Kịp thời ban hành nhiều chính sách hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội

Thứ 2, 23.05.2022 | 14:54:25
151 lượt xem

Sáng 23/5, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2021; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2022. Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Thực hiện phân công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở Báo cáo của Chính phủ, ý kiến các cơ quan của Quốc hội, các thành viên Ủy ban, Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Kinh tế xin thay mặt Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội báo cáo Quốc hội một số nội dung chủ yếu sau đây:

1. Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2021

Năm 2021 là năm đối diện với nhiều khó khăn, thách thức chưa từng có, dịch Covid-19 bùng phát trên toàn quốc, diễn biến nhanh, phức tạp, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất kinh doanh và mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế cùng với sự chuyển hướng từ chiến lược “phòng, chống dịch Covid-19” sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19”, kinh tế-xã hội có nhiều khởi sắc, GDP quý IV tăng 5,22%, cả năm đạt 2,58%, nhờ đó, đã hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả; 7/12 chỉ tiêu kinh tế-xã hội đạt và vượt kế hoạch. Kinh tế vĩ mô ổn định, CPI bình quân cả năm chỉ tăng 1,84%, thu ngân sách nhà nước tăng 16,8% so với dự toán, bội chi, nợ công trong giới hạn cho phép , xuất siêu đạt hơn 4 tỷ USD thay vì ước tính nhập siêu 2 tỷ USD; mặt bằng lãi suất giảm, tín dụng tăng trưởng, an sinh xã hội, hỗ trợ người dân, người lao động, người sử dụng lao động được triển khai tích cực, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, ổn định xã hội.

Bên cạnh kết quả đạt được cũng còn nhiều hạn chế, tồn tại, yếu kém cần khắc phục:

Thứ nhất, 5 chỉ tiêu kinh tế-xã hội quan trọng không đạt mục tiêu, tăng thêm 1 chỉ tiêu so với số đã báo cáo, chỉ tiêu tốc độ tăng năng suất lao động xã hội chỉ đạt 4,71% so với mục tiêu 4,8%.

Thứ hai, công tác phòng, chống dịch có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng; năng lực y tế nhất là y tế cơ sở còn bất cập, sai phạm về đấu thầu, mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế phòng, chống dịch Covid-19 xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng. Cần khẩn trương có báo cáo với Quốc hội về kết quả huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch; chỉ rõ tồn tại, hạn chế, những chính sách chưa thực hiện được hoặc thực hiện chưa đầy đủ; các Bộ, ngành, cơ quan, địa phương làm tốt hoặc làm chưa tốt.

Thứ ba, thu ngân sách vượt dự toán nhưng chưa bền vững, thu từ dầu thô vượt 21,4 nghìn tỷ đồng do cả yếu tố tăng giá và tăng sản lượng khai thác; thu sử dụng đất tăng cao, vượt dự toán hơn 74 nghìn tỷ đồng nhưng đây là khoản thu không ổn định, không bền vững. Ước thu ngân sách nhà nước đã báo cáo với Quốc hội có chênh lệch rất lớn với số thu thực tế (tăng hơn 9 lần từ 22 nghìn tỷ đồng lên hơn 202 nghìn tỷ đồng), làm ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng dự toán năm sau, thể hiện năng lực dự báo, phân tích còn yếu, đặc biệt, tình trạng này đã kéo dài trong nhiều năm. Vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương giảm, tỷ trọng nguồn thu ngân sách trung ương năm 2021 ước khoảng 50,02%, giảm so với mức 52,2% của năm 2020 và giảm mạnh so với mức 61,8% năm 2011. Nợ đọng thuế tăng, tổng số nợ thuế nội địa là 115,014 nghìn tỷ đồng, tăng 20,4% so với cuối năm 2020.

