20  năm hoặc tù chung thân:

 

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

 

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm./.
 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 28  tháng 4 năm 2015


1. Bà Mạc Thị Khít, 69 tuổi, trú tại thôn Khưa Đa, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Bà có mẹ đẻ là người hoạt động cách mạng trước 1945 được Nhà nước tặng Bằng có công với nước. Nay mẹ bà đã qua đời, vậy gia đình có được hưởng chế độ, chính sách gì không, thủ tục phải làm những gì?

 

Trả lời:

 

 

Theo quy định tại Điều 9 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012 thì:

1. Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.

2. Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 bao gồm:

a) Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng;

b) Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết;

c) Cấp tiền mua báo Nhân dân; được tạo điều kiện tham gia sinh hoạt văn hóa, tinh thần phù hợp;

d) Được Nhà nước hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao và hoàn cảnh của từng người.

3. Các chế độ ưu đãi khi người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 chết bao gồm:

a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đang hưởng chế độ ưu đãi quy định tại khoản 2 Điều này mà chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp;

 

b) Người hoạt động cách mạng (trước ngày 02 tháng 01 năm 1945 đã chết mà chưa hưởng chế độ ưu đãi quy định tại khoản 2 Điều này thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần;

c) Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng sống cô đơn không nơi nương tựa, con mồ côi cả cha mẹ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng;

d) Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được Nhà nước mua bảo hiểm y tế.

4. Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 được hưởng chế độ ưu tiên, hỗ trợ quy định tại khoản 5 Điều 4 của Pháp lệnh này.

5. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.”

Như vậy, nếu bà là con đẻ của người hoạt động cách mạng trước 1945 mà đến nay gia đình vẫn chưa được hưởng chế độ gì thì đề nghị bà liên hệ đến Phòng Lao động, thương binh xã hội huyện Văn Lãng để được hướng dẫn thủ tục, hồ sơ hưởng chế độ.

 

 

2. Ông Nông Văn Mỵ, 70 tuổi. Trú tại thôn kéo Ái, xã Trấn Ninh, huyện Văn Quan hỏi: Anh trai tôi là Nông Văn San đi bộ đội từ năm 1962 thuộc đại đội C22, sư đoàn 371 đến năm 1970 được xuất ngũ về địa phương, đến năm 1970 anh trai tôi chết nhưng đến nay mất hết các giấy tờ gốc, tôi đã lấy 2 giấy chứng nhận của 2 người làm chứng ở cùng đơn vị. Vậy anh trai tôi có được hưởng chế độ người tham gia kháng chiến chống Mỹ không?

 

 

 

Trả lời:

 

 

Vấn đề ông hỏi, ngày 27/10/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg, về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng.

Theo đó, chế độ trợ cấp hàng tháng được áp dụng đối với đối tượng nhập ngũ từ ngày 30/4/1975 trở về trước, có đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế trong quân đội (bao gồm cả số tiếp tục công tác sau đó thôi việc), được thực hiện chế độ trợ cấp hàng tháng theo số năm công tác thực tế trong quân đội, đủ 15 năm được trợ cấp 600.000 đồng/người/tháng; sau đó cứ thêm một năm (đủ 12 tháng) được tính thêm 5% trên mức trợ cấp khởi điểm.

 Chế độ trợ cấp một lần áp dụng đối với đối tượng có dưới 15 năm công tác thực tế trong quân đội, có đủ 2 năm công tác thực tế trong quân đội trở xuống, mức trợ cấp bằng 2.000.000 đồng; từ năm thứ 3 trở đi, mỗi năm được tính hưởng trợ cấp bằng 600.000 đồng.

Khi tính thời gian hưởng chế độ trợ cấp một lần, nếu có tháng lẻ thì đủ 6 tháng trở lên được tính tròn một năm. Dưới 6 tháng được tính nửa năm. Khi Chính phủ điều chỉnh tiền lương, trợ cấp thì mức hưởng của đối tượng nêu trên được diều chỉnh tương ứng. Người được hưởng trợ cấp hàng tháng từ trần thì thôi hưởng từ tháng tiếp theo; thân nhân của người từ trần được hưởng trợ cấp một lần bằng 3 tháng trợ cấp hiện hưởng của người từ trần.

 

Đến nay, việc thực hiện chế độ theo quyết định nêu trên cơ bản đã hoàn thành. Tuy nhiên, còn một số ít đối tượng do nhiều nguyên nhân còn tồn sót chưa được giải quyết chế độ; Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động TBXH, Bộ Tài chính đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương tổ chức giải quyết dứt điểm trong thời gian sớm nhất.

Đề nghị ông liên hệ với Hội đồng chính sách xã, hoặc Ban Chỉ huy Quân sự huyện Văn Quan để được hướng dẫn cụ thể./.


 
 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 21  tháng 4 năm 2015



 

1. Ông Nguyễn Văn Lợi, trú tại khu Ga Bắc, thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Trước đây tôi bị kết án về tội Cố ý gây thương tích với mực hình phạt 3 năm tù giam. Tôi đã chấp hành án phạt tù xong đến nay đã được 3 năm. Hỏi tôi đã được xóa án tích chưa?

 

 

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì có 2 trường hợp xóa án tích như sau:

 

1. Đương nhiên được xóa án tích khi thỏa mãn những điều kiện sau: Không phải bị kết tội về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc về tội phạm chống phá hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

 

+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

+ 3 năm trong trường hợp hình phạt là tù đến 3 năm;

+ 5 năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 3 năm đến 15 năm;

+ 7 năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm.

Tuy nhiên không chỉ cần đáp ứng về mặt thời gian, ngoài việc chấp hành hình phạt chính, người bị kết án còn phải chủ động tự giác chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung và các quyết định khác trong bản án.

 

2. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án: Tòa án quyết định xoá án tích đối với những người bị kết án về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV Bộ luật Hình sự (Các tội xâm phạm An ninh quốc gia và Tội phạm phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh- Loại tội này thì phải có quyết định của Tòa án mới được xóa án tích), căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án, trong các trường hợp sau đây:

- Đã bị phạt tù 3 năm mà không phạm tội mới trong thời hạn 3 năm kể từ khi chấp hành xong bản án họặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

- Đã bị phạt tù trên 3 năm đến 15 năm mà không phạm tội mới trong thời hạn 7 năm kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành án.

- Đã bị phạt tù trên 15 năm mà không phạm tội mới trong thời hạn 10 năm kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành án.

Lưu ý: Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ 01 năm sau mới được xin xóa án tích; nếu bị Tòa án bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau 02 năm mới được xin xóa án tích.

Trường hợp của bạn bị phạt tù không quá 3 năm, sau khi chấp hành xong bản án và hình phạt bổ sung thì sau 3 năm bạn đương nhiên được xóa án tích.

 

2. Bà Hà Thanh Vân, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Được biết người có thành tích phát hiện, tố cáo cáo hành vi tham nhũng sẽ được khen thưởng. Vậy đối tượng và mức khen thưởng được quy định cụ như thế nào?

 

 

Trả lời:

Nhằm khuyến khích công dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Tổng Thanh tra Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-TTCP-BNV quy định khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng. 

Đối tượng được khen thưởng

Đối tượng được khen thưởng bao gồm: Cá nhân lập thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng; Cá nhân lập thành tích xuất sắc trong việc cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xử lý hành vi tham nhũng bị tố cáo, thu hồi tài sản tham nhũng.

Mức thưởng

Mức thưởng đối với cá nhân được khen thưởng thực hiện theo quy định tại Điều 72, Điều 75 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng.

Ngoài mức thưởng quy định tại Khoản 1 Điều này, cá nhân được khen thưởng còn được thưởng từ Quỹ Khen thưởng về phòng, chống tham nhũng do Thanh tra Chính phủ quản lý với mức thưởng như sau:

1. Huân chương Dũng cảm: 60 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi tắt là mức lương cơ sở);

2. Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: 40 lần mức lương cơ sở;

3. Bằng khen của cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương: 20 lần mức lương cơ sở;

4. Trong trường hợp giúp thu hồi được cho Nhà nước số tiền, tài sản có giá trị trên 600 lần mức lương cơ sở thì được xét thưởng vượt mức quy định tại điểm a, b, c Khoản 2 Điều này nhưng không vượt quá 10% số tiền, giá trị tài sản đã thu hồi được và không vượt quá 3.000 lần mức lương cơ sở./.

 
 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 14  tháng 4 năm 2015

 

 

1. Bà Trần Thị Khải, trú tại khối Văn Miếu, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi đang đứng tên một công ty TNHH có trụ sở tại phường Chi Lăng, nay muốn tạm ngưng hoạt động trong một thời gian thì phải làm những thủ tục gì? Khi muốn tiếp tục hoạt động trở lại thì phải làm thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Khoản 1 Điều 156 Luật Doanh nghiệp 2005 và hướng dẫn cụ thể tại Điều 43 của Nghị định 88/2006/NĐ-CP thì:

 

Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh phải thông báo bằng văn bản cho Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế ít nhất 15 (mười lăm) ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh. Nội dung thông báo gồm:

 

1. Tên, địa chỉ trụ sở chính, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

 

2. Ngành, nghề kinh doanh.

 

3. Thời hạn tạm ngừng kinh doanh, ngày bắt đầu và ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng. Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không được quá 1 (một) năm. Sau khi hết thời hạn đã thông báo, nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục tạm ngừng kinh doanh thì phải thông báo tiếp cho Phòng Đăng ký kinh doanh. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh không được quá 2 (hai) năm.

 

4. Lý do tạm ngừng kinh doanh.

 

5. Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

 

Kèm theo thông báo phải có quyết định và biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh.

 

 Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và ghi vào sổ theo dõi.

 

 2. Ông Nguyễn Ngọc Thế, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 13 Luật Tố cáo quy định Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước như sau:

 

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

 

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

 

3. Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

 

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

 

5. Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

 

6. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

 

 

7. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp./.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 7  tháng 4 năm 2015

1. Bà Nguyễn Cẩm Tú, trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi:  Người có hành vi trồng cây thuốc phiện sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 192 Bộ luật Hình sự quy định: 

 

1.Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, đã được giáo dục nhiều lần (từ hai lần trở lên), đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống và đã bị xử phạt hành chính (cảnh cáo trở lên) về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm: có tổ chức; tái phạm tội này. 

 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

 

Theo quy định tại Mục 1 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì: “Trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy” quy định tại Điều 192 của Bộ luật Hình sự là hành vi gieo trồng, chăm bón hoặc thu hoạch các bộ phận của cây (như lá, hoa, quả, thân cây có chứa chất ma túy). Người thực hiện hành vi trồng cây có chứa chất ma túy chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã được áp dụng đầy đủ cả ba biện pháp: “Đã được giáo dục nhiều lần”, “đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống” và “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

 

2. Ông Hoàng Xuân Hùng, trú tại khối Cửa Nam, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hiện nay pháp luật quy định như thế nào về hành nghề công chứng?

 

Trả lời:

 

Luật Công chứng số 53/2014/QH13 được ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 có riêng 1 Chương IV quy định về hành nghề công chứng. Theo đó về hình thức hành nghề của công chứng viên Điều 34 quy định:

 

“1. Các hình thức hành nghề của công chứng viên bao gồm:

 

a) Công chứng viên của các Phòng công chứng;

 

b) Công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng;

 

c) Công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại Văn phòng công chứng.

 

2. Việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng công chứng viên quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về viên chức.

 

Việc ký và thực hiện hợp đồng lao động với công chứng viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về lao động.”

 

Việc đăng ký hành nghề phải phù hợp với quy định tại Điều 35:

 

“1. Tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hành nghề cho công chứng viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động.

 

Văn phòng công chứng đăng ký hành nghề cho công chứng viên của mình khi thực hiện đăng ký hoạt động hoặc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng quy định tại Điều 23 và Điều 24 của Luật này.

 

Phòng công chứng đăng ký hành nghề cho công chứng viên của mình sau khi có quyết định thành lập Phòng công chứng hoặc khi bổ sung công chứng viên.

 

2. Sở Tư pháp thực hiện đăng ký hành nghề và cấp Thẻ công chứng viên cho công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên.

 

3. Khi công chứng viên không còn làm việc tại tổ chức hành nghề công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm thông báo cho Sở Tư pháp để xóa đăng ký hành nghề của công chứng viên. Công chứng viên không được ký văn bản công chứng kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động tại tổ chức hành nghề công chứng.”

 

Đối với thẻ công chứng viên, Điều 36 quy định rõ:

 

“1. Thẻ công chứng viên là căn cứ chứng minh tư cách hành nghề công chứng của công chứng viên. Công chứng viên phải mang theo Thẻ công chứng viên khi hành nghề công chứng.

 

2. Công chứng viên được cấp lại Thẻ công chứng viên trong trường hợp Thẻ đã được cấp bị mất, bị hỏng.

 

Thẻ công chứng viên bị thu hồi trong trường hợp công chứng viên bị miễn nhiệm hoặc bị xóa đăng ký hành nghề.

 

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết mẫu Thẻ công chứng viên, thủ tục đăng ký hành nghề, cấp, cấp lại và thu hồi Thẻ công chứng viên.”

 

Luật cũng quy định về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên như sau:

“1. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên là loại hình bảo hiểm bắt buộc. Việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên phải được duy trì trong suốt thời gian hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.

 

2. Tổ chức hành nghề công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên hành nghề tại tổ chức mình.

 

Chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày mua bảo hiểm hoặc kể từ ngày thay đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm, tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm thông báo và gửi bản sao hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng thay đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên cho Sở Tư pháp.

 

3. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên.”

 

Việc bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng cũng được quy định rõ:

 

“1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.

 

2. Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”./.

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 31  tháng 3 năm 2015

 
 

1. Bà Nguyễn Thị Hải, trú tại xã Đào Viên, huyện Tràng Định hỏi: Gia đình tôi sử dụng nhiều loại đất khác nhau. Vậy việc xác định loại đất dựa trên các căn cứ nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 11 Luật đất đai năm 2013 thì việc xác định loại đất theo một trong các căn cứ sau đây:

a) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

b) Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013[1] đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

c) Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

Đối với trường hợp không có các giấy tờ nêu trên thì việc xác định loại đất thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Trong trường hợp không có các giấy tờ nêu trên thì theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của  Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai (Nghị định số 43/2014/NĐ-CP), việc xác định loại đất được thực hiện như  sau:

- Trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì loại đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng.

- Trường hợp sử dụng đất do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì căn cứ vào nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất để xác định loại đất.

- Trường hợp thửa đất đang sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau (không phải là đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất) thì việc xác định loại đất được thực hiện theo quy định sau đây:

+ Trường hợp xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích sử dụng thì tách thửa đất theo từng mục đích và xác định mục đích theo hiện trạng sử dụng của từng thửa đất đó;

+ Trường hợp không xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích thì mục đích sử dụng đất chính được xác định theo loại đất hiện trạng có mức giá cao nhất trong bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định; trường hợp sử dụng đất sau khi có quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất để xác định mục đích chính.

- Trường hợp đất có nhà chung cư có mục đích hỗn hợp được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, trong đó có một phần diện tích sàn nhà chung cư được sử dụng làm văn phòng, cơ sở thương mại, dịch vụ thì mục đích sử dụng chính của phần diện tích đất xây dựng nhà chung cư được xác định là đất ở.

 

2. Ông Hoàng Xuân Mười, trú tại khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ mà không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú thì bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 8 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì hành vi Vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú bị xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

b) Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng;

c) Không chấp hành việc kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra tạm trú, kiểm tra lưu trú hoặc không xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tẩy, xóa, sửa chữa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú;

b) Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú;

c) Thuê, cho thuê sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

d) Sử dụng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

đ) Cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú;

e) Tổ chức kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được đăng ký thường trú, tạm trú, cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

b) Làm giả sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú;

c) Sử dụng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giả;

d) Cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó;

đ) Cá nhân, chủ hộ gia đình cho người khác nhập hộ khẩu vào cùng một chỗ ở của mình nhưng không bảo đảm diện tích tối thiểu trên đầu người theo quy định;

e) Ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động không thuộc doanh nghiệp của mình để nhập hộ khẩu;

g) Sử dụng hợp đồng lao động trái với quy định của pháp luật để nhập hộ khẩu;

h) Không khai báo tạm trú cho người nước ngoài thuê nhà để ở.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm a Khoản 2; Điểm a, b, c Khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thu hồi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú đối với hành vi quy định tại Điểm a Khoản 2; Điểm a Khoản 3 Điều này;

b) Buộc hủy bỏ thông tin, tài liệu sai sự thật đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này;

c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều này;

d) Buộc hủy bỏ hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật để nhập hộ khẩu quy định tại Điểm e, g Khoản 3 Điều này.

 

Như vậy hành vi cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú thì bị phạt từ 1 đến 2 triệu đồng theo điểm đ khoản 2 điều 8 Nghị định nêu trên./.



 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 24  tháng 3 năm 2015

 
 

1. Bà Trần Thị Lằm, trú tại xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng hỏi: Người hành nghề mê tín dị đoan có thể bị khởi tố hình sự hay không? Pháp luật hình sự xử lý với tội này như thế nào?

 

Trả lời:

 Mê tín, dị đoan là tàn dư lạc hậu của chế độ cũ. Người mê tín, dị đoan thường có niềm tin mù quáng vào những điều duy tâm không có căn cứ khoa học, tin vào ma quỷ, thần thánh, định mệnh...

Việc hành nghề mê tín dị đoan không chỉ trực tiếp xâm hại đến trật tự xã hội, nếp sống văn minh, mà trong nhiều trường hợp còn đe dọa tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân.

