Mùa Vu Lan 2018, nên du lịch ở đâu?

 Tháng 7 âm lịch tới, mùa Vu Lan lại về, đây cũng là thời điểm mà nhiều du khách quan tâm, tìm hiểu về các tour du lịch tâm linh.

Mùa Vu Lan có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần người Việt Nam, cũng là dịp để thế hệ trẻ báo hiếu với cha mẹ. Có nhiều cách khác nhau để con cháu thể hiện tình cảm trong ngày này, trong đó có việc lựa chọn các tour du lịch tâm linh để cả gia đình có thể cùng tham gia.

Theo bà Trần Bảo Thu - đại diện Công ty Fiditour, mùa Vu Lan năm nay, những du khách lựa chọn miền Bắc làm điểm đến thì có thể về miền Kinh Bắc để cảm nhận vẻ đẹp thanh bình của vùng quê Bắc bộ.

Đây cũng là dịp để du khách về với kinh đô Phật giáo của Đại Việt xưa, với cảnh núi non hùng vĩ và những ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng như núi Yên Tử, chùa Hoa Yên, chùa Ba Vàng hay quần thể chùa Bái Đính ở Ninh Bình...

mua vu lan 2018 nen du lich o dau hinh 1
Du khách hành hương về chùa Cái Bầu - Quảng Ninh

 Ngoài ra, tại miền Bắc, du khách có thể chọn tour Hà Nội – Sapa – Hạ Long – Chùa Ba Vàng, hay tour Hà Nội – Ninh Bình – Hạ Long – Yên Tử.

Với các khách hàng lựa chọn miền Trung và miền Nam làm điểm đến thì tour Đà Nẵng – Chùa Linh Ứng – Hội An – Bà Nà, tour hành hương về đất Nam bộ, tham quan An Giang - nơi nổi tiếng với miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc đang được nhiều người quan tâm lựa chọn.

mua vu lan 2018 nen du lich o dau hinh 2
Chùa Wat Pho (Bangkok, Thái Lan)

Bên cạnh chùm tour trong nước, chùm tour du lịch kết hợp hành hương ra nước ngoài có tour Thái Lan với chùa Vàng, chùa Bạc, chùa Phật Ngọc; xa hơn có tour Đài Loan ghé thăm Phật Quang Sơn – kinh đô Phật giáo của xứ Đài...

"Các tour du lịch tâm linh thường được thiết kế riêng, giúp cho các vị khách cao niên tận hưởng một kỳ nghỉ trọn vẹn, góp phần giúp tinh thần của người cao tuổi thoải mái, vui tươi", bà Thu cho biết thêm./.

Lời khuyên đối với du khách lớn tuổi: Khi chọn tour, du khách nên ưu tiên các vấn đề sau: Chọn tour có dịch vụ bữa ăn đảm bảo dinh dưỡng. Chọn tour đến những nơi có khí hậu mát mẻ, nhịp độ tham quan vừa phải, không di chuyển quá nhiều. Vì đi du lịch tâm linh phải đi bộ nhiều nên du khách cần chọn giày, dép thích hợp, mang mũ, nón, ô (dù), không nên mang hành lý quá nhiều, nặng.
Theo vov.vn
Xem tin theo ngày


CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 22/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/CT KINH 22-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 22/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/TAY 22-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 22/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/DAO 22-10.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng Kinh tối ngày 21/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/CA NHAC KINH 21-10.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 21/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/CA NHAC TAY 21-10.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng Dao ngày 21/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/CA NHAC DAO 21-10HC.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 20/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/KINH TOI 20-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 20/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/CT TAY 20-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 20/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/CT DAO 20-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 19/10/2018
sites/default/files/audio/2018/10/CT KINH 19-10-2018.mp3

Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 23/10/2018

  

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

    

6h02’: Bản tin sáng ngày 23/10/2018

 

6h06’: Bản tin Quốc tế sáng ngày 23/10/2018

  

6h13’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 139

  

6h16’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 151

  

6h20’: Sitcom 5s   Tập 18 – Phần 1

  

6h39’: Chuyên mục   Vấn đề hôm nay

  

6h46’: Chuyên mục   Điện lực Lạng Sơn vì sự phát triển của bạn

  

6h54’: Ký sự   Mê Kông ký sự – Tập 25

  

7h13’: Phim hoạt hình  Tập 156

  

7h24’: Chuyên mục Cải cách thủ tục hành chính

  

7h34’: Khám phá thế giới  Ranh giới tận cùng của vũ trụ – Tập 2

  

8h00’: Vượt qua thử thách   Số 8

  

8h30’:  Ca nhạc  Bình yên những con đường

   

9h00’: Bản tin sáng ngày 23/10/2018

 

9h04’: Bản tin Quốc tế sáng ngày 23/10/2018

 

9h09’: Bản tin tiếng Trung ngày 23/10/2018

 