Thứ tư, phân bổ, giao dự toán chi chậm, kéo dài. Giải ngân vốn đầu tư công không đạt kế hoạch, số vốn đầu tư xây dựng cơ bản chưa giải ngân của Trung ương là 71,6 nghìn tỷ đồng, trong đó có 16 nghìn tỷ đồng của các Chương trình mục tiêu quốc gia đều chưa được phân bổ, giải ngân trong năm 2021, phải chuyển nguồn sang năm 2022; giải ngân vốn ngoài nước chỉ đạt 32,85% dự toán; một số bộ, cơ quan trung ương giải ngân rất thấp, chỉ đạt dưới 20% kế hoạch, như Bộ Khoa học và Công nghệ 10,72%; Bộ Thông tin và Truyền thông 2,94%, Ủy ban Dân tộc 0%; Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: 5,52%.

Thứ năm, tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; việc hoàn thiện quy định pháp luật về cổ phần hóa và sắp xếp, đổi mới các đơn vị sự nghiệp công còn rất chậm, không hoàn thành mục tiêu. Thu từ cổ phần hóa đạt thấp, chỉ đạt 4.402 tỷ đồng/40.000 tỷ đồng, bằng 11% dự toán trong khi thị trường chứng khoán năm 2021 phát triển mạnh, là điều kiện thuận lợi để có thể thoái vốn. Kết quả trên cho thấy, chính sách tháo gỡ, thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp rất hạn chế, tổ chức thực hiện chưa quyết liệt nhưng chưa có người đứng đầu nào bị xử lý trách nhiệm trong việc chậm trễ thực hiện nhiệm vụ này.

Thứ sáu, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gia tăng, trong trường hợp đánh giá một cách thận trọng, tại thời điểm 31/12/2021, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) và các khoản nợ tiềm ẩn thành nợ xấu là 6,31%; một số chuỗi sản xuất, cung ứng bị đứt gãy; khu vực dịch vụ gặp nhiều khó khăn; năng lực sản xuất công nghiệp chậm được cải thiện. Lao động tạm ngừng việc, thiếu, mất việc làm gia tăng; có 5/16 chỉ tiêu của ngành lao động-thương binh và xã hội và 3/18 chỉ tiêu ngành y tế  không đạt chỉ tiêu của ngành được giao theo Nghị quyết số 01 của Chính phủ. 

2. Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2022

Năm 2022, tình hình kinh tế, chính trị thế giới diễn biến phức tạp, giá xăng, dầu tăng, lạm phát có xu hướng tăng cao, các nền kinh tế lớn thu hẹp quy mô nới lỏng chính sách tiền tệ, tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại; các tổ chức quốc tế đã hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 từ 4,4% xuống 3,6%. Trong nước, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều chính sách để hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.

Đặc biệt, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 43 về chính sách tài khóa, tiền tệ với quy mô lên đến 347 nghìn tỷ đồng và nhiều cơ chế, chính sách chưa có tiền lệ để hỗ trợ kịp thời cho phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, chủ động trong công tác phòng, chống dịch.

Đến nay, dịch bệnh được kiểm soát, nền kinh tế đang phục hồi và phát triển tích cực. GDP quý I ước tăng 5,03%, kinh tế vĩ mô ổn định, các ngành, lĩnh vực đang tăng trưởng trở lại. Trong 4 tháng đầu năm, hơn 30 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 60,6% so với cùng kỳ. Đời sống, việc làm người lao động, an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác đối ngoại được tăng cường; SEA Games 31 được tổ chức rất thành công, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong và ngoài nước…

Tuy nhiên, cần quan tâm, đánh giá kỹ hơn một số vấn đề sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn vẫn còn tiềm ẩn rủi ro, kiểm soát lạm phát gặp khó khăn, chỉ số CPI tháng 4 tăng 2,09% so với cuối năm 2021, gấp gần 2 lần so với cùng kỳ các năm 2018-2021. Giá dầu tăng cao  tác động tiêu cực đến giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển. Giai đoạn tới, cần đặc biệt chú ý về nguy cơ nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài; nghiên cứu kịch bản tiếp tục giảm thuế tiêu thụ đặc biệt để ứng phó trong trường hợp giá dầu thế giới biến động lớn cũng như thực hiện hoãn, giãn việc tăng các sắc thuế, phí nhằm bình ổn giá các mặt hàng tiêu dùng khác.