Nhằm giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của nhân dân, Đảng, Nhà nước đã mở cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư", trong đó có nội dung đấu tranh phòng, chống và từng bước loại trừ mê tín, dị đoan ra khỏi đời sống xã hội. Đồng thời, xác định việc hành nghề mê tín, dị đoan là một tội phạm (hành vi nguy hiểm cho xã hội), quy định tại Điều 247 Bộ Luật Hình sự năm 1999, nội dung cụ thể như sau:

1. Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội làm chết người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

 

Như vậy, người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định nêu trên.

 

2. Ông Đinh Xuân Thảo, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người đi làm nghề khai thác giếng khoan có cần phải có giấy phép hay không, nếu không có giấy phép thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

Căn cứ Điều 6 Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản thì hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đăng ký, không có giấy phép theo quy định thì bị Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi khai thác nước dưới đất thuộc các trường hợp phải đăng ký mà không đăng ký theo quy định.

Tại Điều 8 quy định hành vi phạm quy định về hành nghề khoan nước dưới đất như sau:

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện báo cáo định kỳ hàng năm về khoan nước dưới đất theo quy định của Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Thi công giếng khoan không theo đúng quy trình, thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt gây ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng nước dưới đất;

b) Thực hiện hành nghề không đúng quy mô đã quy định trong Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất;

c) Thi công khoan thăm dò, khoan khai thác nước dưới đất cho tổ chức, cá nhân không có Giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất theo quy định.

3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Cho mượn, cho thuê giấy phép để hành nghề khoan nước dưới đất;

b) Hành nghề khoan nước dưới đất mà không có Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất theo quy định của pháp luật;

c) Hành nghề khoan nước dưới đất khi giấy phép đã hết hạn, trừ trường hợp đã nộp hồ sơ xin gia hạn theo quy định.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tước quyền sử dụng Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất trong thời hạn từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng đối với hành vi vi phạm tại Điểm a Khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2, Điểm b và Điểm c Khoản 3 Điều này mà gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng và số lượng nguồn nước.

 


Trả lời bạn nghe đ
ài Thứ ba, ngày 17  tháng 3 năm 2015

 

 

1. Bà Hà Thị Nhung, trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Lãng hỏi: Hiện nay các cơ quan nhà nước đã và đang thực hiện tốt quy chế dân chủ trong cơ quan. Vậy cụ thể về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ quy định về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm thì Dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị bao gồm: trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nội bộ của cơ quan, đơn vị; những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết; những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan quyết định; những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra.

 

Mục đích thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị là Phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước; Phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

 

Yêu cầu đặt ra của việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị là: thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị phải gắn liền với việc bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức Đảng ở cơ quan, đơn vị; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và của các tổ chức đoàn thể quần chúng của cơ quan, đơn vị; Dân chủ trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; kiên quyết xử lý hành vi lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức và quyền làm chủ của nhân dân, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

 

Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị bao gồm: Thực hiện dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị; trong quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; Tổ chức các cuộc họp giao ban định kỳ, hành tháng, hành quý và 06 tháng để đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao và đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phải thực hiện trong thời gian tới của cơ quan, đơn vị. Cuối năm, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải đánh giá tổ chức tổng kết hoạt động của cơ quan, đơn vị tại hội nghị cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Nghị định này; tổ chức đánh giá định kỳ hàng năm với cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý theo trình tự, thủ tục quy định... Lắng nghe ý kiến phản ánh, phê bình của cán bộ, công chức, viên chức. Khi cán bộ, công chức, viên chức đăng ký được gặp và có nội dung, lý do cụ thể thì bố trí thời gian thích hợp để gặp và trao đổi; Thông báo công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết được những việc được quy định tại Nghị định này; ban hành quy chế quản lý trang thiết bị làm việc trong cơ quan, đơn vị bảo đảm thực hiện hiệu quả, tiết kiệm;...

 

Bên cạnh đó, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức cũng được quy định như sau: nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời; thực hiện các quy định về nghĩa vụ, đạo đức văn hóa giao tiếp, quy tắc ứng xử, nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp và những việc không được làm theo quy định của pháp luật; Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người phụ trách trực tiếp và trước người đứng đầu trong cơ quan, đơn vị về việc thi hành nhiệm vụ của mình. Trong khi thi công công vụ, cán bộ, công chức được trình bày ý kiến, đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình khác với ý kiến của người phục trách trực tiếp, nhưng vẫn phải chấp hành sự chỉ đạo và hướng dẫn của người phụ trách trực tiếp, đồng thời có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp có thẩm quyền ...Thực hiện phê bình và tự phê bình nghiêm túc, phát huy ưu điểm, có giải pháp sửa chữa khuyết điểm; thẳng thắn đóng góp ý kiến để xây dựng nội bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh; Đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các văn bản, đề án của cơ quan, đơn vị khi được yêu cầu; Báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động của cơ quan, đơn vị.

 

2. Ông Hoàng Xuân Cần, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thù lao và thanh toán chi phí cho luật sư trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 191/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 12 tháng 12 năm 2014 giữa Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về thù lao và thanh toán chi phí cho luật sư trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Tại Điều 2 Thông tư quy định, ngoài khoản thù lao và các khoản chi phí được nêu dưới đây do cơ quan tiến hành tố tụng thanh toán, luật sư không được đòi hỏi thêm bất cứ khoản tiền, lợi ích nào khác từ người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thân nhân của họ.

 

Theo đó, mức thù lao và các khoản chi phí cho luật sư được quy định như sau:

 

Mức thù lao

 

Mức thù lao chi trả cho 01 ngày làm việc của luật sư tham gia tố tụng trong vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu là 0,4 lần mức lương cơ sở do Chính phủ quy định. Ngày làm việc của luật sư được tính trên cơ sở 08 giờ làm việc.

 

Trong trường hợp, luật sư làm việc trong nhiều ngày, nhưng mỗi ngày  thực hiện không đủ 08 giờ, thì số ngày làm việc của luật sư được tính trên tổng số giờ làm việc thực tế của luật sư. Số giờ làm việc lẻ còn lại (nếu có) được tính như sau:Nếu số giờ làm việc lẻ không đủ 06 giờ thì tính thành ½ ngày làm việc. Nếu số giờ làm việc lẻ từ 06 giờ trở lên thì tính thành 01 ngày làm việc.

 

Thời gian làm việc của luật sư

 

Thời gian làm việc của luật sư được tính bao gồm:

 

Thời gian gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử: Được xác định bằng thời gian thực tế luật sư gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam của cơ quan tiến hành tố tụng theo lịch cho phép;

 

Thời gian thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa: Được xác định căn cứ theo văn bản thoả thuận về số ngày thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa giữa cơ quan tiến hành tố tụng với luật sư tuỳ theo tính chất phức tạp của từng vụ án;

 

Thời gian nghiên cứu hồ sơ và chuẩn bị tài liệu tại cơ quan tiến hành tố tụng: Được xác định theo bảng chấm công có xác nhận của nơi luật sư đến nghiên cứu hồ sơ;

 

Thời gian tham gia phiên tòa: Được xác định theo thời gian diễn ra phiên toà xét xử; trong trường hợp phiên toà hoãn xử không phải do yêu cầu của luật sư và luật sư không được báo trước, thì cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm thanh toán tiền thù lao cho luật sư bằng ½ ngày làm việc của luật sư;

 

Thời gian hợp lý khác theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện việc tham gia tố tụng.

 

Trường hợp luật sư gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo lịch cho phép gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam hoặc thời gian tham gia phiên tòa vào ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ, ngày lễ thì thời gian làm việc được tính mức theo nguyên tắc chi trả tiền lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể như sau:

 

Mức 150% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường.

 

Mức 200% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần.

 

Mức 300% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ bù nếu ngày nghỉ lễ trùng vào ngày nghỉ hàng tuần.

 

Chi phí khác

 

Ngoài khoản tiền thù lao, trong quá trình chuẩn bị và tham gia bào chữa tại phiên toà, nếu luật sư phải đi công tác thì được thanh toán công tác phí  theo quy định hiện hành về chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác trong nước theo mức chi áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo.

 

Thời gian và địa điểm đi công tác của luật sư phải được cơ quan tiến hành tố tụng xác nhận.

 

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2015, thay thế Thông tư liên tịch số 66/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 19/6/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về thù lao và thanh toán chi phí cho luật sư trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Chế độ thù lao cho luật sư quy định tại Thông tư này được áp dụng từ ngày 28 tháng 11 năm 2013./.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 10  tháng 3 năm 2015

 

1. Bà Hoàng Thị Bảy, trú tại xã Đại Đồng huyện Tràng Định hỏi:  Tôi có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài, công ty tuyển dụng yêu cầu phải nộp lý lịch tư pháp nhưng do điều kiện cá nhân, tôi không thể đến Sở Tư pháp làm thủ tục đề nghị cấp lý lịch tư pháp được. Vậy tôi có thể gửi yêu cầu cấp phiếu LLTP qua đường bưu điện không và thủ tục gồm những gì?

 

Trả lời:

 

Ngày 8/1/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 19/QĐ-TTg về phề duyệt  Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Đề án được thực hiện trong 3 năm (2015 - 2017), cụ thể, việc thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính được thực hiện từ năm 2015, ngay sau khi Đề án được phê duyệt. Năm 2015, sau khi Đề án được phê duyệt, chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, kỹ thuật. Khi đáp ứng đủ các điều kiện trên sẽ triển khai thực hiện thí điểm phương thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. 

 

Đối với cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, ngoài phương thức nộp hồ sơ và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia như hiện nay, theo Đề án này, cá nhân có thể lựa chọn một trong hai phương thức sau: Cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính hoặc đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. 

 

Về phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính

 

Cá nhân gửi hồ sơ yêu cầu và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Cụ thể, cá nhân gửi 1 bộ hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu. Cá nhân đăng ký nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Phiếu này được cung cấp miễn phí tại các điểm phục vụ bưu chính và được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Bên cạnh việc gửi và nhận hồ sơ yêu cấp phiếu qua dịch vụ bưu chính, cá nhân cũng có quyền gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu qua dịch vụ bưu chính và nhận kết quả trực tiếp tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp. 

 

Cá nhân có thể nộp lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức chuyển tiền qua dịch vụ bưu chính khi gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu tại các điểm phục vụ bưu chính hoặc tại địa chỉ báo phát và gửi biên lai chuyển tiền lệ phí kèm theo hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu. Cá nhân cũng có thể nộp lệ phí trực tiếp hoặc nộp vào tài khoản của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp. 

 

Kết quả Phiếu lý lịch tư pháp được chuyển qua dịch vụ bưu chính tới người có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Khi nhận Phiếu lý lịch tư pháp, người nhận Phiếu phải xuất trình giấy tờ tùy thân như Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu.

 

Cá nhân có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu cho thay đổi phương thức nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp từ việc nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính sang nhận trực tiếp, nhưng không được hoàn lại phí dịch vụ bưu chính đã nộp. 

 

Kết quả giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp được đăng tải công khai trên Trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu để người dân theo dõi và chủ động đến nhận kết quả cấp Phiếu. 

 

Cũng về phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, cá nhân có thể nộp hồ sơ trực tiếp và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính.

 

Về đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến

 

Đối với đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, cá nhân có thể đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính hoặc đăng ký nhận kết quả trực tiếp tại trụ sở cơ quan Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

 

Về gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến: cơ quan, tổ chức truy cập vào Trang thông tin của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp và điền vào Văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến theo mẫu quy định. Văn bản yêu cầu của cơ quan, tổ chức phải sử dụng chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

 

2. Ông Hoàng Công Dương, trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Cán bộ y tế xã có chức năng, nhiệm vụ gì? Việc tuyển dụng cán bộ y tế xã được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 117/2014/NĐ-CP ngày 08/12/2014 Chính phủ quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, các điều kiện bảo đảm hoạt động và nhân lực của Y tế xã, phường, thị trấn.

 

Theo đó, tổ chức Y tế xã, phường, thị trấn (Trạm Y tế xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Trung tâm Y tế huyện), được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã).

 

Trạm Y tế xã có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã.

 

Trạm Y tế xã có các nhiệm vụ: thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, kết hợp, ứng dụng y học cổ truyền trong chữa bệnh và phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe sinh sản, cung ứng thuốc thiết yếu; quản lý sức khỏe cộng đồng; truyền thông giáo dục sức khỏe theo hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên và quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản; phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn; tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân trên địa bàn;...

 

Điều kiện đảm bảo hoạt động của Y tế xã là Trạm Y tế xã có trụ sở riêng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc, kinh phí và các điều kiện bảo đảm, đáp ứng đủ cho việc thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Nghị định này,

 

Theo Nghị định, người làm việc tại Trạm Y tế xã là viên chức. Số người làm việc tại Trạm Y tế xã nằm trong tổng số người làm việc của Trung tâm Y tế huyện được xác định theo vị trí việc làm trên cơ sở khối lượng công việc phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế ở địa phương theo vùng miền.

 

Về ký hợp đồng của người làm việc tại Trạm Y tế xã thực hiện theo quy định của Luật Viên chức như sau:

 

Đối với số cán bộ y tế đang làm việc tại Trạm Y tế theo Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 58/TTg ngày 3/2/1994 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở; Điều 2 Quyết định số 131/TTg ngày 4/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số điểm tại Quyết định số 58/TTg ngày 3/2/1994: Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp có trách nhiệm tiến hành các thủ tục để ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật nếu đáp ứng đủ các điều kiện, yêu cầu và tiêu chuẩn của vị trí công việc đảm nhiệm.

 

Đối với số cán bộ y tế đang làm việc tại Trạm Y tế theo Điều 1 Quyết định số 131/TTg ngày 4/3/1995 của Thủ tướng Chính (thuộc diện hợp đồng theo Quyết định số 58/TTg): Những trường hợp đã có đủ thời gian 36 tháng làm việc tại trạm y tế xã (tính đến ngày 31/1/2015), đáp ứng đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực theo yêu cầu của vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp được xét tuyển đặc cách theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 14 Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp có trách nhiệm tiến hành ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật; Những trường hợp chưa đủ thời gian 36 tháng làm việc tại Trạm Y tế (tính đến ngày 31/1/2015) thực hiện tuyển dụng theo quy định của Luật Viên chức./.

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 3 năm 2015
Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 24  tháng 2 năm 2015

 
 

 

1. Bà Ngô Hồng Oanh, trú tại tổ 9, khối 6, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Gia đình bà sử dụng hợp pháp 200m2 đất  tại phường Vĩnh Trại từ năm 1993 có nộp thuế đầy đủ, bà đề nghị được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất từ chối, lý do là đất đã chuyển sang dự án Phú Lộc 4. Đến nay đã được 12 năm bà vẫn chưa được xem xét cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, bà hỏi trường hợp của bà có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?

 

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 quy định về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Nếu đúng như bà trình bày là quyền sử dụng đất mà gia đình bạn đang sử dụng ổn định từ trước năm 1993 có giấy tờ chuyển nhượng trước tháng 10/1993 phù hợp với điểm d khoản 1 Điều này, không có tranh chấp và phù hợp với các quy định nêu trên thì gia đình bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Nếu cơ quan có thẩm quyền từ chối việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho gia đình bà thì phải có văn bản trả lời và bà có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

 

2. Ông Trần Anh Kiệt, trú tại khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi những hành vi nào bị coi là hành vi phạm hành chính về trật tự công cộng và bị xử phạt như thế nào?

 

 

 

Trả lời:

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình được ban hành ngày 12 tháng 11 năm 2013 thì hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng bị xử phạt như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi: Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác; Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau; Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng; Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác; Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng; Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác; Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”; Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác; Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng; Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau; Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án; Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế; Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác; Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức; Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm; Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân; Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ; Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán "đèn trời".

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Ngoài bị phạt tiền thì người vi phạm còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính./.


 

 
 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 24  tháng 2 năm 2015


1. Ông Trần Thắng Lợi, trú tại cửa khẩu Tân Thanh, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những đối tượng nào được ra vào cửa khẩu biến giới, những hành vi nào bị cấm khi đia qua cửa khẩu biến giới?

 

 

Trả lời:

Căn cứ Nghị định số 112/2014/NĐ-CP Ngày 21/11/2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền thì:

 

Những đối tượng sau được ra, vào khu vực của khẩu: Hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, công chức của các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành và cơ quan Nhà nước liên quan có trụ sở hoặc văn phòng làm việc trong khu vực cửa khẩu; nhân viên các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ, thương mại trong khu vực cửa khẩu; người điều khiển, người làm việc trên phương tiện chuyên chở hàng hóa, hành khách xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh; chủ hàng, người kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ra vào khu vực cửa khẩu thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; người đến khám, chữa bệnh (trường hợp trong khu vực cửa khẩu có khu vực y tế dành cho khám, chữa bệnh). Những người ra, vào khu vực cửa khẩu với mục đích thăm quan, đón tiễn hoặc mục đích khác phải được sự cho phép và chịu sự kiểm tra, giám sát, hướng dẫn của Đồn Biên phòng cửa khẩu.

 

Đối với các phương tiện Việt Nam và nước ngoài khi xuất cảnh, nhập cảnh qua cửa khẩu biên giới phải có các loại giấy tờ sau:  Giấy đăng ký phương tiện; Giấy phép liên vận, Giấy phép vận tải; Giấy phép vận chuyển hành khách (đối với phương tiện vận chuyển hành khách); Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường như quy định trước đây; mà còn phải có Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với chủ phương tiện và giấy tờ về thủ tục hàng hóa (đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa) cùng các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó Nghị định còn nghiêm cấm 05 hành vi sau: Sử dụng hộ chiếu, giấy tờ giả, hộ chiếu, giấy tờ trái với quy định pháp luật Việt Nam; tổ chức, đưa, đón dẫn đường, chuyên chở người xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tuyên truyền, kích động hoặc có hành vi phá hoại an ninh, gây rối, gây mất trật tự công cộng, gây ùn tắc cản trở các hoạt động lưu thông hợp pháp tại cửa khẩu; sử dụng, mua bán, vận chuyển trái phép tài liệu, vật mang tin có chứa thông tin bí mật quân sự, bí mật nhà nước, sách báo, văn hóa phẩm độc hại; đưa, đón người, chuyên chở, xếp, dỡ hàng hóa không đúng nơi quy định, đi vào khu vực cấm; làm mất vệ sinh công cộng, gây ô nhiễm môi trường và các hành vi làm ảnh hưởng xấu đến cảnh quan khu vực cửa khẩu...