9h25’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 22/10/2018

  

9h57’: Phóng sự  Công an Lộc Bình đẩy mạnh đấu tranh tệ nạn ma túy

 

10h00’: Chương trình thời sự tổng hợp ngày 22/10/2018

  

10h24’: Chuyên mục  Thi đua yêu nước

  

10h31’: Chuyên mục  Xây dựng nông thôn mới

  

10h39’: Chuyên mục  Người cao tuổi

  

10h49’: Chuyên mục  An toàn giao thông

  

11h01’: Phim truyện Đường cung yến - Tập 39/46 – Phim TQ

 

11h45’: Bản tin trưa ngày 23/10/2018

 

12h01’: Văn hóa thể thao Xứ Lạng

  

12h10’: Chuyển tiếp VTV1

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 23/10/2018

  

15h15’: Phim truyện  Thiên đường bên ta – Tập 35/35 Phim VN

  

16h00’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 139

  

16h04’: Sitcom 5s  Tập 18 – Phần 1

  

16h23’: Đất và người Xứ Lạng  Số 20/2018

 

16h37’: Chương trình truyền hình tiếng Tày ngày 23/10/2018

  

17h07’: Chuyên mục  Công nghiệp Thương mại Xứ Lạng

 

17h21’: Trang THCS

 

17h36’: Bản tin tiếng Trung ngày 23/10/2018

  

17h51’: Phim hoạt hình  Tập 157

   

18h00’: Phim truyện  Tha thứ cho anh - Tập 1/38 Phim VN

  

18h47’: Chuyện mục  Chống buôn lậu và gian lận thương mại

 

19h00': Chuyển tiếp chương trình thời sự VTV1

 

19h50': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 23/10/2018

 

20h18’: Bản tin thể thao ngày 23/10/2018

  

20h23’: Phóng sự  Phòng chống ma túy

  

20h27’: Chuyên mục  Đảng trong cuộc sống hôm nay

  

20h35’: Chuyên mục  Trả lời bạn xem truyền hình

  

20h43’: Phim truyện  Đường cung yến – Tập 40/46 Phim TQ

   

21h27’: Chuyên mục  Vì màu xanh cuộc sống

  

21h36’: Chuyên mục  Truyền hình nhân đạo

  

21h46’: Phim truyện  Canh bạc Hoàng Gia – Tập 28/32 Phim TQ

  

22h31’: Sitcom 5s  Tập 19 – Phần 1

 

22h49’: Đất và người Xứ Lạng

  

23h04’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 151

  

23h07’: Khám phá thế giới  Ranh giới tận cùng của vũ trụ – Tập 2

  

23h33’: Ca nhạc  Bình yên những con đường

 

 

 

  • TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 23 tháng 10 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lục Văn Nam trú tại xã Văn An, huyện Văn Quan hỏi: Di sản dùng vào việc thờ cúng thì có được chia thừa kế không? pháp luật quy định như thế nào về di sản dùng vào việc thờ cúng?

     

    Trả lời:

     

    Pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền lập di chúc của công dân. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải dựa trên các quy định pháp luật, tuân thủ các điều kiện của pháp luật mới có hiệu lực.

     

    Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền để lại di sản dùng vào việc thờ cúng như sau:

     

    "Di sản dùng vào việc thờ cúng:

     

     1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

     

    2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng."

    Câu 2. Ông Bế Văn Hoàn trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: Đối tượng nào được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, mức đóng khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Thứ nhất, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện:

     

    Căn cứ theo Khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Theo đó, công dân từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. 

     

    Căn cứ theo Khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện có quy định chi tiết về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm:

     

    - Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng trước ngày 01/01/2018, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng từ ngày 01/01/2018 trở đi.

     

    - Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, sóc, làng, tổ dân phố, khu phố.

     

    - Người lao động giúp việc gia đình.

     

    - Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương.

     

    - Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

     

    - Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

     

    - Người tham gia khác.

     

    Thứ hai, mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện:

     

    Căn cứ theo Khoản 1 Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có quy định về mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện. Theo đó, hằng tháng người lao động đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở. Trong đó, nhà nước có những chính sách hỗ trợ những đối tượng có điều kiện kinh tế khó khăn mà có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Tùy thuộc vào từng thời kì khác nhau mà nhà nước có mức hỗ trợ khác nhau.

    Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thể đóng bảo hiểm xã hội theo các phương thức sau đây:

     

    + Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng hằng tháng.

     

    + Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng 03 tháng một lần.

     

    + Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng 06 tháng một lần.

     

    + Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng 12 tháng một lần.

     

    + Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức đóng hằng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu với mức cao hơn mức đóng hằng tháng so với quy định.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tối cũng đã nhận được đơn thư của những ông bà có tên sau:

     

    1. Ông Lương Thanh Bình và Ông Cam Tiến Thành trú tại thôn Đại Sơn, xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi về việc gia đình của hai ông không được hưởng chính sách miễn giảm tiền sử dụng đất và phải nộp 100% mức thu tiền sử dụng đất.