Thứ hai, nguy cơ bùng phát dịch do các biến chủng mới vẫn hiện hữu, đe dọa tiến trình phục hồi của nền kinh tế. Tại một số nơi, một bộ phận người dân có biểu hiện chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch, không thực hiện nghiêm túc theo quy định.

Thứ ba, giải ngân vốn đầu tư công vẫn trì trệ, tỷ lệ giải ngân 4 tháng đầu năm chỉ đạt 16,36% (thấp hơn mức 17,04% so với cùng kỳ năm 2021) trong khi nhiệm vụ giải ngân năm 2022 rất nặng nề; giải ngân vốn ngoài nước chỉ đạt xấp xỉ 4,4% kế hoạch; có tới 17 bộ, cơ quan trung ương chưa thực hiện giải ngân, cần phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm. Ngoài ra, đề nghị báo cáo rõ khả năng hấp thụ nguồn vốn, hoàn thành kế hoạch; việc hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng cốt lõi, hệ thống định mức và đơn giá xây dựng làm chậm giải ngân đầu tư công và ảnh hưởng đến chi phí đầu tư công.

Thứ tư, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội theo Nghị quyết số 43 của Quốc hội triển khai chậm, các chính sách quan trọng vẫn đang trong quá trình xây dựng hướng dẫn, chưa được áp dụng vào thực tiễn, như  chính sách hỗ trợ lãi suất, triển khai chương trình “Sóng và máy tính cho em”, khơi thông nguồn vốn từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, hướng dẫn cơ chế đặc thù được quy định tại Nghị quyết...

Đến nay, Chính phủ mới trình bổ sung dự toán năm 2022 là 18.349 tỷ đồng cho các dự án đã có trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn, chỉ tương đương 16% tổng số vốn dành cho đầu tư phát triển của Chương trình cần được phân bổ, bổ sung dự toán, dẫn đến áp lực phải giải ngân, tăng bội chi rất lớn trong năm 2023; đồng thời, Chính phủ vẫn chưa hoàn thiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội Danh mục các dự án sử dụng nguồn vốn của Chương trình là quá chậm, làm giảm hiệu quả, ý nghĩa của Chương trình.

Ngoài ra, việc thực hiện các nghị quyết khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng rất chậm. Nghị quyết số 12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về các chính sách đặc thù trong lĩnh vực y tế ban hành rất khẩn trương, tuy nhiên sau 4 tháng, nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành mới được ban hành. Công tác hỗ trợ cho người lao động theo Nghị quyết số 03 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn chưa thực hiện dứt điểm mặc dù đã hết thời hạn; việc triển khai chính sách chậm phần nào làm mất đi tính cấp thiết, ý nghĩa của chính sách hỗ trợ người lao động ở thời điểm khó khăn.

Thứ năm, thu ngân sách 4 tháng tăng 15,4% so với cùng kỳ, tuy nhiên, các khoản thu trực tiếp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn còn thấp. Kế hoạch thu bảo đảm cân đối ngân sách còn nhiều thách thức. Thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước rất chậm, 4 tháng đầu năm đạt 1.967 tỷ đồng/30.000 tỷ đồng, bằng 6,5% dự toán.

Thứ sáu, nguy cơ nợ xấu tiềm ẩn; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản có nhiều rủi ro, không bền vững, thiếu ổn định. Trên thị trường cổ phiếu đã xuất hiện các hiện tượng tăng vốn khống, thao túng giá, làm giá ngày càng tinh vi; một số cổ phiếu/nhóm cổ phiếu có biến động giá bất thường, không gắn với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, gây tổn thất trực tiếp cho nhà đầu tư và ảnh hưởng tiêu cực đến tính ổn định và minh bạch của thị trường. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhưng tiềm ẩn rủi ro cao và mất cân đối, năm 2021, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành đạt hơn 637 nghìn tỷ đồng, tăng 36,4% so với năm 2020, trong đó phát hành riêng lẻ chiếm tới 95%. Tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm hoặc bảo đảm bằng tài sản rủi ro cao như cổ phiếu chưa niêm yết, dự án, tài sản hình thành trong tương lai còn lớn, ảnh hưởng tới sự an toàn của thị trường. Số dư đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của hệ thống các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng nhanh. Trong năm 2022, khối lượng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn vào khoảng 145,5 nghìn tỷ đồng, trong đó khối lượng trái phiếu bất động sản đáo hạn chiếm 43,2%, trái phiếu các tổ chức tín dụng đáo hạn chiếm 20,2%, vì vậy, cần phải làm rõ thêm về khả năng trả nợ của các doanh nghiệp. 