2. Bà Trần Thị Hoa, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Đối với hành vi vi phạm pháp luật hành chính về đất đai thì có những hình thức xử phạt nào, hành vi chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền sử dụng đất sẽ bị phạt bao nhiêu và thẩm quyền xử phạt được quy định như thế nào?

 


Trả lời:

Căn cứ Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì hình thức xử phạt được quy định như sau:

 

Nghị định quy định hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền; hai hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép từ 06 tháng đến 09 tháng hoặc đình chỉ hoạt động từ 09 tháng đến 12 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực và tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

 

Cũng theo Nghị định, tùy mức độ vi phạm, đối tượng có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai sẽ bị phạt từ 500.000 đồng đến 01 tỷ đồng. Cụ thể: Áp dụng mức phạt thấp nhất 500 nghìn đồng đến 01 triệu đồng cho hành vi: Đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác (tại khu vực nông thôn); hộ gia đình, cá nhân tự ý chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyết định giao đất, đất đang có tranh chấp, đất đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất hết thời hạn sử dụng nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn; hành vi không đăng kí đất đai lần đầu…

 

Hành vi chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền sử dụng đất ở sẽ bị phạt đến 01 tỉ đồng. Cụ thể, đối với trường hợp tổ chức được Nhà nước giao đất xây dựng nhà ở để bán nhận trách nhiệm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền sử dụng đất ở mà chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày bàn giao nhà ở, đất ở, tùy mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt từ 10 triệu đến 01 tỉ đồng. Trong đó, mức phạt cao nhất từ 500 triệu đến 01 tỉ đồng được áp dụng đối với trường hợp chậm làm thủ tục từ trên 12 tháng trở lên cho từ 100 hộ gia đình, cá nhân trở lên. Cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Về thẩm quyền xử phạt: Chủ tịch UBND cấp xã có thể xử phạt tối đa 05 triệu đồng đối với cá nhân và 10 triệu đồng đối với tổ chức; Chủ tịch UBND cấp huyện xử phạt tối đa 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức; Chủ tịch UBND cấp tỉnh và thanh tra chuyên ngành đất đai có thể xử phạt tối đa 500 triệu đồng đối với cá nhân và 01 tỷ đồng đối với tổ chức. Đặc biệt, những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan khác  trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao mà phát hiện các hành vi vi phạm hành chính quy định trong Nghị định này thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn quản lý của mình thì cũng có quyền xử phạt./.

 

 

 


Trả lời bạn nghe đ
ài Thứ ba, ngày 17  tháng 2 năm 2015

 

1. Ông Nguyễn Hùng Đăng, trú tại xã Chi Lăng, huyện Tràng Định hỏi: Trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã đạt chuẩn nông thôn mới được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 40/2014/TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014 của Bộ NNPTNT hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới thì:

 

Trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới được quy định như sau: UBND xã đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới trước ngày 10/2 của năm liền kề trước năm đánh giá. UBND xã nộp trực tiếp hoặc gửi theo đường bưu điện văn bản đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới (02 bản theo mẫu) đến UBND cấp huyện để xác nhận. Trong thời hạn 05 ngày (kể từ ngày nhận được đăng ký của UBND xã), UBND cấp huyện trả lời bằng văn bản cho UBND xã về kết quả xác nhận đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới; nêu rõ lý do đối với xã chưa được xác nhận đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới.

 

Trước ngày 01/9 hàng năm, UBND xã tổ chức tự đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới như sau: UBND xã thành lập Đoàn đánh giá (thành phần gồm đại diện Ban Chỉ đạo xã, Ban Quản lý xã, các Ban Phát triển thôn) để đánh giá cụ thể thực tế mức độ đạt từng tiêu chí; Ban Quản lý xã xây dựng báo cáo đánh giá mức độ đạt từng tiêu chí, báo cáo UBND xã. UBND xã gửi báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí của xã để lấy ý kiến tham gia của Mặt trận Tổ quốc xã, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc xã và thông báo, công bố công khai tại trụ sở UBND xã, nhà văn hóa các thôn, bản, ấp, trên hệ thống truyền thanh của xã trong thời gian 20 ngày. Trong thời gian này, UBND xã giao Ban Quản lý xã phối hợp với các Ban Phát triển thôn tổ chức họp các thôn để lấy ý kiến, yêu cầu cuộc họp thôn phải có từ 70% trở lên đại diện số hộ dân trong thôn tham dự và lập biên bản cuộc họp ghi rõ kết quả đại diện số hộ dân đồng ý hoặc không đồng ý với kết quả thực hiện các tiêu chí của xã, gửi UBND xã.

 

UBND xã lập 02 bộ hồ sơ đề nghị xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, nộp trực tiếp hoặc theo đường bưu điện để thẩm tra gồm các giấy tờ sau: Tờ trình của UBND xã đề nghị thẩm tra, xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới; Báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn xã; Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia của các tổ chức, đoàn thể xã và nhân dân trong xã về kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới của xã; Biên bản cuộc họp (gồm các thành viên Ban Chỉ đạo xã, Ban Quản lý xã, các Ban Phát triển thôn) đề nghị xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.

 

UBND cấp huyện thành lập Đoàn thẩm tra để thẩm tra, đánh giá cụ thể thực tế mức độ đạt từng tiêu chí của từng xã và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn huyện về danh sách các xã đủ điều kiện đề nghị xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (công bố ít nhất 03 lần trên các phương tiện phát thanh, truyền hình (nếu có) của huyện và ý kiến của Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, UBND các xã trên địa bàn huyện.

 

UBND cấp huyện hoàn thiện hồ sơ gửi cơ quan thường trực Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới thuộc UBND cấp tỉnh. UBND cấp tỉnh tổ chức thẩm định mức độ đạt từng tiêu chí của từng xã thuộc các huyện trên địa bàn tỉnh và xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh trước ngày 10/11 hàng năm.

 

2. Bà Hoàng Hồng Hiệp, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Hiện nay nữ có thể tình nguyện tham gia nghĩa vụ quân sự không? Nếu được thì thủ tục như thế nào? Trong bao lâu thì sẽ được gọi nhập ngũ?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự quy định: “Công dân nữ có chuyên môn cần cho quân đội, trong thời bình, phải đăng ký nghĩa vụ quân sự và được gọi huấn luyện, nếu tự nguyện thì có thể được phục vụ tại ngũ. Trong thời chiến theo quyết định của Chính Phủ, phụ nữ được gọi nhập ngũ và đảm nhiệm công tác thích hợp”.

 

Theo Điều 58 Luật Nghĩa vụ quân sự:

 

“Việc đăng ký quân nhân dự bị và người sẵn sàng nhập ngũ được tiến hành tại nơi họ cư trú theo hai cấp:

 

1- Đăng ký ở xã, phường, thị trấn do Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn phụ trách;

 

2- Đăng ký ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phụ trách”


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 10  tháng 2 năm 2015

1. Bà Hoàng Thị Viện, trú tại thôn Điểm Trên, xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi và phản ánh thôn của bà thuộc thôn vùng 3 đặc biệt khó khăn, năm 2012 chỉ nhận được hỗ trợ tiền điện cho 3 quý là 270.000đ/hộ, đồng thời gia đình bà có con nhỏ học mẫu giáo 3 tuổi có ăn trưa tại trường nhưng đến nay vẫn chưa nhận được bất kỳ khoản hỗ trợ nào đối với học sinh vùng đặc biệt khó khăn. Bà hỏi cụ thể quy định này như thế nào và gia đình bà phải làm gì để nhận được hỗ trợ theo quy định?

 

Trả lời:

 

Vấn đề thứ nhất bà hỏi về việc hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo:

 

Căn cứ Thông tư số 190/2014/TT-BTC ngày 11/12/2014 của Bộ Tài chính quy định thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội thì mỗi hộ nghèo và hộ chính sách xã hội chỉ được hưởng một mức hỗ trợ tiền điện.

 

Mức hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành là 46.000 đồng/hộ/tháng (tương đương 138.000đ/1quý)

 

Phương thức hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội theo hướng chi trả trực tiếp theo hình thức hỗ trợ bằng tiền từng quý đến hộ nghèo và hộ chính sách xã hội.

 

Thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội được thực hiện từ ngày 1/6/2014 theo quy định tại Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

Vấn đề thứ 2 bà hỏi liên quan đến chế độ hỗ trợ tiền ăn cho trẻ mẫu giáo dưới 5 tuổi:

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 29/2011/TTLT-BGDĐT-BTC ngày 15/7/2011 Liên Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tài chính hướng dẫn thực hiện chi hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em 5 tuổi ở các cơ sở giáo dục mầm non theo quy định tại Quyết định số 239/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015 (Thông tư có hiệu lực từ ngày 30/8/2011). Theo đó, đối tượng này sẽ được hỗ trợ 120.000 đồng/cháu/tháng.

 

Theo quy định, có ba nhóm đối tượng được chi hỗ trợ ăn trưa. Thứ nhất là là trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi (trong năm học trẻ đạt 5 tuổi theo năm khai sinh) đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo văn bản quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

 

Nhóm đối tượng thứ hai là trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế.

 

Thứ ba là trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định hiện hành của Nhà nư¬ớc (không thuộc các xã quy định tại nhóm đối tượng thứ nhất).

 

Mức hỗ trợ là 120.000 đồng/tháng/cháu, được hưởng theo thời gian học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

 

Thông tư quy định đầu năm học, cơ sở giáo dục mầm non (bao gồm công lập và ngoài công lập) phải tổ chức phổ biến, thông báo rộng rãi và hướng dẫn cho cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ em 5 tuổi thuộc đối tượng được hưởng chính sách viết và gửi đơn đề nghị hỗ trợ tiền ăn trưa. 

 

Cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ em 5 tuổi khi đến nộp đơn tại cơ sở giáo dục mầm non phải xuất trình bản gốc kèm theo bản sao các loại giấy tờ quy định về hồ sơ xét cấp. Trong vòng 45 ngày, kể từ ngày 01 tháng 9 hàng năm, cơ sở giáo dục mầm non lập danh sách trẻ được đề nghị cấp tiền hỗ trợ ăn trưa theo từng đối tượng gửi UBND cấp xã nơi cơ sở giáo dục mầm non đóng, kèm theo hồ sơ xét cấp hỗ trợ ăn trưa.

 

Trong vòng 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, UBND cấp xã có trách nhiệm thẩm tra, ký tên đóng dấu xác nhận danh sách trẻ theo từng đối tượng hưởng chính sách và gửi lại cho cơ sở giáo dục mầm non. Trường hợp nếu có trẻ được bổ sung thêm hoặc bị loại khỏi danh sách, phải ghi rõ họ tên và lý do được bổ sung hoặc bị loại khỏi danh sách.

 

Việc chi trả kinh phí hỗ trợ ăn trưa cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi được cấp tối đa 9 tháng/năm học và thực hiện 2 lần trong năm: lần 1 chi trả đủ 4 tháng vào tháng 10 hoặc tháng 11 hàng năm; lần 2 chi trả đủ 5 tháng vào tháng 3 hoặc tháng 4 hàng năm.

 

Phương thức chi hỗ trợ đối với các loại hình trường được quy định cụ thể như sau: Đối với cơ sở mầm non công lập thì cơ sở giáo dục mầm non là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc chi trả. Đối với cơ sở mầm non ngoài công lập, Phòng giáo dục và đào tạo là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc chi trả.

 

Tuỳ vào thực tế quản lý và cách tổ chức ăn trưa, lãnh đạo cơ sở giáo dục mầm non thống nhất với ban đại diện cha mẹ trẻ (hoặc Phòng giáo dục và đào tạo thống nhất với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập) để quyết định 1 trong 2 phương thức: chi trả trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) hoặc giữ lại để lo bữa ăn trưa cho trẻ (khuyến khích cơ sở giáo dục mầm non tổ chức nấu ăn tập trung cho trẻ).

 

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, nếu việc chi trả các chế độ đối với hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn chưa đúng thì bà có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

2. Ông Lăng Văn Lan, trú tại thôn Yên Thủy I, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Ông  là con trai của Liệt sĩ Lăng Văn Bế hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tháng 10/2013 gia đình ông đã xin đầy đủ giấy tờ đi tìm mộ liệt sĩ tại huyện Cơ Rút tỉnh Đắc Nông và được Phòng LĐTBXH huyện Cơ Rút xác nhận nhưng đến nay đã hơn 1 năm vẫn chưa được thanh toán tiền chi phí đi lại, ông hỏi quy định giải quyết cụ thể như thế nào?       

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 66/2014/TTLT-BQP-BTC ngày 13 tháng 6 năm 2014 của Bộ Quốc phòng, Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 75/2013/QĐ-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Tại khoản 3 Điều 5 của thông tư trên quy định chế độ hỗ trợ đối với thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ như sau:

 

Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 2 Thông tư này được hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn khi đến các đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Quyết định số 75/2013/QĐ-TTg; với số lượng không quá ba (03) người, mỗi năm một (01) lần.

 

Thủ tục, hồ sơ:

 

- Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ trước khi đi tìm mộ liệt sĩ, đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cấp Giấy giới thiệu (Mẫu 03) và có trách nhiệm khai báo chính xác những thông tin để ghi trong Giấy giới thiệu; Ủy ban nhân dân cấp xã, trong thời hạn 01 ngày làm việc có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin và cấp giấy Giới thiệu cho đối tượng;

 

- Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ khi đến đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu nộp 01 bộ hồ sơ, gồm: Giấy giới thiệu (bản chính, 01 bản); Giấy báo tử liệt sĩ hoặc Bằng Tổ quốc ghi công (bản sao có chứng thực, 01 bản);

 

- Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh (thành phố) hoặc đơn vị cấp sư đoàn hoặc tương đương trở lên, căn cứ vào các giấy tờ của thân nhân; trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, xem xét, quyết định hỗ trợ; lập Phiếu chi trả (Mẫu 02); sao, lưu các giấy tờ trên làm chứng từ thanh quyết toán. 

 

Như vậy ông có thể đến Ban chỉ huy QS huyện Cao Lộc để được hướng dẫn làm thủ tục, khi ông làm đúng thủ tục quy định nêu trên thì sẽ được thanh toán đúng quy định hiện hành.

 

3. Nhắn tin:

 

- Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của ông Nguyễn Văn Thành 85 tuổi, trú tại số nhà 47 Ngạn Sơn, tổ 4, khối 5, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn kiến nghị giải quyết vụ việc Công ty Bất động sản Hà Nội bán đất đã quy hoạch làm đường giao thông nút 7ª tại khu đô thị Phú Lộc IV dẫn đến gia đình ông bị bịt kín lối đi. Đơn ông gửi nhiều nơi trong đó đã gửi đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn thuộc quyền giải quyết. Đề nghị ông liên hệ đến UBND thành phố Lạng Sơn để biết và theo dõi kết quả giải quyết vụ việc.

 

 

- Đơn của bà Hoàng Thị Hiện, trú tại thôn Trong Lá, xã Tân Liên, huyện Cao Lộc kiến nghị gia đình bà có 1 chiếc xe ô tô tải ben chỉ để phục vụ sinh hoạt gia đình hằng năm đã nộp thuế môn bài, phí bảo trì đường bộ nhưng cán bộ Thuế vẫn yêu cầu gia đình bà nộp thuế kinh doanh 280.000đ/tháng, bà đề nghị giải quyết đúng quy định. Đơn của bà chúng tôi chuyển đến Chi cục trưởng chi cục thuế Cao Lộc xem xét, giải quyết./.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 2 năm 2015


1. Ông Hoàng Văn Nghiệp, trú tại thôn Bắc Nam, xã Đồng Giáp, huyện Văn Quan hỏi: Bố tôi năm nay 72 tuổi bị mắc bệnh hiểm nghèo nay đã liệt toàn thân không đi lại sinh hoạt được trở thành người tàn tật. Vậy trường hợp của bố tôi có được hưởng trợ cấp đối với người tàn tật không?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 và Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010 thì người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật, trong đó có dạng tật nghe, nói (câm, điếc), khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.

Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau:

- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định nêu trên.

Người tàn tật nặng được hưởng trợ cấp hàng tháng

Khoản 4, Điều 4, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/04/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, đã được sửa đổi theo Khoản 1, Điều 1, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ, quy định 1 trong 9 đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý là “người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ”.

Theo hướng dẫn tại Điểm b, Điểm c, Điều 1 Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 18/8/2010 của Liên Bộ Lao động - Thương binh Xã hội, Bộ Tài chính thì:

- “Người tàn tật nặng không có khả năng lao động” quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP được sửa đổi theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 13/2010/NĐ-CP là người từ đủ 15 tuổi trở lên bị tàn tật, giảm thiểu chức năng không thể lao động, được Hội đồng xét duyệt cấp xã công nhận hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác nhận.

- “Người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ” quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP được sửa đổi theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 13/2010/NĐ-CP là người tàn tật không có khả năng tự phục vụ sinh hoạt cá nhân, được Hội đồng xét duyệt cấp xã công nhận hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác nhận.