     

    Thư của hai ông chúng tôi đã chuyển đến UBND huyện Cao Lộc để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

    2. Bà Hoàng Thị Gấm trú tại xã Hưng Vũ, huyện Bắc Sơn hỏi về chế độ trợ cấp một lần sau khi thôi việc.

     

    Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Phòng Lao động- Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Bắc Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 16 tháng 10 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lục Trần Toàn trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp nào thì công an được khám xét nhà ở của công dân theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 1, Điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    "Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

     

    Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân"

    Theo căn cứ trên thì các trường hợp được khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện là:

     

    -  Khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

     

    - Khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

    Theo quy định tại Khoản 1, Điều 113 và Khoản 1, Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự thì những người sau có quyền ra lệnh khám xét chỗ ở:

     

     - Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

     

    - Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

     

    - Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

    Như vậy, nếu có căn cứ cho rằng chỗ ở của công dân có công cụ phương tiện liên quan đến vụ án hoặc phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân. Thì công an có quyền khám xét nhà ở của công dân với điều kiện là có lệnh khám xét của người có thẩm quyền ra lệnh khám xét.

     

    Câu 2. Ông Mai Thành Chung trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: những người nào không được đăng ký tham gia đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 4 Điều 38 Luật đấu giá tài sản 2016, thì những người sau đây không được đăng ký tham gia đấu giá bao gồm:

     

    a) Người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người tại thời điểm đăng ký tham gia đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

     

    b) Người làm việc trong tổ chức đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá; người trực tiếp giám định, định giá tài sản; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người trực tiếp giám định, định giá tài sản;

     

    c) Người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền xử lý tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản, người ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật;

    d) Cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người quy định tại điểm c khoản này;

     

    đ) Người không có quyền mua tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật áp dụng đối với loại tài sản đó.

     

    Câu 3. Ông Mã Văn Hồ trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: thủ tục, lệ phí cấp giấy thông hành sang Trung Quốc được pháp luật quy định như thế nào?

     

     Trả lời:

     

    Theo quy định tại Thông tư số: 67/2013/TT-BCA ngày 11/12/2013 của Bộ Công an về việc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh vùng biên giới cho công dân Việt Nam qua lại biên giới Việt Nam - Trung Quốc thì nơi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh sang Trung Quốc được quy định như sau:

     

    - Công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc có nhu cầu cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh nộp hồ sơ tại Công an cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú, khi nộp hồ sơ phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân; người dưới 14 tuổi phải xuất trình giấy khai sinh hoặc sổ hộ khẩu để kiểm tra, đối chiếu;

     

    - Cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan nhà nước có trụ sở đóng tại vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ thì nộp hồ sơ tại Công an cấp huyện nơi cơ quan đóng trụ sở;

     

    - Người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.

     

     Thời hạn giải quyết thủ tục cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh là 01 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp hồ sơ của người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh chưa đầy đủ thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy thông hành thông báo cho người đề nghị biết và thời hạn được tính lại kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không giải quyết phải trả lời và nêu rõ lý do cho người đề nghị biết.

     

    Thẩm quyền cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh

     

    - Trưởng Công an cấp huyện tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan có trụ sở đóng tại huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đó được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ. Trường hợp Trưởng Công an cấp huyện vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp huyện được Trưởng Công an cấp huyện ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp huyện chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp huyện và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

     

    - Trưởng công an cấp xã tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn đó. Trường hợp Trưởng Công an cấp xã vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp xã được Trưởng Công an cấp xã ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp xã chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp xã và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

    Lệ phí cấp Giấy thông hành xuất, nhập cảnh:

     

    Căn cứ theo thông tư 219/2016/TT-BTC thì mức thu đối với việc cấp Giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho  công dân Việt Nam sang công tác, du lịch các tỉnh, thành phố biên giới Trung Quốc tiếp giáp Việt Nam là 50.000 đồng/lần cấp.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của ông Nông Văn Hòa trú tại thôn Pá Ôi, xã Lục Thôn, huyện Lộc Bình thắc mắc về việc không đồng ý với phương án đền bù, hỗ trợ đất tái định cư đối với gia đình ông.

     

    Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND huyện Lộc Bình xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 9 tháng 10 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Vi Hoàng Thông trú tại xã Thượng Cường, huyện Chi Lăng hỏi: Các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ và công cụ hỗ trợ được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

     

    Luật Quản lý sử dụng vũ khí vật liệu nổ công cụ hỗ trợ 2017 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018 quy định nghiêm cấm các hành vi trong hoạt động quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất nổ và công cụ hỗ trợ như sau:

     

    - Cá nhân sở hữu công cụ hỗ trợ.

