Trả lời bạn xem truyền hình ngày 24/08/2021

Thứ 3, 24.08.2021 | 10:10:20
924 lượt xem

Câu 1. Ông Tạ Văn Đức, trú tại xã Thống Nhất, huyện Lộc Bình hỏi: Trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội, tôi thấy rất nhiều người đưa thông tin bán hàng, sản phẩm trên mạng xã hội. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào đối với việc người sử dụng mạng xã hội khi thông tin giới thiệu hàng hóa và chế tài xử lý đối với đăng thông tin hàng hóa sai sự thật ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác?

Trả lời:

Theo khoản 22 Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Interet và thông tin trên mạng thì mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác.

Theo điểm e khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ quy định như sau:

Nghiêm cấm việc giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Tại Điều 26 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ quy định quyền và nghĩa vụ của ngưởi sử dụng dich vụ mạng xã hội như sau:

Ngoài quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet quy định tại Điều 10 Nghị định này, người sử dụng dịch vụ mạng xã hội còn có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được sử dụng dịch vụ của mạng xã hội trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp Luật.

2. Được bảo vệ bí mật thông tin riêng và thông tin cá nhân theo quy định của pháp Luật.

3. Tuân thủ quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội.

4. Chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, phát tán thông tin qua đường liên kết trực tiếp do mình thiết lập.

Như vậy, đối với người có hành vi sử dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật về hàng hóa cung cấp để lừa dối người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Đối với hành vi này thì tùy theo mức độ phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc chế tài hình sự.

Về trách nhiệm hành chính

Tại điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử quy định như sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

Tại khoản 3 Điều 4 Nghị định Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 quy định như sau:

Điều 4. Quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

1. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực: bưu chính và giao dịch điện tử đối với cá nhân là 40.000.000 đồng.

2. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực: viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin đối với cá nhân là 100.000.000 đồng.

3. Mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VII tại Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại Điều 106 Nghị định này. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức

Như vậy, với hành vi cung cấp thông tin giả mạo, sai sự thật thì người đăng tải trên mạng xã hội có thể bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. 

Về trách nhiệm hình sự: Trong trường hợp hành vi giả mạo hàng hóa để lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người đăng tải trên mạng xã hội trong trường hợp này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp;Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt.

Câu 2. Bà Hà Thu Lê, trú tại Phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Do có nhiều mâu thuẫn trong quá trình chung sống, vợ chồng tôi nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện. Theo quyết định ly hôn của Tòa án thì tôi được quyền nuôi con (cháu mới hơn 10 tuổi). Nay tôi muốn đổi họ của con từ họ của người cha sang họ của mẹ. Vậy tôi có quyền được đổi họ cho con không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 27 BLDS 2015 thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:

”a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;

b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;

d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;

đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;

g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;

h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ”.

- Khoản 10 Điều 2 Luật Hộ tịch quy định “Thay đổi hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật dân sự hoặc thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký theo quy định của pháp luật”.

- Khoản 1 Điều 26 Luật Hộ tịch 2014 quy định phạm vi thay đổi hộ tịch như sau: “Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự”.

- Khoản 1 Điều 7 Nghị định Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch như sau: "Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó”.

Đối chiếu vào quy định trên của pháp luật, thì bà có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi họ cho con của bà. Tuy nhiên, việc thay đổi họ cho con của bà thì cần phải có sự đồng ý của người cha và của người con được thể hiện trong Tờ khai./.

  • Từ khóa