Vấn đề ông hỏi, theo quy định nêu trên thì bố ông bị liệt toàn thân thuộc trường hợp người tàn tật nặng theo quy định tại điểm b, c điều 1 Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC, việc có được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hay không, phụ thuộc vào mức độ khuyết tật của người đó.

Nếu người bị liệt toàn thân là “người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ” theo quy định tại Khoản 4, Điều 4, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP được sửa đổi theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 13/2010/NĐ-CP và hướng dẫn tại Điểm b, Điểm c, Điều 1 Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC thì người đó thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý.

2. Bà Hà Thị Ngọc Tú, trú tại khối Cửa Nam, phường Chi Lăng, tp Lạng Sơn hỏi: Từ ngày 01/01/2015 người đang hưởng lương hưu sẽ được điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, vậy cụ thể mức điều chỉnh tăng là bao nhiêu?

         

 

Trả lời:

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 09/2015/NĐ-CP ngày 22/1/2015 về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc.

Theo đó, từ ngày 01/01/2015 sẽ tăng thêm 8% mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với các đối tượng sau:

1 - Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

2 - Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 9/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

3 - Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTgngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

4 - Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111 - HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

5 - Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

6 - Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

7 - Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Kinh phí thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng áp dụng đối với các đối tượng trên do ngân sách Nhà nước và Quỹ bảo hiểm xã hội bảo đảm. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/3/2015.

Trước đó, ngày 10/11/2014, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 78/2014/QH13 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, trong đó đã quyết định thực hiện điều chỉnh tăng 8% đối với lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công và tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thu nhập thấp (hệ số lương từ 2,34 trở xuống). Thời điểm thực hiện quy định này là từ ngày 01/01/2015./.

 

 

 

 

 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 27  tháng 1 năm 2015
Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 2 năm 2015
Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 2 năm 2015

1. Bà Lý Thị Ương, trú tại thôn Tồng Méo, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Vừa qua, tôi đi dọn thực bì để trồng cây thông đầu xuân năm 2015 thì do gió to không kiểm soát được ngọn lửa cháy sang đồi thông của rừng bên cạnh, tôi lập tức báo với chính quyền để can thiệp nhưng kết quả vẫn gây thiệt hại 220 cây thông đang tuổi lấy nhựa. Do các hộ bị thiệt hại yêu cầu đòi bồi thường quá cao nên tôi không có khả năng đền bù với số tiền lớn. Vậy tôi phải nhờ đến cơ quan nào để định giá đúng cây thông để bồi thường cho những hộ bị thiệt hại?

 

Trả lời:

Theo quy định của Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 605 quy định về Nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp hòa giải ở cơ sở, nếu vụ việc không hòa giải được thì đương sự làm đơn khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại lên TAND cấp huyện để thụ lý giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án sẽ thành lập Hội đồng định giá tài sản thiệt hại làm căn cứ quyết định bồi thường.

 

 

2. Bà Hoàng Thị Bình, trú tại xã Chi Lăng, huyện Tràng Định hỏi: Luật Hôn nhân và gia đình quy định như thế nào về kết hôn đồng giới và việc chia tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn?

 

 

Trả lời

- Về hôn nhân đồng giới:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn đồng giới, và vì cấm nên sẽ đi kèm chế tài, xử phạt. Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 đã bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" (khoản 2 Điều 8). Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. Đây là sự nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay.

- Tài sản của vợ chồng

Được thỏa thuận về tài sản khi ly hôn: Cụ thể, về tài sản chung của vợ chồng, theo luật thì đó là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất - kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đối với quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng, cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Luật cũng quy định rõ, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tại Điều 62 Luật HNGĐ năm 2014 quy định về Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này.

 

 


Trả lời bạn nghe đ
ài Thứ ba, ngày 20  tháng 1 năm 2015

 

1. Bà Hoàng Thúy Chi, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi nhà nước thu hồi đất được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 15/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất (có hiệu lực 01/7/2014), theo đó việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo quy định sau đây:

 

Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất gồm các trường hợp sau: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai. Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại Điểm a khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó. Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được UBND cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó.

 

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất.

 

Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định sau đây: Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất.

 

Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng được thực hiện theo quy định sau: Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng.

 

Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng. Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của UBND cấp có thẩm quyền. Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 1 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.

 

Việc hỗ trợ ổn định sản xuất thực hiện theo quy định sau: Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp. Đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  thì được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 3 năm liền kề trước đó. Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế.

 

Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các nông, lâm trường quốc doanh thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo hình thức bằng tiền. Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng thời gian trợ cấp không quá 6 tháng.

 

Nghị định giao UBND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳ chi trả tiền hỗ trợ cho phù hợp với thực tế tại địa phương.

 

 

2. Ông Hoàng Tuấn Khải, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Năm nay mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được quy định như thế nào, đơn vị thu được trích lại bao nhiêu%?

 

Trả lời

 

          Ngày 14/01/2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

 

          Theo đó, đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký lưu hành (có Giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe) bao gồm xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự.

 

          Mức thu phí đối với xe có dung tích xy lanh đến 100 cm­3 là 50.000 đồng/năm; loại có dung tích xy lanh trên 100 cm­3 là 100.000 đồng/năm.

 

          Các đối tượng được miễn phí đường bộ bao gồm: Xe mô tô của lực lượng Công an, Quốc phòng và xe mô tô của chủ phương tiện thuộc các hộ nghèo theo quy định.

 

          UBND xã, phường, thị trấn là cơ quan thu phí đối với xe mô tô của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân (chủ phương tiện) trên địa bàn.

 

           Trường hợp xe phát sinh từ ngày 01/01 đến ngày 30/6 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 7 hàng năm (từ ngày 01/7 đến ngày 31/7). Đối với xe phát sinh từ ngày 01/7 đến ngày 31/12 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 01 năm sau.

 

          Về chế độ quản lý sử dụng tiền phí thu được, các phường, thị trấn được trích để lại 10%, các xã được trích để lại 20% trên tổng số phí thu được; phần còn lại nộp vào ngân sách nhà nước.

 

          Sở Giao thông vận tải chủ trì theo dõi, kiểm tra, đôn đốc báo cáo UBND tỉnh việc quản lý, sử dụng Quỹ bảo trì đường bộ tỉnh Lạng Sơn. UBND các huyện, thành phố chỉ đạo các đơn vị, bộ phận chức năng liên quan và UBND cấp xã tổ chức triển khai thực hiện, đảm bảo đúng theo quy định.

 

          Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/1/2015 và thay thế Quyết định số 15/2013/QĐ-UBND ngày 21/8/2013 của UBND tỉnh.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 13  tháng 1 năm 2015

 

1. Bà Trần Thị Hồng, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi được biết nhà nước mới ban hành quy định về cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, vậy điều kiện để mang thai hộ người khác như thế nào?

 

Trả lời:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo (cụ thể từ Điều 93 đến Điều 98), song phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản. Theo đó, các cặp vợ chồng vì lý do nào đó không thể tự sinh con, có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện, gồm: Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; vợ chồng đang không có con chung; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Nguyên tắc để “người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng để ngăn ngừa tình trạng thương mại hóa việc mang thai hộ”.

Theo đó, người được nhờ mang thai hộ phải có đủ 5 điều kiện: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng và đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình  cũng có các điều khoản để giải quyết những rắc rối phát sinh. Đó là việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con (của người mang thai hộ) theo chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con, thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con, thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết, thì con được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ…

Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải bảo đảm các điều kiện:  Lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Việc ủy quyền cho người thứ ba không được công nhận. Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này;  Có thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên;  Quyền, nghĩa vụ về hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ;  Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

 

 

 

2. Ông Đinh Xuân Hòa, trú tại khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi lăng hỏi: Điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư được pháp luật quy định như thế nào?

 

 

Trả lời

Căn cứ Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.

Theo đó, điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư như sau: Có quy định, nội quy về phòng cháy và chữa cháy, về sử dụng điện, sử dụng lửa và các chất dễ cháy, nổ; có biển cấm, biển báo, sơ đồ hoặc biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy, thoát nạn phù hợp với đặc điểm của khu dân cư; Có thiết kế và phải được thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư xây dựng mới; Hệ thống điện bảo đảm tiêu chuẩn an toàn về phòng cháy và chữa cháy; Có hệ thống giao thông, nguồn nước phục vụ chữa cháy, giải pháp chống cháy lan, phương tiện phòng cháy và chữa cháy bảo đảm số lượng và chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy hoặc theo quy định của Bộ Công an; Có phương án chữa cháy và thoát nạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; Có lực lượng dân phòng được huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy và tổ chức thường trực sẵn sàng chữa cháy đáp ứng yêu cầu chữa cháy tại chỗ; Có hồ sơ quản lý, theo dõi hoạt động phòng cháy và chữa cháy theo quy định của Bộ Công an./.

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 6  tháng 1 năm 2015

 


1. Ông Nguyễn Sỹ Lợi, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người lái xe ô tô bất cẩn khi mở cửa xuống xe đã không quan sát kỹ khiến người đi xe máy quệt vào cánh cửa ô tô gây tai nạn giao thông sau đó không cứu giúp người bị nạn mà điều khiển xe bỏ đi thì bị xử lý như thế nào?

 

 

Trả lời:

Theo như bạn hỏi thì đây không chỉ là vấn đề vi phạm pháp luật giao thông bị xử phạt hay phải bồi thường thiệt hại cho người bị nạn mà còn là vấn đề còn ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn sức khỏe, tính mạng của người đi đường, của người tham gia giao thông, vấn đề trật tự an toàn giao thông.

Theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 8 Nghị định 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì hành vi dừng xe, đỗ xe, mở cửa xe không bảo đảm an toàn gây tai nạn thì bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng.

Ngoài ra còn bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng trong trường hợp gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường; bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

Bên cạnh đó còn phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người bị hại theo quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại.

 

 

2. Bà Trần Thị Hồng, trú tại đường Văn Miếu, phường Chi Lăng hỏi: Được biết theo quy định của pháp luật thì khi chế biến thức phẩm không an toàn cũng bị xử phạt. Vậy đối với hành vi vi phạm về sử dụng hóa chất trong sản xuất, chế biến thực phẩm thì bị xử lý như thế nào?

 

 

Trả lời

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm thì hành vi vi phạm quy định về sử dụng hóa chất trong sản xuất, chế biến thực phẩm thì bị xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với hành vi sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng trong hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm.

2. Phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi sử dụng hóa chất bị cấm sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.

3. Phạt tiền bằng 7 lần giá trị thực phẩm vi phạm đi với hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này nếu mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt quy định tại Khoản 2 Điều này thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm tại thời Đim vi phạm nhưng s tin phạt không quá 100 triệu đng.

4. Ngoài ra còn có thể bị xử phạt bổ sung như: Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm từ 06 tháng đến 09 tháng trong trường hợp tái phạm đi với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này; Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm từ 09 tháng đến 12 tháng trong trường hợp tái phạm đi với hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy tang vật vi phạm là hóa chất không rõ nguồn gốc, bị cấm sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm; thực phẩm có chứa hóa cht theo quy định.

 

3. Ông Hà Đức Hợp, trú tại xã Gia Miễn, huyện Văn Lãng hỏi: Được biết Nhà nước có quy định về chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn nhưng tôi chưa biết cụ thể quy định này thế nào. Xin hỏi Đài theo quy định này thì đối tượng được vay và mức lãi suất được quy định như thế nào?

 

 

Trả lời:

Ngày 04/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015.

Theo quy định của Quyết định này thì đối tượng được vay vốn là hộ đồng bào dân tộc thiểu số (kể các các hộ có vợ hoặc chồng là người dân tộc thiểu số) sống tại các xã thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn, có đủ hai tiêu chí là: (1) Có mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng từ 50% trở xuống so với chuẩn hộ nghèo theo quy định hiện hành; (2) Có phương án sản xuất nhưng thiếu hoặc không có vốn sản xuất.

Các hộ được vay vốn phải là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn có nơi cư trú hợp pháp, có trong danh sách do Ủy ban nhân dân cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt; đồng thời phải có phương án hoặc nhu cầu sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh được chính quyền cùng các tổ chức chính trị - xã hội của thôn, bản hỗ trợ gia đình lập hoặc xác nhận; phải sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, không được sử dụng khoản vốn vay để gửi lại vào các Ngân hàng khác.

Các đối tượng được vay vốn có thể vay một hoặc nhiều lần nhưng tổng mức vay không quá 8 triệu đồng/hộ. Các hộ không phải dùng tài sản để bảo đảm tiền vay và được miễn lệ phí làm thủ tục hành chính trong việc vay vốn.

Thời hạn cho vay được quyết định trên cơ sở căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của hộ vay vốn nhưng tối đa không quá 5 năm.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng quy định rõ, trường hợp đến hạn trả nợ nhưng hộ vay vốn vẫn thuộc diện hộ đặc biệt khó khăn và có nhu cầu tiếp tục sử dụng vốn vay thì căn cứ thực tế để xử lý cho phù hợp như có thể xem xét kéo dài thời gian trả nợ nhưng tối đa không quá 5 năm hoặc 2,5 năm hoặc buộc phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu đã thoát nghèo…. Lãi suất cho vay bằng 0,1%/tháng, tương ứng với 1,2% năm.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013 và thay thế Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007, Quyết định số 126/2008/QĐ-TTg ngày 15/9/2008 về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 30  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Nguyễn Thị Hồng trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Trường hợp nào bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật đât đai, trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại  Điều 64 Luật đất đai sửa đổi bổ sung năm 2013, các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

 

1. Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao,cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính vềhành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

 

2. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

 

3. Đất được giao, cho thuê khôngđúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

 

4. Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy địnhcủa Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

 

5. Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

 

6. Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy địnhcủa Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

7. Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhànước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

 

8. Đất trồng cây hàng năm không đượcsử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sửdụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trongthời hạn 24 tháng liên tục;

 

9. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liêntục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự ántrong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thuhồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợpdo bất khả kháng.

 

 Việc thu hồi đất do vi phạm phápluật đất đai phải căn cứ vào các văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

 

Về trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật được quy định tại Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 như sau:

 

1. Trường hợp vi phạm pháp luật mà phải thu hồi đất, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.

 

Trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai không thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì biên bản xác định hành vi vi phạm phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã làm chứng để làm căn cứ quyết định thu hồi đất và được lập theo quy định sau đây:

 

a) Cơ quan tài nguyên và môi trường tổ chức kiểm tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại các Điểm c, d và g Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai; tổ chức thanh tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại Điểm h và Điểm i Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai;

 

b) Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản, người được giao nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm gửi biên bản cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất để chỉ đạo thu hồi đất.

 

2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra, xác minh thực địa khi cần thiết, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất.

 

3. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm sau:

 

a) Thông báo việc thu hồi đất cho người sử dụng đất và đăng trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

 

b) Chỉ đạo xử lý phần giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật;

 

c) Tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định tại Khoản 3 Điều 65 của Nghị định này;

 

d) Bố trí kinh phí thực hiện cưỡng chế thu hồi đất.

 

4. Cơ quan tài nguyên và môi trường chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính; thu hồi Giấy chứng nhận hoặc thông báo Giấy chứng nhận không còn giá trị pháp lý đối với trường hợp người sử dụng đất không chấp hành việc nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

2. Ông Nguyễn Hữu Hoàng, hiện đang công tác tại một cơ quan đóng trên địa bàn tỉnh hỏi: Được biết Luật Bảo hiểm y tế mới ban hành có nhiều điểm mới, trong đó có điểm mới về mức đống BHYT, điều này chúng rôi rất quan tâm, vậy cụ thể với từng đối tượng thì đóng bao nhiêu % tiền lương?

 

Trả lời:

 

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.

 

Theo quy định tại Điều 13 của Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015 thì mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế được quy định như sau:

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức tối đa bằng 6% tiền lương tháng, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3. Trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì mức đóng hằng tháng tối đa bằng 6% tiền lương tháng của người lao động trước khi nghỉ thai sản và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật tối đa bằng 6% mức lương cơ sở, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng tối đa bằng 6% tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng tối đa bằng 6% mức lương cơ sở và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa bằng 6% tiền trợ cấp thất nghiệp và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an tối đa bằng 6% tiền lương tháng đối với người hưởng lương, tối đa bằng 6% mức lương cơ sở đối với người hưởng sinh hoạt phí và do ngân sách nhà nước đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước; Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước; Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm; Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này; Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật tối đa bằng 6% mức lương cơ sở và do ngân sách nhà nước đóng./.

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 23  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Nguyễn Thị Hợi, trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Người là Hòa giải viên ở cơ sở, khi thực hiện hòa giải vụ việc tranh chấp trong nhân dân sẽ nhà nước thanh toán thù lao như thế nào, khi đi hòa giải mà bị tai nạn rủi ro thì được thanh toán, hỗ trợ những gì?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 15/2014/TT-BTP ngày 27 tháng 2 năm 2014 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, theo đó thủ tục thanh toán thù lao cho hòa giải viên và các khoản được hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hòa giải được quy định như sau:

 

Về Thủ tục thanh toán thù lao cho hòa giải viên

 

1. Tổ trưởng tổ hòa giải lập hồ sơ đề nghị thanh toán thù lao cho hòa giải viên, bao gồm: Giấy đề nghị thanh toán thù lao của hòa giải viên có ghi rõ họ, tên, địa chỉ của hòa giải viên; tên, địa chỉ tổ hòa giải; số tiền đề nghị thanh toán; nội dung thanh toán (có danh sách các vụ, việc trong trường hợp đề nghị thanh toán thù lao cho nhiều vụ, việc); chữ ký của hòa giải viên; chữ ký xác nhận của tổ trưởng tổ hòa giải và xuất trình Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở để đối chiếu khi cần thiết.