Thứ bảy, sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, chi phí đầu vào tăng cao do giá cước vận tải ở mức cao, giá nhiên liệu nhập khẩu là đầu vào của sản xuất (dầu, khí đốt, than) và giá các mặt hàng nguyên vật liệu sản xuất (gỗ, phân bón, titan, nhôm…) tăng cao trong khi sức cầu tiêu thụ vẫn yếu, vẫn còn những khó khăn về tài chính, tuyển dụng lao động.

Thứ tám, việc chậm quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia và quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành gây khó khăn cho việc dự báo về thị trường, ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và cuộc sống của người dân. Quy hoạch điện VIII chưa được phê duyệt dẫn đến nhiều dự án phát triển điện chưa thể triển khai, tiềm ẩn nguy cơ thiếu điện trong mùa cao điểm. Một số quy hoạch đã được phê duyệt cũng đã bộc lộ một số bất cập. 

Thứ chín, một số vấn đề về văn hóa, giáo dục, trẻ em, phòng, chống tội phạm còn bất cập. Cần nhìn nhận, quan tâm thỏa đáng tới tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh, nhất là do ảnh hưởng do dịch Covid-19; áp lực học hành, thiếu các hoạt động vui chơi, giải trí, bệnh thành tích, kỳ vọng quá lớn của cha, mẹ, bạo hành gia đình, vấn đề thông tin mạng… là những nguyên nhân chính và cần có ưu tiên, giải pháp phòng ngừa.

Về tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế, đến hết ngày 30/4 mới đạt 86,8% dân số, thấp hơn tỷ lệ tham gia ở thời điểm cuối năm 2021 và có khoảng cách khá xa, khó hoàn thành chỉ tiêu Quốc hội giao năm 2022 là 92% dân số. Ngoài ra, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tăng cao, năm 2016 là khoảng 500 nghìn, đến năm 2021 tăng gần 2 lần, hơn 960 nghìn người, đã tác động không tốt đến hệ thống an sinh xã hội, mục tiêu mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, đề nghị lưu ý tới vấn đề lãng phí trong sử dụng đất đai ở một số nơi và tình trạng đẩy giá đất trong đấu giá đất đai để trục lợi; tình trạng ùn ứ phương tiện trong xuất, nhập khẩu nông sản qua các cửa khẩu phía bắc; việc công khai, minh bạch thông tin, bảo đảm cung cấp thông tin ngay giữa các cơ quan nhà nước; việc bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, vượt ra khỏi khuôn khổ pháp luật vì lợi ích chung; bổ sung số liệu, đánh giá về chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm; tình trạng chặt phá rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn; đánh giá việc tổ chức thực hiện một số luật do Quốc hội ban hành thời gian qua như Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết một số luật được sửa đổi, bổ sung. 

3. Về một số nhiệm vụ, giải pháp

Dự báo từ nay đến cuối năm 2022, kinh tế-xã hội còn gặp nhiều thách thức, để đạt chỉ tiêu tăng trưởng năm 2022 khoảng 8-8,5% (gồm mức dự kiến 6-6,5% theo Nghị quyết số 32 và phần tăng thêm 2% nhờ tác động của chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội) và cả giai đoạn 2021-2025 đặt mục tiêu tới khoảng 6,5-7%, Chính phủ cần lưu ý:

(1) Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình phòng, chống dịch Covid-19; bao phủ tiêm vaccine phù hợp; nâng cao năng lực phòng, chống dịch, điều trị bệnh; bảo đảm nguồn cung, kiểm soát chặt chẽ việc mua, sử dụng thuốc, vật tư y tế cho phòng, chống dịch.