 

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định và trả thù lao cho hòa giải viên thông qua tổ hòa giải; trường hợp quyết định không thanh toán cho hòa giải viên thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 

 

3. Tổ hòa giải thực hiện trả thù lao cho hòa giải viên theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được thù lao.

 

Những Trường hợp hòa giải viên được hỗ trợ khi gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hòa giải.

 

1. Bị tai nạn hoặc rủi ro trong khi đang thực hiện hòa giải.

 

2. Bị tai nạn hoặc rủi ro trên đường đi và về từ nơi ở đến địa điểm thực hiện hòa giải trên tuyến đường và trong khoảng thời gian hợp lý.

 

Về các khoản được hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hòa giải

 

1. Hòa giải viên khi gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở được hỗ trợ như sau:

 

a) Chi phí cần thiết, hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút;

 

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; nếu thu nhập thực tế của hòa giải viên không ổn định hoặc không thể xác định được thì áp dụng cách tính theo thu nhập bình quân hàng ngày của người làm công ăn lương chia theo khu vực thành thị, nông thôn, loại hình kinh tế ngoài nhà nước trong thời gian cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút.

 

2. Gia đình của hòa giải viên bị thiệt hại về tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở được hỗ trợ một lần bằng tiền để chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc hòa giải viên trước khi chết; người tổ chức mai táng được hỗ trợ chi phí cho việc mai táng.

 

2. Ông Nguyễn Hải Nam, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bố mẹ tôi sinh được 4 người con, bố mẹ và anh cả đã mất, không để lại di chúc. Nay còn 3 anh em họp để chia di sản thừa kế, anh tôi đã mất nên chỉ còn các cháu. Vậy các cháu là con của anh tôi có được chia tài sản không?

 

Trả lời:

 

Thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Thừa kế thế vị chỉ được tính đến trong trường hợp thừa kế theo pháp luật: Tại Điều 677 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về thừa kế thế vị như sau:

“Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

 

Tại Điều 681 BLDS 2005 quy định sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận về cách thức phân chia di sản. Việc phân chia di sản phải có đầy đủ những người thừa kế theo hàng và thừa kế thế vị (trường hợp thừa kế theo pháp luật). Đây là quyền của những người thừa kế. Thủ tục phân chia di sản thừa kế được pháp luật quy định khác nhau đối với từng loại di sản.

 

Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố, mẹ mình (hoặc ông bà) được hưởng nếu còn sống, được chia đều di sản với những người thừa kế khác. Điều kiện để hưởng thừa kế thế vị là cháu, chắt của người để lại di sản phải còn sống hoặc chưa ra đời nhưng đã thành thai vào thời điểm ông, bà, cụ chết mới được áp dụng chế định thừa kế thế vị.

 

Như vậy trường hợp của ông thuộc trường hợp thừa kế thế vị và các cháu con anh trai ông được hưởng phần tài sản mà bố mẹ cháu được hưởng.

 

3. Bà Hà Thị Lan, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Để được sét, công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, cán bộ, công chức công chức phải đảm bảo các tiêu chuẩn gì?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định 65/2014/NĐ-CP ngày 01/07/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013, theo đó tại Điều 4 Nghị định quy định Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” như sau:

 

1. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được xét tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau:

 

a) Là “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”;

 

b) Có sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả công tác được cơ sở công nhận hoặc có đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiệm thu được áp dụng hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức, đơn vị công nhận.

 

2. Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học do Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp cơ sở giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận. Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu do Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp cơ sở giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận.

 

 

3. Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp cơ sở do Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” quyết định thành lập. Thành phần Hội đồng gồm những thành viên có trình độ chuyên môn về lĩnh vực có liên quan đến nội dung sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học và các thành viên khác (nếu cần thiết)./.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 16  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Trịnh Thanh Hương, trú tại phường Chi Lăng, tp Lạng Sơn hỏi: Tôi đang làm việc trong một công ty, vừa qua tôi bị sẩy thai khi đang làm việc. Bệnh viện cấp giấy nghỉ ốm và giấy ra viện, trong đó ghi là tôi bị sốt siêu vi và sẩy thai, được nghỉ 20 ngày. Bà Hương hỏi, trường hợp này bà nên hưởng theo chế độ nghỉ ốm hay nghỉ thai sản, hồ sơ giải quyết chế độ ốm đau như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của pháp luật về BHXH hiện hành, người lao động tham gia BHXH bắt buộc bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế được hưởng chế độ ốm đau; thời gian hưởng tối đa trong một năm (tính theo ngày làm việc) đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường là 30 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm, 40 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm, 60 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 30 năm trở lên; làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại được nghỉ 40 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 30 năm trở lên; mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

Luật BHXH quy định thời gian hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ khi sẩy thai là 20 ngày nếu thai từ 1 tháng đến dưới 3 tháng (tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hàng tuần). Mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

Ngoài ra, người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau, thai sản mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 ngày đến 10 ngày trong một năm.

 

Luật BHXH quy định hồ sơ giải quyết hưởng chế độ đối với bản thân ốm đau, gồm:

 

- Sổ BHXH

- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) trong trường hợp người lao động điều trị nội trú hoặc Giấy chứng nhận nghỉ việc BHXH trong trường hợp người lao động điều trị ngoại trú (Mẫu số C65-HD).

 

Hồ sơ giải quyết hưởng chế độ thai sản, gồm:

 

- Sổ BHXH

 

- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH (Mẫu số C65-HD) hoặc giấy khám thai (bản chính hoặc bản sao), sổ khám thai (bản chính hoặc bản sao).

 

Ngoài ra có thêm danh sách thanh toán chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động lập (Mẫu số C70a-HD).

 

Trường hợp cụ thể của bà, đề nghị bà đối chiếu với quy định nêu trên, lập hồ sơ nộp cho người sử dụng lao động để được xem xét, giải quyết chế độ BHXH.

 

2. Ông Vũ Đức Hà, trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Theo tôi được biết thời gian vừa qua, cơ quan Công an ở nhiều nơi đã bất ngờ kiểm tra hành chính nhiều khách sạn và phát hiện nhiều đôi nam nữ đang có hành vi mua bán dâm. Xin hỏi, hành vi mua bán dâm được hiểu như thế nào? Có khi nào tôi và người yêu của mình cũng bị quy vào trường hợp đó hay không?

 

Trả lời:

 

Theo Pháp lệnh Phòng chống mại dâm 2003 thì:

 

1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

 

2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.

 

Bên cạnh đó, Điều 256 Bộ luật Hình sự 1999 quy định: Tội mua dâm người chưa thành niên như sau: “Người nào mua dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

 

Như vậy, hành vi mua bán dâm đối với người đã thành niên sẽ không bị xử lý hình sự mà chị bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể: Đối với người mua dâm, Điều 22 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003 quy định:

 

"1. Người mua dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền.

 

2. Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV/AIDS mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự".

 

Đối với người bán dâm, Điều 23 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003 quy định:

 

"1. Người bán dâm: tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh. Người bán dâm là người nước ngoài thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất.

 

2. Người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự".

 

Tuy nhiên từ khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực (1/7/2013) thì Không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm. Người có hành vi bán dâm bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

 

Đối với đối tượng người mua dâm là cán bộ, công chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thì ngoài bị xử lý theo quy định  trên, còn bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục và xử lý kỷ luật. Trong thời gian bị xử lý kỷ luật không được đề cử, ứng cử vào các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; không được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương hoặc cao hơn trong các cơ quan nhà nước hoặc trong lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Như vậy, đối với trường hợp của hai bạn xuất phát từ tình yêu trong sáng thì rất khó có thể bị quy chụp với trường hợp này.

 

3. Bà Trần Thị Mười, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chồng tôi đang thi hành án phạt tù, tôi được biết hằng năm nhà nước vẫn có chế độ đặc xá cho phạm nhân, vậy điều kiện để được hưởng chế độ này là gì?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 10 Luật Đặc xá năm 2007, người bị kết án phạt tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau:

 

- Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

- Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác

 

- Đã chấp hành hình phạt tù được ít nhất là một phần ba thời gian phạt tù có thời hạn (nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù), hoặc đã chấp hành ít hơn một phần ba thời gian phạt tù có thời hạn nhưng thuộc một trong các trường hợp sau:

 

+ Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;

 

+ Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;

 

+ Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;

 

+ Khi phạm tội là người chưa thành niên;

 

+ Là người từ 70 tuổi trở lên;

 

+ Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú;

 

+ Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định./.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 9  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Hà Thị Thủy, trú tại khu ga Bắc, thị trấn Đồng Đăng hỏi: Tại sao pháp luật quy định khi mới vào làm việc tại công ty lại phải thử việc, thời gian thử việc và tiền lương trong thời gian này được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ vào các Điều 26, 27, 28, 29 của Bộ Luật lao động năm 2012 thì:

 

Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật lao động.

 

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

 

Vê Thời gian thử việc: Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

 

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

 

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

 

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

 

Vấn đề Tiền lương trong thời gian thử việc: Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

 

Kết thúc thời gian thử việc:

 

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

 

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

 

2. Ông Nguyễn Quốc Bằng, trú tại thôn Cầu Lường, xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng hỏi: Một người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, được gọi nhập ngũ nhưng không đến địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ thì bị xử lý như thế nào, nếu bị xử phạt thì ai có thẩm quyền xử phạt?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự. Tại Điều 22 Luật này quy định: công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời gian và địa điểm thì phải có giấy xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú.

 

Theo quy định tại Điều 9 và Điều 37 Nghị định số 151/2003/NĐ-CP ngày 09/12/2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng thì đối với trường hợp người đã có lệnh gọi nhập ngũ mà trốn tránh, không có mặt đúng thời gian, địa điểm quy định đã ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng, người có thẩm quyền xử phạt là Chủ tịch UBND xã. Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn buộc phải chấp hành lệnh gọi nhập ngũ theo quy định của pháp luật vào đợt nhập ngũ tiếp theo nếu không thuộc diện đối tượng được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự.

 

 

3. Bà Ma Thị Cầu, trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: Tôi nghe nói Nhà nước mới có quy định về hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, hộ thuộc diện chính sách xã hội. Vậy cụ thể quy định này như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 30 tháng 10 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 60/2014/QĐ-TTg quy định tiêu chí hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện.

 

Theo đó, hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện quy định tại Khoản 7 Điều 3 Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ cấu biểu giá bán lẻ tiền điện, là hộ có một trong những tiêu chí sau:

 

- Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng không thuộc diện hộ nghèo theo quy định của pháp luật và có lượng điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong tháng không quá 50 KWh ở vùng có điện lưới;

 

- Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật sống ở vùng chưa có điện lưới;

 

- Hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng chưa có điện lưới.

 

Trường hợp hộ có nhiều thành viên hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc thuộc diện được hỗ trợ tiền điện theo chính sách khác nhau thì chỉ được hưởng một mức hỗ trợ tiền điện cao nhất.

 

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2014. Hộ chính sách xã hội đã nêu trên được hưởng chính sách hỗ trợ tiền điện từ thời điểm Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg có hiệu lực./.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 2 tháng 12 năm 2014

     

1. Bà Phạm Thị Lợi, trú tại khu Ga thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi thấy trên các phương tiện truyền thông tuyên truyền các quy định về xử phạt hành chính, trong đó có biện pháp tịch thu số lợi bất hợp pháp do vi phạm hành chính để xung công quỹ nhà nước nhưng tôi chưa hiểu cụ thể căn cứ để xác định số lợi bất hợp pháp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 149/2014/TT-BTC           Ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để sung vào ngân sách nhà nước, xin được trả lời bà như sau:

 

- Việc xác định số lợi bất hợp pháp do người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện và ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Số lợi bất hợp pháp được xác định từ khi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính đến thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc có quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

 

- Số lợi bất hợp pháp do vi phạm hành chính gồm tiền, giấy tờ có giá, tài sản và vật có giá. Đối với số lợi bất hợp pháp bằng tiền, căn cứ để xác định là số lượng hàng hóa, dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định nhân với đơn giá. Trường hợp không xác định được số lượng, khối lượng, đơn giá, số lợi bất hợp pháp thu được là số tiền tổ chức, cá nhân thu được. Giấy tờ có giá thu được từ hành vi vi phạm hành chính bao gồm: trái phiếu, hối phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, séc, công trái, chứng khoán theo quy định và các giấy tờ có giá khác theo quy định của Luật chuyên ngành.

 

- Trường hợp tài sản hoặc vật có giá không phải hàng cấm, hàng lậu, hàng giả đã được chuyển nhượng, tiêu thụ hoặc tiêu hủy trước thời điểm ra quyết định xử lý, số lợi bất hợp pháp được xác định bằng tiền tương đương giá trị thị trường của tài sản, vật có giá cùng loại hoặc xác định theo giá trị sổ sách của tài sản, vật có giá (nếu không có giá trị thị trường) hoặc xác định bằng giá trị tiền của tài sản, vật có giá ghi trên tờ khai xuất khẩu, tờ khai nhập khẩu (nếu là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) sau khi trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa.

 

- Trường hợp tài sản hoặc vật có giá là hàng cấm, hàng lậu, hàng giả đã được chuyển nhượng hoặc tiêu thụ trước thời điểm người có thẩm quyền ra quyết định xử lý, số lợi bất hợp pháp được xác định là tổng số tiền mà tổ chức, cá nhân nhận được khi thực hiện chuyển nhượng.

 

Cũng theo Thông tư trên, việc xử lý số lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm hành chính là tiền, giấy tờ có giá, tài sản và vật có giá để sung vào NSNN được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 29/2014/NĐ-CP ngày 10/4/2014 và Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định này.

 

2. Ông Nguyễn Văn Thành, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những hành vi nào của công chứng viên bị xử phạt?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 14 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Bộ tư pháp quy định xử phạt vi phạm ahnhf chính trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình,t hi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì đối với Hành vi vi phạm quy định về công chứng viên được quy định tại Điều 14 như sau:

 

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định tại Điều 39 của Luật công chứng;

 

b) Công chứng không đúng thời hạn quy định;

 

c) Sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng không đúng quy định;

 

d) Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;

 

đ) Từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch mà không có căn cứ.

 

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Tiết lộ nội dung công chứng mà không được sự đồng ý bằng văn bản của người yêu cầu công chứng trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

 

b) Công chứng hợp đồng, giao dịch mà thiếu chữ ký của người yêu cầu công chứng, công chứng viên vào từng trang của hợp đồng, giao dịch;

 

c) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng theo quy định của pháp luật, thù lao công chứng đã xác định và chi phí khác đã thỏa thuận;

 

d) Không chứng kiến việc người yêu cầu công chứng ký vào văn bản công chứng trừ trường hợp do pháp luật quy định;

 

đ) Lời chứng của công chứng viên trong văn bản công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 5 của Luật công chứng.

 

3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Công chứng không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 của Luật công chứng;

 

b) Công chứng liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của vợ hoặc chồng, cháu là con của con trai, con gái, con nuôi;

 

c) Cho người khác sử dụng thẻ công chứng viên của mình để hành nghề công chứng;

 

d) Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch không đúng quy định tại Điều 44 của Luật công chứng;

 

đ) Công chứng hợp đồng, giao dịch trong trường hợp không có căn cứ xác định quyền sử dụng, sở hữu riêng đối với tài sản khi tham gia giao dịch;

 

e) Công chứng hợp đồng, giao dịch có nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội;

 

g) Sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung thẻ công chứng viên.

 

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Sử dụng thẻ công chứng viên giả;

 

b) Sử dụng thẻ công chứng viên của người khác để hành nghề công chứng.

 

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Làm giả thẻ công chứng viên;

 

b) Cá nhân không có thẩm quyền công chứng mà hoạt động với danh nghĩa người có thẩm quyền công chứng.

 

6. Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên 12 tháng đối với hành vi công chứng trước vào hợp đồng, giao dịch khi chưa xác định đầy đủ các bên chủ thể của hợp đồng, giao dịch đó.

 

7. Hình thức xử phạt bổ sung:

 

Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 3 Điều này.

 

8. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm a Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

 

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại Điểm c Khoản 2, Khoản 4, Khoản 5 Điều này.

 

3. Nhắn tin:

 

Trong tuần qua, chúng tôi nhận được đơn của bà Hoàng Viết Giàu, trú tại thôn kéo, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Trong quá trình giải quyết chế độ đất đai, gia đình bà đã được UBND huyện phân cho 2 lô đất tái định cư nhưng đến nay đã lâu mà chưa được nhận, đề nghị bà liên hệ đến Phòng Tiếp công dân của UBND huyện để được hướng dẫn, giải quyết.

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 25 tháng 11 năm 2014

1.      Ông Vi Văn Liêm, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc cấp Sổ hộ khẩu cho cá nhân và cấp đổi sổ hộ khẩu khi bị mất, hư hỏng được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

            Căn cứ Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú thì:

 

         Sổ hộ khẩu được cấp cho cá nhân thuộc một trong những trường hợp sau đây:

 

          + Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có chỗ ở độc lập với gia đình của người đó, người sống độc thân, người được tách sổ hộ khẩu theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật cư trú;

 

         + Người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền, phương tiện hành nghề lưu động khác, nếu họ không sống theo hộ gia đình;

 

         + Thương binh, bệnh binh, người thuộc diện chính sách ưu đãi của Nhà nước, người già yếu, cô đơn, người tàn tật và các trường hợp khác được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung;

 

          + Chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà sống tại cơ sở tôn giáo.

 

-        

Sổ hộ khẩu có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.

          - Công dân thay đổi nơi thường trú ngoài phạm vi xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh, ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, ngoài phạm vi thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì được cấp sổ hộ khẩu mới.

 

           Về việc Đổi, cấp lại sổ hộ khẩu:

 

          Trường hợp sổ hộ khẩu bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại. Sổ hộ khẩu được đổi, cấp lại có số, nội dung như sổ hộ khẩu đã cấp trước đây. Hồ sơ đổi, cấp lại sổ hộ khẩu bao gồm:

 

          - Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. Trường hợp cấp lại sổ hộ khẩu tại thành phố, thị xã thuộc tỉnh và quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

 

-        

Sổ hộ khẩu (đối với trường hợp đổi sổ hộ khẩu do bị hư hỏng) hoặc sổ hộ khẩu gia

đình, giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể (đối với trường hợp đổi từ mẫu sổ cũ đổi sang mẫu số mới).

           Cơ quan đăng ký cư trú thu lại sổ hộ khẩu bị hư hỏng hoặc sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể và đóng dấu hủy để lưu hồ sơ hộ khẩu.

 

          - Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền đăng ký thường trú phải đổi, cấp lại sổ hộ khẩu./.

 

2. Bà Trần Hoài Lan, trú tại xã Gia cát, huyện cao Lộc hỏi: Hiện nay có nhiều người đi mua thuốc sâu về phun lúa, ngô phum xong vất vỏ bao bì gây ô nhiễm môi trường, vậy vấn đề này sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 26 Nghị định số 114/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì Vi phạm quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bị xử phạt như sau:

 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng với nội dung hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn, bao gói.

 

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không có tên trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và hạn chế sử dụng ở Việt Nam;

 

b) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật dưới dạng ống tiêm thủy tinh.

 

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng ở Việt Nam;

 

b) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng nội dung hướng dẫn ghi trên bao gói gây nguy hiểm cho người, gia súc và làm ô nhiễm môi trường.

 

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

 

a) Buộc tiêu hủy thuốc đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 và Điểm a, Khoản 3 Điều này;

 

b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Khoản 3 Điều này.

 

3.   

Ông Nguyễn Văn Nam, trú tại phường Chi lăng, thành phố Láng Sơn hỏi: Tôi được biết Hiến pháp năm 2013 có nhiều quy định mới về quyền con người, đề nghị Đài cho biết rõ hơn về vấn đề này?

 

Trả lời:

 

Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương II Hiến pháp năm 2013) Hiến pháp khẳng định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14). Quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hoá, xã hội được thể hiện trong quyền công dân (Điều 50). Hiến pháp đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 14). Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà phải “theo quy định của luật”.

 

- Khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo hướng: quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15).

 

- Tiếp tục làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người

 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 18 tháng 11 năm 2014

 

1.Bà Trương Thị Thanh, sinh năm 1963, trú tại thôn Nà Nùng, xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị một người cùng thôn vu khống cho tôi 2 lần là ăn trộm và ném đá vào mái nhà người khác làm ảnh hưởng đến danh dự của tôi, vậy tôi phải làm gì để khởi kiện người đó ra Tòa án đòi bồi thường danh dự, nhân phẩm cho tôi?

 

Trả lời:

 

            Vấn đề bà hỏi, chúng tôi xin trả lời như sau:

 

            Về dân sự: Theo quy định điều Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

 

  Về Hình sự: Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về Tội vu khống như sau:

 

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 7 năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

c) Đối với nhiều người;

 

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

 

đ) Đối với người thi hành công vụ;

 

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm.

 

            Căn cứ quy định trên, nếu có căn cứ, bà có thể làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc khởi kiện vụ án dân sự hoặc làm đơn tố cáo đến Công an  huyện Cao Lộc để giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

2. Bà Hoàng Thị Phay, trú tại thôn Hoàng Sơn, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi là bị hại trong vụ án hình sự số 33/2014/HSST ngày 26/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, người gây thiệt hại cho tôi phải chấp hành 6 tháng tù giam và bồi thường 20 triệu đồng cho tôi, nhưng đến nay đã qua 8 tháng tôi vẫn chưa nhận được tiền bồi thường. Vậy tôi phải làm gì để người bị hại bồi thường cho tôi theo phán quyết của Tòa án?

 

Trả lời:

 

Theo quy định Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về Đơn yêu cầu thi hành án thì người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án.

 

1. Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

 

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

 

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

 

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

 

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

 

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

 

2. Người làm đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân.

 

Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án.

 

Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có.

 

3. Người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật này.

 

Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

 

Để được giải quyết đòi tiền bồi thường thiệt hại theo bản án đề nghị bà liên hệ đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn để gửi đơn yêu cầu thi hành án và làm các thủ tục theo quy định.

 

3. Nhắn tin:

 

Trong tuần qua, chúng tôi nhận được đơn của ông La Thái Bảo, trú tại thôn Nà Hai, xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình hiện đang công tác tại xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình. Ông Bảo hỏi và thắc mắc về chế độ xếp lương đối với ông, đơn của ông chúng tôi chuyển đến Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn xem xét, trả lời./.

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 11 tháng 11 năm 2014

 

1. Ông Hoàng Trần Hồng và các hộ dân trú tại thôn Nà Soong, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Chúng tôi thuộc những hộ dân bị thu hồi đất để xây dựng Bến xe phía Nam thành phố Lạng Sơn, xin hỏi quy trình thu hồi đất được pháp luật quy định như thế nào, khi cơ quan nhà nước thu hồi không đúng quy trình chúng tôi phải khiếu nại đến đâu để được giải quyết?

Trả lời:

 

Theo đơn ông và các hộ dân trình bày thì việc thu hồi đất để xây dựng Bến xe phía Nam được thực hiện trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành, về trình tự thu hồi đất ở thời điểm này áp dụng theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

 

Theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giao đất, cho thuê đất được thực hiện như sau:

 

1. Về thẩm quyền quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất thực hiện theo quy định tại Điều 37 và Điều 44 của Luật Đất đai.

 

Trường hợp thu hồi đất và giao đất hoặc cho thuê đất thuộc thẩm quyền của một cấp thì việc thu hồi đất và giao đất hoặc cho thuê đất được thực hiện trong cùng một quyết định.

 

Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài và giao đất, cho thuê đất theo dự án cho chủ đầu tư trong cùng một quyết định.

 

2. Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất, cơ quan tài nguyên và môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt và công bố công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định sau:

 

a) Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất liên quan từ hai quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên;

 

b) Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này;

 

c) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

 

3. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư.

 

4. Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

 

Trường hợp việc bồi thường được thực hiện theo tiến độ thì chủ đầu tư được nhận bàn giao phần diện tích mặt bằng đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ để triển khai dự án.

 

5. Trường hợp chủ đầu tư và những người bị thu hồi đất đã thỏa thuận bằng văn bản thống nhất về phương án bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất hoặc khu đất thu hồi không phải giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.

 

Theo quy định nêu trên, nếu cơ quan có thẩm quyền thực hiện không đúng quy trình về thu hồi đất và chi trả các chế độ theo quy định thì cá nhân, công dân bị thiệt hại có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật

 

 

 

2. Tôi được biết Nhà nước mới có quy định về nộp phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện, vậy quy định mới này có điểm gì mới và những đối tượng nào được miễn phí sử dụng đường bộ, việc kê khai được thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

 

 

 Ngày 11/9/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 133/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện thay thế cho Thông tư số 197/2012/TT-BTC, Thông tư 133 có hiệu lực từ ngày 012/11/2014, theo đó:

 

Miễn phí sử dụng đường bộ đối với: Xe cứu thương, xe cứu hoả, xe chuyên dùng phục vụ tang lễ, xe chuyên dùng phục vụ quốc phòng (xe mang biển số: nền màu đỏ, chữ và số màu trắng dập chìm có gắn các thiết bị chuyên dụng cho quốc phòng), xe ô tô chuyên dùng phục vụ an ninh của các lực lượng công an (Bộ Công an; Công an tỉnh, thành phố; Công an quận, huyện,...), xe mô tô của lực lượng công an, quốc phòng, xe mô tô của chủ phương tiện thuộc các hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về hộ nghèo.

 

Mức phí đối với xe mô tô (không bao gồm xe máy điện): Loại có dung tích xy lanh đến 100 cm3 tối đa 100.000 đồng/năm (quy định cũ là từ 50.000 – 100.000 đồng); loại có dung tích xy lanh trên 100 cm3 tối đa 150.000 đồng/ năm (quy định cũ là từ 100.000 – 150.000 đồng).

 

Mức thu phí đối với xe ô tô của lực lượng quốc phòng: Xe ô tô con quân sự là 01 triệu đồng/vé/năm; xe ô tô vận tải quân sự là 1,5 triệu đồng/vé/năm.

 

Mức thu phí đối với xe ô tô của lực lượng công an: Xe dưới 7 chỗ ngồi 01 triệu đồng/vé/năm; Xe ô tô từ 7 chỗ ngồi trở lên, xe ô tô chuyên dùng (xe khám nghiệm hiện trường, xe thông tin, xe liên lạc di động chuyên dùng), xe vận tải đều có mức phí là 1,5 triệu đồng/vé/năm.

 

Chủ sở hữu xe ô tô đăng ký tại Việt Nam có quyền lựa chọn cách khai và nộp phí theo chu kỳ đăng kiểm, theo năm dương lịch (trước ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo, chủ phương tiện phải đến cơ quan đăng kiểm khai, nộp phí cho năm tiếp theo) hoặc theo tháng (áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải có số phí phải nộp từ 30 triệu đồng/tháng trở lên, hàng tháng, trước ngày 01 của tháng tiếp theo, doanh nghiệp, hợp tác xã phải đến cơ quan đăng kiểm khai, nộp phí cho tháng tiếp theo).

 

Chủ sở hữu xe mô tô tiện thực hiện khai, nộp phí như sau:

 

- Đối với xe phát sinh từ ngày 01/01 đến ngày 30/6 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 7 hàng năm (từ ngày 01/7 đến ngày 31/7).

 

- Đối với xe phát sinh từ ngày 01/7 đến ngày 31/12 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 01 năm sau (chậm nhất ngày 31/01):

 

- Các năm tiếp theo không có biến động tăng, giảm xe, chủ phương tiện thực hiện nộp phí vào tháng 01 hàng năm (chậm nhất 31/01) mức thu phí 12 tháng cho cơ quan thu phí./.

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 4 tháng 11 năm 2014

 

1. Bà Nguyễn Thị Môm, sinh năm 1932 trú tại thôn Còn Làng, xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là mẹ liệt sĩ, được Nhà nước cấp thẻ Bảo hiểm y tế, vậy nếu tôi đi khám, cha bệnh thì có được miễn tiền viện phí hay không?

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 15 Điều 12, điểm d khoản 1 Điều 13  Luật Bảo hiểm y tế quy định: “Thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng” thì sẽ do ngân sách Nhà nước đóng bảo hiểm y tế.

 

Về mức hưởng Bảo hiểm y tế hiện tại theo điểm d khoản 1 Điều 22 đối với thân nhân người có công là 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2015 thì  tại Điều 22 quy định Người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các điều 26, 27 và 28 của Luật này thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau: “100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật này. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật này được chi trả từ nguồn kinh phí bảo hiểm y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh của nhóm đối tượng này; trường hợp nguồn kinh phí này không đủ thì do ngân sách nhà nước bảo đảm”.

 

Như vậy bà là mẹ liệt sĩ thuộc điểm i khoản 3 Điều 12 của Luật bảo hiểm y tế sửa đổi thì được Nhà nước thanh toán 100% tiền viện phí từ thời điểm 01/01/2015 trở đi nếu đáp ứng đủ các điều kiện khám chữa bệnh tại điều 26, 27, 28 của Luật này nhưng khám chữa bệnh phải đúng tuyến hoặc chuyển tuyến đúng quy định, có đầy đủ hồ sơ giấy tờ chứng minh nhân thân trong trường hợp cấp cứu thì được miễn 100% tiền viện phí.

 

 

 

 

 

 

2. Ông Vi Văn Cẳm, trú tại thôn Bản Lăm, xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng hỏi: Gia đình tôi cũng như nhiều hộ dân trong xã bị thiệt hại rất nhiều hoa màu, tài sản do cơn bão số 2 gây ra. Vậy đề nghị Đài cho biết, trung ương hỗ trợ tỉnh Lạng Sơn bao nhiêu tấn gạo, cấp phát cho huyện Chi Lăng bao nhiêu tấn, cấp phát cho người dân theo căn cứ thiệt hại nào?

 

Trả lời:

Ngày 4/9/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1570/QĐ-TTg về việc hỗ trợ gạo cứu đói cho tỉnh Lạng Sơn, theo đó Thủ tưởng Chỉnh phủ quyết định xuất cấp không thu tiền 1.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ Quốc gia cho tỉnh Lạng Sơn để cứu đói cho nhân dân bị thiệt hại do cơn bão số 2 gây ra. Bên cạnh đó Thủ tướng đã Quyết định số 1712/QĐ-TTg, ngày 24/9/2014 về việc hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả cơn bão số 2 và mưa lũ, đã trích 195 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2014 để hỗ trợ 12 địa phương khắc phục hậu quả cơn bão số 2 và mưa lũ, theo đó tỉnh Lạng Sơn được hỗ trợ 50 tỷ đồng.

Ngày 16/9/2014 Cục Dự trữ Nhà nước Khu vực Hà Bắc đã có Công văn số 372/CDTHB-KH&QLHDT về việc xuất gạo DTQG hỗ trợ cho tỉnh Lạng Sơn để cứu trợ cho nhân dân bị thiệt hại do cơn bão số 2 gây ra năm 2014

Trên cơ sở đó thì UBND tỉnh Lạng Sơn đã có văn bản Giao Sở Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND các huyện, thành phố chủ động liên hệ với Cục Dự trữ Nhà nước Khu vực Hà Bắc xây dựng kế hoạch tiếp nhận gạo và phân bổ cho các đơn vị theo Quyết định số 1439/QĐ-UBND ngày 12/9/2014 của UBND tỉnh về phân bổ gạo của Thủ tướng Chính phủ cứu trợ các hộ gia đình bị thiệt hại do cơn bão số 2.

Theo Quyết định 1439/QĐ-UBND ngày 12/9/2014 của UBND tỉnh Lạng Sơn thì các huyện được phân bổ gạo cụ thể như sau: Huyện Hữu Lũng: 40.000 kg gạo; huyện Chi Lăng: 73.600 kg gạo; huyện Cao Lộc: 170.000 kg gạo; huyện Văn Quan: 80.000 kg gạo; huyện Bình Gia: 80.000 kg gạo; huyện Bắc Sơn: 40.000 kg gạo; huyện Văn Lãng: 106.400 kg gạo; huyện Tràng Định: 170.000 kg gạo; huyện Lộc Bình: 170.000 kg gạo; huyện Đình Lập: 40.000 kg gạo; Thành phố: 30.000 kg gạo.

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch tổ chức tiếp nhận, thực hiện cấp gạo cứu đói cho nhân dân kịp thời, đúng đối tượng.

 

 

3. Bà Lê Thị Vui, trú tại thôn Bó Đy, xã Đồng Ý, huyện Bắc Sơn hỏi: Gia đình tôi có diện tích ruộng do bố mẹ để lại nhưng đến nay bị người khác lấn chiếm và kê khai làm sổ đỏ, chúng tôi đã làm đơn đến UBND xã để tiến hành hòa giải nhưng không thành, vậy tôi phải làm gì để đòi lại diện tích đất này?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013 thì: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các quy định trên, với vụ việc của ông tranh chấp đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi đã được hòa giải tại UBND xã thì ông có thể gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn giải quyết theo thẩm quyền.

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014


1.Bà Mai Thị Lý, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi muốn kinh doanh xăng dầu, vậy điều kiện để làm nhà phân phối xăng dầu hoặc điều kiện làm đại lý kinh doanh bán lẻ xăng dầu được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 09 năm 2014 của CHính phủ về Kinh doanh xăng dầu, tại Điều 13 quy định về Điều kiện đối với thương nhân phân phối xăng dầu như sau:

 

Thương nhân có đủ các điều kiện dưới đây được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu:

 

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

 

2. Có kho, bể dung tích tối thiểu hai nghìn mét khối (2.000 m3), thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.

 

3. Có phương tiện vận tải xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.

 

4. Có phòng thử nghiệm thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc có hợp đồng dịch vụ thuê cơ quan nhà nước có phòng thử nghiệm đủ năng lực kiểm tra, thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng xăng dầu phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn công bố áp dụng.

 

5. Có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn từ hai (02) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, bao gồm tối thiểu năm (05) cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu, tối thiểu mười (10) cửa hàng thuộc các đại lý bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

 

6. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

Điều 19. Điều kiện đối với đại lý bán lẻ xăng dầu

 

Thương nhân có đủ các điều kiện dưới đây được Sở Công Thương cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu (sau đây gọi tắt là đại lý):

 

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

 

2. Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

 

3. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

2. Ông Nguyễn Duy Hùng, trú tại khu dây thép, thị trấn Đồng Đăng hỏi: Hiện nay tôi thấy rất nhiều người tham gia bán hàng đa cấp từ mỹ phẩm đến thực phẩm chức năng, thậm chí điều trị chăm sóc sức khỏe mà ít thấy bị kiểm soát, khi chào hàng đa số người mới phải tham gia và mua một sản phẩm thì mới được làm đại lý tiếp theo và hưởng phần trăm, như vậy có đúng quy định không và những hành vi nào bị cấm trọng loại hình bán hàng này?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 5 của Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp​ thì Những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp bao gồm:

 

1. Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

 

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 

b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 

c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình;

 

d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;

 

đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

 

g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác;

 

h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo; i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này;

 

k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó;

 

l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào;

 

m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

 

n) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

 

o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

 

q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp;

 

r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;

 

s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.