(2) Bám sát diễn biến của dịch Covid-19, căng thẳng địa kinh tế, địa chính trị và chính sách phòng, chống Covid-19 của các nước, động thái chính sách của các ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn; kiểm soát lạm phát, duy trì lãi suất cho vay hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguốn vốn; kiểm soát nợ xấu, có giải pháp căn cơ, bền vững hướng dòng tiền quay trở lại sản xuất kinh doanh. Tăng cường quản lý, giám sát thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường bất động sản, ban hành điều kiện, tiêu chí quản lý phát hành trái phiếu doanh nghiệp cùng với việc có giải pháp ổn định thị trường, tăng niềm tin của nhà đầu tư; có chính sách bảo đảm cân đối cung-cầu, bình ổn giá cả hàng hóa nhất là điện, than, xăng dầu, vật tư nông nghiệp và nguyên vật liệu xây dựng. Có giải pháp duy trì chuỗi cung ứng, tránh gián đoạn sản xuất, xuất khẩu và mở cửa du lịch, phát triển thị trường nội địa. Lưu ý vấn đề an ninh năng lượng, bảo đảm điện năng cho sản xuất và tiêu dùng.

(3) Khẩn trương triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về tài khóa, tiền tệ theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 và các nghị quyết theo kế hoạch 5 năm của Quốc hội. Sớm trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến Danh mục dự án sử dụng nguồn vốn của Chương trình. Thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ người dân, người lao động, các chính sách an sinh xã hội; mở cửa trở lại trường học phù hợp, bảo đảm chất lượng dạy và học. Tiếp tục quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tội phạm; bảo đảm an ninh, quốc phòng.

 (4) Đẩy nhanh tiến độ lập, phê duyệt các quy hoạch, đặc biệt chú ý tới chất lượng các quy hoạch trước khi phê duyệt. Tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, cân đối hài hòa giữa vấn đề kinh tế và vấn đề xã hội, giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, đổi mới mô hình tăng trưởng; cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với nâng cao năng suất lao động, giá trị gia tăng; thúc đẩy quá trình chuyển đổi, sử dụng năng lượng sạch, chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ.

(5) Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, công trình trọng điểm quốc gia; khẩn trương hoàn thiện danh mục dự án của các nguồn vốn đầu tư chưa được phân bổ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ xem xét, quyết định. Tăng cường quản lý, chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại, trốn thuế; tích cực thu hồi nợ thuế; điều hành chi bám sát dự toán, tiết kiệm, hiệu quả. Chủ động kiểm soát, ứng phó với các rủi ro, bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước, bội chi, nợ công; tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước. Tiếp tục rà soát, thu hồi, cắt giảm, tiết kiệm nguồn kinh phí theo đúng Nghị quyết số 30/2021/QH15 của Quốc hội; chú trọng việc dự báo, bảo đảm tính kịp thời trong thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân, người lao động.

(6) Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp đi đôi với kiểm tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, thực hiện nghiêm Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó tập trung cho một số luật quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 về đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai, nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Thực hiện tốt việc kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư cho công tác quản lý nhà nước và sản xuất, kinh doanh; việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai và cải thiện các chỉ số chất lượng quản lý hành chính đất đai.

(7) Tăng cường công tác phòng, chống xâm hại trẻ em, phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em. Triển khai hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển thị trường lao động; có giải pháp, phấn đấu giảm số đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần. Tăng cường tuyên truyền làm rõ chủ trương, quan điểm của Việt Nam đối với tình hình Nga-Ukraine; theo dõi sát các vấn đề trong khu vực ASEAN để có giải pháp ngoại giao phù hợp.

Trên đây là Báo cáo tóm tắt thẩm tra đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2021, tình hình thực hiện những tháng đầu năm 2022, Ủy ban Kinh tế xin trân trọng báo cáo Quốc hội xem xét, cho ý kiến và tập trung đánh giá về các nội dung trên trong quá trình thảo luận tại tổ và hội trường tại Kỳ họp thứ 3.


Theo nhandan.vn

https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/kip-thoi-ban-hanh-nhieu-chinh-sach-ho-tro-phuc-hoi-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-698335/

  • Từ khóa