 

2. Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

 

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

 

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

 

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 21 tháng 10 năm 2014


1.Ông Đặng Hữu Dương, trú tại tổ 1 khối 8, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Năm 2005 tôi đã gửi đơn đến Phòng Lao động thương binh xã hội huyện xin cấp lại bằng tổ quốc ghi công của Liệt sĩ Đặng văn Trục, số bằng BZ 842B để hương khói cho liệt sĩ nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Vậy tôi phải làm gì, gửi đơn đến đâu để được giải quyết?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Bộ Lao động Thương binh và xã hội  Hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân

 

Tại Điều 51 quy định về Thủ tục đổi hoặc cấp lại Bằng “Tổ quốc ghi công” như sau:

 

1. Thân nhân liệt sĩ hoặc người thờ cúng liệt sĩ có đơn đề nghị (Mẫu TQ1) gửi Ủy ban nhân dân cấp xã.

 

2. Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 05 ngày có trách nhiệm xác nhận vào đơn đề nghị, tổng hợp và lập danh sách gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận các giấy tờ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này có trách nhiệm lập và gửi danh sách đổi hoặc cấp lại Bằng đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời hạn 30 ngày từ ngày nhận danh sách, có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu hồ sơ liệt sĩ, lập danh sách liệt sĩ có đầy đủ thông tin (Mẫu TQ2) gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Người có công) kèm công văn đề nghị.

5. Trong thời hạn 30 ngày từ ngày nhận công văn và danh sách, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm in Bằng, gửi Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ.

 

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm tiếp nhận Bằng “Tổ quốc ghi công” từ Cục Người có công để chuyển đến gia đình liệt sĩ.

 

Như vậy, theo nội dung đơn của ông, gia đình ông có liệt sĩ đã được cấp bằng Tổ quốc ghi công số hiệu BZ 842B nhưng do làm mất, bị hư hỏng, rách nát thì gia đình làm thủ tục yêu cầu cấp lại, trình tự và thời hạn được quy định như trên. Đề nghị ông liên hệ đến UBND thị trấn Cao Lộc để giải quyết theo quy định.

 

 

2. Ông Lành Văn Giang, trú tại thôn Phai Rọ, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan hỏi: Năm 2013 gia đình tôi đã hiến 2.070m2 đất cho nhà nước làm đường  từ ngã 3 đầu chợ qua thôn Phai Rọ thẳng vào hàng Lùng Yên, nhưng trong quá trình thi công  đơn vị thi công không lắp cống thoát nước, do mặt đường cao hơn nền nhà của gia đình nên đợt mưa lũ vừa qua gây thiệt hại rất nặng nề cho gia đình. Vậy gia đình tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được bồi thường thiệt hại?

 

Trả lời:

 

Theo nội dung đơn ông trình bày, chúng tôi rất hoan nghênh gia đình đã có tấm lòng vì cộng đồng hiến hơn 2000m2 đất để nhà nước làm đường giao thông. Tuy nhiên theo gia đình phản ánh do đơn vị thi công không không lắp hệ thống cống thoát nước nên gây ảnh hưởng thiệt hại đến hoa màu, tài sản của gia đình.

 

Vấn đề này tại Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra như sau: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”.

 

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại: Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

Điều 607 quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

 

Như vậy, trong trường hợp của gia đình ông, nếu xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại tài sản của gia đình là do công trình làm đường gây ra thì gia đình có thể gửi đơn đến là chủ sở hữu công trình xây dựng hoặc phía đơn vị chịu trách nhiệm thi công, xây dựng công trình để cùng nhau xem xét, thỏa thuận về yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc có thể khởi kiện ra Tòa án theo quy định.

 

3. Ông Lê Xuân Thành 83 tuổi, trú tại thôn Cóoc Rặc, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Tôi sinh được 7 người con, 5 trai 2 gái, các con đều trưởng thành và có gia đình riêng, đối với 5 con trai tôi đều cho đất đai, tiền của và xây dựng nhà cửa đàng hoàng, duy chỉ có 2 người con gái tôi chưa cho được gì, nay tôi có căn nhà và giấy chứng nhận QSDĐ muôn để lại cho 2 người con gái trước khi qua đời. Vậy tôi phải làm như thế nào cho đúng với quy định của pháp luật?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của pháp luật dân sự thì khi ông là người đứng tên riêng trên Giấy chứng nhận QSDĐ thì ông có quyền làm thủ tục tặng cho con gái hoặc bất kỳ ai và giấy tặng cho phải được công chứng hoặc chứng thực theo pháp luật. hoặc ông có thể lập di chúc để lại di sản thừa kế cho con gái  của ông theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự (BLDS) “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

 

Quyền của người lập Di chúc (Điều 648 BLDS): Khi lập di chúc, người lập di chúc có quyền:

 

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

 

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

 

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

 

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

 

- Chỉ định người giữ Di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

 

Về hình thức Di chúc ( Điều 649 BLDS): Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập Di chúc bằng văn bản thì có thể Di chúc miệng.

 

* Nếu Di chúc được lập thành văn bản thì gồm có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm lập Di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập Di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu Di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập Di chúc.

 

Nếu Di chúc bằng miệng, người viết Di chúc không thể tự mình viết bản Di chúc thì phải có 02 người làm chứng, trừ những đối tượng sau không được làm chứng (Người thừa kế theo Di chúc hoặc theo pháp luật của người lập Di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung Di chúc; Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự).

 

Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.

 

Như vậy với quy định của pháp luật hiện hành thì ông có thể làm hợp đồng tặng cho choặc để lại tài sản của mình thông qua di chúc hợp pháp cho 2 con gái của ông.

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 14 tháng 10 năm 2014

 

1. Ông Nông Văn Hiểu, trú tại Bản Coong, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Năm 1996 Gia đình tôi và một số hộ dân cùng thôn được UBND huyện Tràng Định giao đất lâm nghiệp, có sổ lâm bạ. Đến năm 2009, được UBND huyện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng diện tích đất ít hơn so với sổ lâm bạ trước đây, Vây chúng tôi phải khiếu nại đến cơ quan nào để được giải quyết?

 

Trả lời:

            Theo quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 về Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai thì:

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

          Theo quy định tại Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính”.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Trong trường hợp này Giấy chứng nhận QSDĐ do Chủ tịch UBND huyện cấp thì ông và các hộ gia đình liên quan có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Tràng Định để xem xét, giải quyết.

 

 

 

2. Bà Hoàng Thúy Hạnh, trú tại thôn Yên Thành, xã Yên Trạch hỏi: Vợ chồng tôi đang chung sống hợp pháp, nay chồng tôi đòi chia tài sản chung để kinh doanh riêng có được không? nếu vợ chồng tôi ly hôn nhau thì vấn đề nuôi con và chăm sóc con sau ly hôn được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Trong đời sống vợ chồng, có nhiều giao dịch cần đến sự đồng thuận của cả hai vợ chồng như chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, tặng cho…tài sản chung và sự thỏa thuận phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để đáp ứng nhu cầu kinh doanh riêng của mỗi bên. Tuy nhiên để đảm bảo sự thỏa thuận một cách hợp pháp thì phải đảm bảo tuân thủ những quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

Trong trường hợp tình trạng hôn nhân trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài thì một trong các bên được quyền gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án và đây cũng là căn cứ cho ly hôn. Hai bên có thể thỏa thuận về việc nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản và giải quyết các khoản nợ. Nếu không thỏa thuận được thì có thể đề xuất nguyện vọng của mỗi bên tại Tòa án. Tòa án sẽ xem xét tới nguyện vọng của hai bên, sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng để quyết định vấn đề này. Tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau:

Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vợ, chồng thỏa  thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa  thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa  thuận khác”.

 

3. Nhắn tin

Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của bà Nông Thị Dung, trú tại thôn Lậu Cáy, xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng. Nội dung đơn bà Dung tố cáo chồng bà vi phạm Luật Hôn nhân gia đình. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Công an tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 7 tháng 10 năm 2014

 

 

1. Ông Lâm Văn Ba, thôn Quảng Trung I, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có một mảnh đất tại thôn Pò Hé, xã Quảng Lạc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2000, nhưng hiện nay bị 3 gia đình ở cùng thôn lấn chiếm, tranh chấp. Vậy tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được giải quyết?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013 thì: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các quy định trên, với vụ việc của ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi  hòa giải tại UBND xã không thành,  ông có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn giải quyết theo thẩm quyền.

 

 

2. Bà Nông Thị Lai, trú tại thôn Ngọc trí, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Gia đình tôi có thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, nay UBND huyện thu hồi để xây dựng nhà văn hóa thôn nhưng không được đền bù. Như vậy có đúng quy định không và gia đình tôi phải làm gì?

 

Trả lời:

Từ Điều 61 đến Điều 65 Luật Đất đai quy định các căn cứ thu hồi đất bao gồm: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Tại Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định: Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Nếu cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất của gia đình bà không tuân theo trình tự, thủ tục quy định thì bà có quyền làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Bình Gia hoặc làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Bình Gia theo quy định của Luật đất đai và Luật Tố tụng hành chính.

 

3. Nhắn tin

- Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của bà Hoàng Thị Vinh, trú tại thôn Sông Sài, xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, nội dung bà Vinh hỏi về việc con trai bà bị cô hiệu trưởng trường đánh phải đi viện điều trị, bà đã gửi đơn đến công an huyện và Phòng giáo dục huyện Lộc Bình nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh xem xét, giải quyết.

- Đơn của ông Hoàng Văn Luật, trú tại thôn Làng Bên, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng đề nghị tra cứu hồ sơ căn cước công dân của bà Hoàng Thị Chuyền sinh năm 1940, mất năm 1984 ở Bằng Mạc, Chi Lăng. Đơn chúng tôi chuyển đến Phòng Hồ sơ- Công an tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

- Đơn của ông Lâm Văn Luận, trú tại thôn Điểm Trên, xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng thắc mắc về việc thu tiền quỹ hội cha mẹ học sinh và việc sử dụng nguồn quỹ này. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh xem xét, trả lời./.


 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 30 tháng 9 năm 2014

 

 1. Ông Nguyễn Mạnh Hà trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

"Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam.

 

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hành vi sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Về xử phạt vi phạm hành chính:

 

Điều 10 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo về quyền lợi người tiêu dùng quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với việc sản xuất, buôn bán hàng cấm, cụ thể như sau:

 

1. Đối với hành vi buôn bán hàng cấm quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định này, căn cứ vào giá trị của hàng cấm, người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 100 triệu đồng.

 

2. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định tại khoản 1 Điều này đối với hành vi sản xuất hàng cấm.

 

3. Các mức phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng xử phạt hành chính đối với:

 

a) Chủ phương tiện vận tải hoặc người điều khiển phương tiện vận tải có hành vi vận chuyển hàng cấm;

 

b) Chủ kho tàng, bến bãi, nhà ở có hành vi tàng trữ hàng cấm;

 

c) Người có hành vi giao nhận hàng cấm.

 

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

 

a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

b) Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc và vật khác được sử dụng để sản xuất hàng cấm đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;

 

c) Tịch thu phương tiện vận tải được sử dụng để vận chuyển hàng cấm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp hàng cấm có giá trị từ 70.000.000 đồng trở lên hoặc vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

d) Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

đ) Đình chỉ hoạt động một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất vi phạm từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc tiêu hủy tang vật là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, môi trường, đồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách và sức khỏe trẻ em và văn hóa phẩm độc hại đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

c) Buộc thu hồi tiêu hủy hàng cấm đang lưu thông trên thị trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

 

Về xử lý hình sự:

 

Tại Điều 155 Bộ Luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, cụ thể như sau:

 

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

 

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

 

đ) Hàng phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn;

 

e) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn  hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

 

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

 2: Chị Hoàng Thanh Hương trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Mức lương tối thiểu vùng được áp dụng với những đối tượng nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Nghị định số 182/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động thì mức lương tối thiểu vùng được áp dụng đối với những đối tượng sau:

 

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động trả lương, bao gồm:

 

- Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).

 

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

- Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

 

Kể từ ngày 01/01/2014, mức lương tối thiểu vùng được áp dụng như sau:

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng I áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.700.000 đồng/tháng

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng II áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.400.000 đồng/tháng

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng III áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.100.000 đồng/tháng


TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI Thứ ba, ngày 23 tháng 9 năm 2014

 

 

 1. Ông Phan Tuấn Anh trú thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị mất hết giấy khai sinh cả bản sao và bản chính, tôi có thể xin đăng ký lại được không ?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, thì việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi đã được đăng ký, nhưng sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thì được đăng ký lại. Thẩm quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi trước đây thực hiện việc đăng ký lại.

 

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và Khoản 13 Nghị định 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực, Thủ lục đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi cụ thể như sau:

 

1. Người có yêu cầu đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây (nếu có); trong trường hợp không có bản sao giấy tờ hộ tịch, thì đương sự phải tự cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng sổ hộ tịch không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan.

 

2. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch theo từng loại việc và bản chính Giấy khai sinh, Giấy chứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính giấy tờ hộ tịch theo từng loại việc. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện hộ tịch đăng ký lại (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ.

 

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 03 ngày.

 

3. Khi đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi, nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi được ghi theo nội dung của bản sao giấy tờ hộ tịch đó.

 

Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên. Trong trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện tại.

 

Phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo thời điểm đăng ký lại việc sinh. Riêng phần ghi về quốc tịch của cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ đã được thôi quốc tịch Việt Nam, đã nhập quốc tịch nước ngoài, thì quốc tịch của cha, mẹ vẫn phải ghi quốc tịch Việt Nam; Quốc tịch hiện tại của cha, mẹ được ghi chú vào sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.

 

Trường hợp của ông không còn cả bản chính, bản sao hợp lệ giấy khai sinh trước đây, cần đối chiếu các quy định nêu trên để đăng ký lại việc sinh của mình. Ông có thể đăng ký lại việc sinh tại UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh lần đầu hoặc đăng ký lại việc sinh tại UBND cấp xã nơi cư trú hiện nay.

 

 

 

 

 2. Ông Lê Hữu Khôi trú phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi bị mất hộ chiếu của mình nhưng tôi chưa khai báo với cơ quan có thẩm quyền. Vậy nếu tôi không khai báo thì tôi có bị xử phạt gì không?

 

 

 

 

 Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có nêu rõ:

 

"2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

 

a) Không thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền về việc mất, hư hỏng hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực Việt Nam, thẻ tạm trú, thẻ thường trú;

 

b) Tẩy, xóa, sửa chữa hoặc làm sai lệch hình thức, nội dung ghi trong hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực, thẻ tạm trú và thẻ thường trú;

 

c) Khai không đúng sự thật để được cấp hộ chiếu, giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực Việt Nam, thẻ tạm trú, thẻ thường trú hoặc giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam;

 

d) Người nước ngoài đi vào khu vực cấm, khu vực nhà nước quy định cần có giấy phép mà không có giấy phép hoặc đi lại quá phạm vi, thời hạn được phép;

 

đ) Không xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu hoặc giấy tờ có liên quan đến xuất nhập cảnh khi nhà chức trách Việt Nam yêu cầu; không chấp hành các yêu cầu khác của nhà chức trách Việt Nam về kiểm tra người, hành lý;

 

e) Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định hoặc sử dụng chứng nhận tạm trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 15 ngày trở xuống mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

 

g) Cho người nước ngoài nghỉ qua đêm nhưng không khai báo tạm trú, không hướng dẫn người nước ngoài khai báo tạm trú theo quy định hoặc không thực hiện đúng các quy định khác của cơ quan có thẩm quyền."

 

Như vậy, nếu ông không khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc mất hộ chiếu thì sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

 

 

 

 

 

3. Chị Nguyễn Thị Quyên trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: Tiền lương đối với viên chức đang thực hiện chế độ tập sự được quy định như thế nào?

 

 

 

 

 

Trả lời :

 

Điều 22 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức quy định như sau :

 

1. Trong thời gian tập sự, người tập sự được hưởng 85% mức lương của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng. Trường hợp người tập sự có trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ và chuyên ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm tuyển dụng thì người tập sự có trình độ thạc sĩ được hưởng 85% mức lương bậc 2, người tập sự có trình độ tiến sĩ được hưởng 85% mức lương bậc 3 của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng. Các khoản phụ cấp được hưởng theo quy định của pháp luật.

 

2. Người tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng trong các trường hợp sau:

 

a) Làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

 

b) Làm việc trong các ngành, nghề độc hại, nguy hiểm;

 

c) Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ.

 

3. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian xét nâng bậc lương.

 

4. Trong thời gian hướng dẫn tập sự, người hướng dẫn tập sự được hưởng hệ số phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 mức lương tối thiểu hiện hành.

 

5. Người hướng dẫn tập sự và người tập sự còn được hưởng các chế độ tiền thưởng và phúc lợi khác (nếu có) theo quy định của Nhà nước và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Cường trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hồ sơ đề nghị cấp và thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng theo quy định hiện nay như thế nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định 64/2012/NĐ-CP ngày 04/9/2012 về cấp Giấy phép xây dựng, Hồ sơ đề nghị cấp và thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng được quy định tại Điều 8 và Điều 14 của Nghị định, cụ thể như sau :

Điều 8. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Chủ đầu tư nộp trực tiếp 01 bộ hồ sơ cho cơ quan cấp giấy phép xây dựng. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng gồm:

1. Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng (theo mẫu đối với từng trường hợp, từng loại công trình).

2. Bản sao có chứng thực một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; giấy tờ về quyền sở hữu công trình, nhà ở, đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo; giấy ủy quyền, đối với trường hợp được chủ sở hữu công trình ủy quyền thực hiện sửa chữa, cải tạo; quyết định cho phép đầu tư xây dựng của cấp có thẩm quyền đối với công trình ngầm đô thị; quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

3. Hai bộ bản vẽ thiết kế do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực thực hiện và đã được chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt theo quy định. Mỗi bộ gồm:

a) Bản vẽ mặt bằng vị trí công trình trên lô đất, mặt bằng ranh giới lô đất, bản vẽ bình đồ (đối với công trình theo tuyến), sơ đồ đấu nối với hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào của công trình (giao thông, thoát nước);

b) Bản vẽ các mặt bằng, các mặt đứng, mặt cắt chủ yếu của công trình;

c) Bản vẽ mặt bằng móng, mặt cắt móng, các bản vẽ kết cấu chịu lực chính (móng, khung, tường, mái chịu lực);

d) Bản vẽ hệ thống PCCC đã được thẩm duyệt đối với công trình thuộc danh mục yêu cầu phải thẩm duyệt phương án phòng chống cháy, nổ theo quy định của pháp luật về PCCC;

đ) Đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo thì phải có các bản vẽ về vị trí, hạng mục cần cải tạo, nếu có ảnh hưởng đến kết cấu công trình thì phải có báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá chất lượng kết cấu cũ liên quan đến các hạng mục cải tạo và các biện pháp gia cố xác định đủ điều kiện để sửa chữa, cải tạo, kèm theo ảnh chụp hiện trạng công trình xin phép cải tạo và công trình lân cận.

4. Đối với trường hợp lắp đặt thiết bị hoặc kết cấu khác vào công trình đã xây dựng, nhưng không thuộc sở hữu của chủ đầu tư thì phải có bản sao có chứng thực Hợp đồng với chủ sở hữu công trình.

5. Quyết định phê duyệt dự án kèm theo văn bản chấp thuận đầu tư của cơ quan có thẩm quyền, ý kiến bằng văn bản về thiết kế cơ sở (nếu có) của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định.

Điều 14. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Sở Xây dựng cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng cấp đặc biệt, cấp I, cấp II; công trình tôn giáo; công trình di tích lịch sử - văn hoá; công trình tượng đài, tranh hoành tráng thuộc địa giới hành chính do mình quản lý; những công trình trên các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị; công trình thuộc dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; công trình thuộc dự án và các công trình khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép xây dựng các công trình còn lại và nhà ở riêng lẻ ở đô thị thuộc địa giới hành chính do mình quản lý, trừ các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này.

3. Ủy ban nhân dân xã cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt thuộc địa giới hành chính do mình quản lý.

 

Câu 2. Bà Vy Thị Phấn trú tại xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi:   Người không phải hòa giải viên có được tham gia hòa giải không?

 

Trả lời:

Theo Điều 19 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013, trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng , chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải. Người được mời tham gia hòa giải phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở. Cơ quan, tổ chức có người được mời tham gia hòa giải có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia hòa giải.

 Như vậy, người không phải hòa giải viên có thể được tham gia hòa giải. Trong quá trình hòa giải, người đó có trách nhiệm tôn trọng các nguyên tắc hòa giải pháp luật quy định.

 

Câu 3. Ông Lê Hoàng Tuấn trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi : Tôi đang thuê quyền sử dụng đất của Nhà nước trong thời hạn 30 năm, trả tiền hàng năm, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy trong thời gian thuê đất, tôi có quyền được đem thế chấp quyền sử dụng đất hay không ?

 

Trả lời:

Khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;

b) Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

c) Để thừa kế, tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người nhận thừa kế, người được tặng cho tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

d) Cho thuê tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê theo quy định của pháp luật về dân sự;

đ) Thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật;

e) Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh; người nhận góp vốn bằng tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định.

Theo quy định nêu trên, khi được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm, ông chỉ được quyền thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê  mà  không được quyền thế chấp quyền sử dụng đất thuê đó.

 



 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 9 tháng 9 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Lê Văn Hùng trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi : Một người muốn nhận người khác làm con nuôi thì cần phải có điều kiện gì và thủ tục nhận nuôi con nuôi như thế nào?

 

Trả lời:

 

Về điều kiện để nhận nuôi con nuôi: Được quy định tại Điều 14, Luật Nuôi con nuôi 2010, cụ thể như sau:

 

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

 

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

 

d) Có tư cách đạo đức tốt.

 

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

 

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

 

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

 

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

 

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

 

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

 

Thủ tục nhận nuôi con nuôi :

 

Hồ sơ nhận nuôi con nuôi:

 

Theo quy định tại điều 17, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

 

1. Đơn xin nhận con nuôi;

 

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

 

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

 

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

 

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Nuôi con nuôi:

 

1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

 

a) Giấy khai sinh;

 

b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

 

c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

 

d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

 

đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

 

Điều 19 Luật Nuôi con nuôi quy định việc nộp hồ sơ, thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi :

1. Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.

 

2. Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Quốc Khánh trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi: Khi xây dựng nhà ở gây thiệt hại đến công trình liền kề thì sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 15 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị quy định việc xử lý công trình xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư, cụ thể như sau:

 

1. Trường hợp công trình xây dựng gây lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ làm sụp đổ các công trình lân cận thì phải ngừng thi công xây dựng để thực hiện bồi thường thiệt hại:

 

a) Việc bồi thường thiệt hại do chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận; Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì bên thiệt hại có quyền khởi kiện đòi bồi thường tại tòa án;

 

b) Công trình chỉ được phép tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại.

 

2. Trường hợp công trình xây dựng gây ô nhiễm môi trường khu vực lân cận, để vật tư, vật liệu và thiết bị thi công gây cản trở giao thông công cộng thì phải ngừng thi công xây dựng; chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng phải có biện pháp khắc phục hậu quả; việc thi công xây dựng chỉ được phép tiếp tục khi chủ đầu tư, nhà thầu thi công đã hoàn thành việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại và bảo đảm không làm ảnh hưởng đến môi trường khu vực lân cận.

 

3. Trường hợp chủ đầu tư, nhà thầu thi công không thực hiện các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì bị đình chỉ thi công xây dựng, đồng thời, áp dụng biện pháp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định này cho đến khi chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng hoàn thành việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại.

 

Thêm vào đó, tại Điều 627 - Bộ luật Dân sự 2005 quy định Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, cụ thể như sau:

 

Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 02 tháng 9 năm 2014

 

Câu 1. Bà Lương Thị Mai  trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi : Mức án phí khi ly hôn tại tòa án hiện nay quy định như thế nào?

Trả lời :

Theo quy định tại Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội  và Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao, thì án phí dân sự sơ thẩm cho một vụ ly hôn hiện nay áp dụng theo mức Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng.

Trong trường hợp có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP, cụ thể như sau :

 

1. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh (Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch), còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

2. Trường hợp vợ chồng yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà Tòa án chấp nhận yêu cầu của vợ, chồng, thì người có nghĩa vụ về tài sản phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ phải chịu; nếu họ không thỏa thuận chia được với nhau mà gộp vào tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải quyết thì mỗi người phải chịu án phí dân sự tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

3. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ về tài sản đối với người khác và người này có yêu cầu độc lập, yêu cầu vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập đó thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau:

a) Người có yêu cầu độc lập không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng;

b) Vợ chồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ có nghĩa vụ đối với người có yêu cầu độc lập;

c) Vợ chồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị phần tài sản mà họ có nghĩa vụ đối với người có yêu cầu độc lập.

Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch quy định như sau:

1.  Giá trị tài sản có tranh chấp từ 4.000.000 đồng trở xuống: Mức án phí là 200.000 đồng;

2.  Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng: Mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp;

3. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng: Mức án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng;

4. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng: Mức án phí là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng;

5. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng: Mức án phí là 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

6. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 4.000.000.000 đồng: Mức án phí là 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

Câu 2. Bà Hoàng Thị Nguyệt trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi : Để mở một cơ sở bán lẻ thuốc chữa bệnh, chủ cơ sở cần phải có những điều kiện chuyên môn như thế nào?

Trả lời :

Điều kiện chuyên môn của chủ cơ sở bán lẻ thuốc, người bán lẻ thuốc được quy định tại Điều 25 Luật Dược 2005:

1. Điều kiện chuyên môn của chủ cơ sở bán lẻ thuốc được quy định như sau:

a) Nhà thuốc phải do dược sĩ có trình độ đại học đứng tên chủ cơ sở;

b) Quầy thuốc phải do dược sĩ có trình độ từ trung học trở lên đứng tên chủ cơ sở;

c) Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp phải do người có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên đứng tên chủ cơ sở;

d) Tủ thuốc của trạm y tế phải do người có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên đứng tên chủ cơ sở; trường hợp chưa có người có chuyên môn từ dược tá trở lên thì phải có người có trình độ chuyên môn từ y sỹ trở lên đứng tên;

đ) Cơ sở bán lẻ thuốc chuyên bán thuốc đông y, thuốc từ dược liệu phải do dược sĩ có trình độ trung học trở lên hoặc người có văn bằng, chứng chỉ về y học cổ truyền hoặc dược học cổ truyền đứng tên chủ cơ sở.

2. Người bán lẻ thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều này phải có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên; tại điểm d khoản 1 Điều này phải có chuyên môn về y, dược.

Như vậy, khi mở cơ sở bán lẻ thuốc, dù ở bất cứ hình thức nào: nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý bán thuốc,…chủ cơ sở bán lẻ thuốc phải có trình độ chuyên môn theo quy định. Ngoài ra kinh doanh thuốc là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc (sau đây gọi chung là cơ sở kinh doanh thuốc) phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc. Cơ sở kinh doanh thuốc được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự có trình độ chuyên môn cần thiết cho từng hình thức kinh doanh thuốc;

- Người quản lý chuyên môn về dược đã được cấp Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với hình thức kinh doanh.

 

Câu 3. Bà Lê Thị Tuyến trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi : Tôi cho người khác vay tiền bằng giấy viết tay, đã quá hạn mà người đó không chịu trả, tôi có khởi kiện tại Tòa án được không ?

Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự : Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

Điều 471 quy định : Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy hợp đồng vay tài sản không thuộc trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép.

Trong trường hợp này người vay không trả nợ theo đúng thời hạn đã thỏa thuận thì bà có quyền yêu cầu bên vay thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ này. Nếu bên vay cố tình không thực hiện nghĩa vụ thì bà có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Đơn khởi kiện gửi đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú. Theo điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự, đơn khởi kiện phải đầy đủ các nội dung:

- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

- Tên, địa chỉ của người bị kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

Kèm theo đơn khởi kiện bà phải gửi các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.


Trả lời bạn nghe Đài
Thứ ba, ngày 26 tháng 8 năm 2014

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Tiến trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi : Tòa án huyện đã có bản án xử buộc ông Minh trả lại số tiền đã vay của tôi là 150 triệu đồng. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên ông Minh vẫn chưa trả cho tôi số tiền trên, tôi phải làm thế nào để có thể lấy lại số tiền trên? 

 

Trả lời :

Trong trường hợp của ông, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết.

Các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thi hành án dân sự được quy định tại Luật Thi hành án dân sự, cụ thể như sau :

1. Thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

2. Thẩm quyền thi hành án: Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

- Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

- Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

- Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.

 

3. Thủ tục yêu cầu thi hành án:

- Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức: Nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc Gửi đơn qua bưu điện.

* Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh.

- Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn.

- Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.

- Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

- Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Hết thời hạn này người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

 

Câu 2. Anh Phạm Văn Định trú tại xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng hỏi : Quy định của pháp luật hiện nay về việc tham gia lực lượng dân quân tự vệ như thế nào?

Theo Luật dân quân tự vệ 2009 thì:

- Công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, công dân nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; nếu tình nguyện tham gia dân quân tự vệ thì có thể đến 50 tuổi đối với nam, đến 45 tuổi đối với nữ (Điều 9).

- Thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nồng cốt là 04 năm.

Điều 11. Tiêu chuẩn và tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt:

1. Công dân Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây được tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt:

a) Lý lịch rõ ràng;

b) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

c) Đủ sức khỏe thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

2. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có khả năng hoạt động trên biển được tuyển chọn vào dân quân tự vệ biển.

3. Việc tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt được quy định như sau:

a) Bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng;

b) Hằng năm, Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) chỉ đạo và hướng dẫn Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở hoặc đơn vị tự vệ nơi không có Ban chỉ huy quân sự lập kế hoạch và thực hiện tuyển chọn công dân đủ tiêu chuẩn vào dân quân tự vệ nòng cốt phù hợp với tình hình địa bàn, dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa phương, cơ sở.

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định danh sách dân quân tự vệ nòng cốt.

4. Quân nhân dự bị chưa sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên được biên chế vào đơn vị dân quân tự vệ.

Điều 12. Tạm hoãn, miễn, thôi trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong thời bình

1. Tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi;

b) Không đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;

c) Có chồng hoặc vợ là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong Quân đội nhân dân hoặc Công an nhân dân;

d) Lao động chính duy nhất trong hộ gia đình nghèo;

đ) Người đang học ở trường phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng, cao đẳng nghề, đại học và học viện.

2. Miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; vợ hoặc chồng, con của thương binh hạng một hoặc bệnh binh hạng một; vợ hoặc chồng, con của người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin không còn khả năng lao động;

b) Quân nhân dự bị đã được xếp vào đơn vị dự bị động viên;

c) Người trực tiếp nuôi dưỡng người bị mất sức lao động từ 81% trở lên.

3. Trường hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này, nếu tình nguyện thì được xét tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt.

4. Dân quân tự vệ nòng cốt được thôi thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn trong các trường hợp sau đây:

a) Sức khỏe bị suy giảm không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;

b) Hoàn cảnh gia đình khó khăn đột xuất không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định tạm hoãn, miễn và thôi trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19 tháng 8 năm 2014


 

 

Câu 1. Ông Nguyễn Đức Hiển trú tại phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn hỏi : Cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để điều tra thì việc chi trả tiền lương trong thời gian này được thực hiện như thế nào?

 

Trả lời :

Khoản 2 Điều 81 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ”.

Để hướng dẫn cho quy định này, điều 24 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định:

1. Trong thời gian tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật thì công chức được hưởng 50% của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).

2. Trường hợp công chức không bị xử lý kỷ luật hoặc được kết luận là oan, sai thì được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

3. Trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị Tòa án tuyên là có tội thì không được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

 

Câu 2. Bà Hoàng Minh Nguyệt trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi : Tôi được bạn giới thiệu tham gia vào công ty bán hàng đa cấp về thực phẩm chức năng. Phía công ty yêu cầu tôi mua một số sản phẩm với giá trị khoảng 10 triệu đồng thì mới được tham gia. Xin hỏi việc làm của công ty đó có đúng không?

Theo Điều 5 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ quy định về những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp, cụ thể như sau :

1. Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình;

d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;

đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác;

h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo;

i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này;

k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó;

l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào;

m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

n) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp;

r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;

s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.

2. Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.

Theo quy định trên, công ty mà bà tham gia đã yêu cầu bà bỏ ra số tiền khoảng 10 triệu để mua hàng như vậy là trái với quy định của Pháp luật.

 

 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12 tháng 8 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Phương trú tại xã Mai Pha, TP Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những trường hợp nào bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

 

Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 quy định Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

 

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

 

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

 

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

 

Tại khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định : 

 

“4. Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

 

a) Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra;

 

b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản này;

 

d) Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đã thu hồi theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền;

 

đ) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.”

 

Câu 2. Ông Vi Văn Tâm, trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Hồ sơ dự tuyển viên chức cần có các giấy tờ gì?

 

Trả lời:

 

Theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức, tại Điều 2 quy định về Hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức bao gồm các giấy tờ sau:

 

1. Đơn đăng ký dự tuyển viên chức theo mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư này;

 

2. Bản Sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 06 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển;

 

3. Bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Trường hợp có văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được công chứng dịch thuật sang tiếng Việt;

 

4. Giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 13/2007/TT-BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe;

 

5. Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức (nếu có) được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực.

 

Ngày 20/6/2014 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Theo nội dung Chỉ thị thì:

 

- Các cá nhân, tổ chức khi trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính thì các giấy tờ trong thành phần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu;

 

- Khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không có chứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao có chứng thực.

 

Câu 3. Nhắn tin: Trong tuần qua Đài chúng tôi đã nhận được đơn thư của các ông (bà) có tên sau:

1. Đơn của ông Hoàng Văn Tiến, trú tại thôn An Dinh II, xã Tân Liên, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Công an huyện Cao Lộc để xem xét, giải quyết.

 

2. Đơn của bà Bà Lưu Kim Oanh, trú tại số nhà 74 Khu 2 thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định thắc mắc về việc chi trả tiền cấp dưỡng cho con sau ly hôn. Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định xem xét, giải quyết.

 

3. Đơn của ông Nông Văn Mỵ, trú tại thôn Kéo Ái, xã Trấn Ninh, huyện Văn Quan đề nghị xem xét giải quyết về chế độ cho người tham gia kháng chiến chống Mỹ. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Ban Chỉ huy quân sự huyện Văn Quan xem xét, trả lời.

 

4. Đơn của bà Lộc Thị Tầu, trú tại Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình thắc mắc về việc hỗ trợ cho hộ nghèo, Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Tú Mịch,  huyện Lộc Bình xem xét, trả lời.

 

5. Chúng tôi đã chuyển Đơn của bà La Thị Pẹng trú tại xóm Chang Khuổi, xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc đến UBND huyện Cao Lộc xem xét, giải quyết.

 

6. Chúng tôi đã nhận được Đơn của ông Triệu Văn Lan, trú tại thôn Trung, xã Yên Phúc, huyện Văn Quan về chế độ của người tham gia kháng chiến; đề nghị ông liên hệ với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn để được hướng dẫn.

 

7. Đơn kiến nghị của các hộ dân sinh sống tại Tổ 2, khối 1, Đường Bắc Sơn, phường Vĩnh Trại và đơn của ông Vũ Công Kiên, trú tại số nhà 10, ngõ 6, khối 2, đường Nguyễn Du, phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn. Đơn cũng đã đồng thời được gửi đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5 tháng 8 năm 2014