     

    - Nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sửa chữa, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt công cụ hỗ trợ;

     

    - Mang trái phép công cụ hỗ trợ vào, ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc vào nơi cấm, khu vực cấm, khu vực bảo vệ và mục tiêu bảo vệ.

     

    - Lợi dụng, lạm dụng việc sử dụng công cụ hỗ trợ xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

     

    - Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng công cụ hỗ trợ được giao;

     

    - Giao công cụ hỗ trợ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện theo quy định;

     

    - Trao đổi, tặng, cho, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố công cụ hỗ trợ hoặc chi tiết, cụm chi tiết để lắp ráp công cụ hỗ trợ;

     

    - Vận chuyển, bảo quản, tiêu hủy công cụ hỗ trợ không bảo đảm an toàn hoặc làm ảnh hưởng đến môi trường;

     

    - Chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, tặng, cho, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, làm giả, sửa chữa, tẩy xóa các loại giấy phép, giấy xác nhận, giấy chứng nhận, chứng chỉ về công cụ hỗ trợ;

     

    - Chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, tặng, cho, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố phế liệu, phế phẩm công cụ hỗ trợ;

     

    - Hướng dẫn, huấn luyện, tổ chức huấn luyện trái phép cách thức chế tạo, sản xuất, sửa chữa hoặc sử dụng công cụ hỗ trợ dưới mọi hình thức;

     

    - Che giấu, không tố giác, giúp người khác chế tạo, sản xuất, mang, mua bán, sửa chữa, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép hoặc hủy hoại công cụ hỗ trợ;

     

    - Đào bới, tìm kiếm, thu gom trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; phế liệu, phế phẩm công cụ hỗ trợ;

     

    - Cố ý cung cấp thông tin sai lệch về quản lý vũ khí; không báo cáo, báo cáo không kịp thời, che giấu hoặc làm sai lệch thông tin báo cáo về việc mất, thất thoát, tai nạn, sự cố về công cụ hỗ trợ.

     

    Câu 2. Ông Triệu Văn Thượng trú tại xã Trùng Quán, huyện Văn Lãng hỏi: Việc xử lý hình sự đối với tội làm nhục người khác và tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 155 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội làm nhục người khác như sau:

     

    “1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

     

    a) Phạm tội 02 lần trở lên;

     

    b) Đối với 02 người trở lên;

     

    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

     

    d) Đối với người đang thi hành công vụ;

     

    đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

     

    e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

     

    g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%...”

     

    Theo đó, người phạm tội phải là người có hành vi (hành động) được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, lột quần áo giữa đám đông người, thỏa mãn thú vui xác thịt…

     

    Để làm nhục, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lột, đấm đá… nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác.

     

    Tuy nhiên, nếu hành vi đó cấu thành một tội riêng thì tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện. Mức độ của các hành vi làm nhục người khác trên phải là xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác, nghĩa là hành vi nêu trên phải gây ra những ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định đến nhân phẩm, danh dự của người bị hại (như lột trần truồng người bị hại ở chỗ đông người, cạo đầu bôi vôi phụ nữ…) thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

     

    Bên cạnh đó, Điều 157 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật như sau:

     

    “1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

     

    a) Có tổ chức;

     

    b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

     

    c) Đối với người đang thi hành công vụ;

     

    d) Phạm tội 02 lần trở lên;

     

    đ) Đối với 02 người trở lên;

     

    e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

     

    g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;

     

    h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%...”

     

    Theo đó, đối với tội bắt người trái pháp luật: người phạm tội (người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc bắt người khác) có hành vi khống chế người khác để tạm giữ hoặc tạm giam họ. Việc khống chế này có thể dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác nhau như trói, còng tay… (sau đó thường là người bị hại bị dẫn về nơi nhất định để tạm giữ hoặc tạm giam);

     

    - Đối với tội giữ (tạm giữ) người trái pháp luật: người phạm tội (người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc giữ người khác) có hành vi không cho người bị bắt đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của người phạm tội (như bắt ở trong nhà, bắt ngồi tại chỗ…) trong một thời gian ngắn (thường là dưới 24 giờ).

     

    - Đối với tội giam (tạm giam) người trái pháp luật: người phạm tội (người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc giam người khác) có hành vi nhốt, giam người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định (như nhốt, giam ở trong buồng, trong nhà…).

     

    Ngoài ra, nếu việc bắt, giữ, giam người trái pháp luật mà có dùng vũ lực dẫn đến gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người bị hại thì người có hành vi nêu trên còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác (nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm).

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 2 tháng 10 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Liễu Ngọc Hùng trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Những đối tượng nào áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 92, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định những đối tượng sau áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng:

     

    1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.

     

    2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự.

     

    3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

     

    4. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

     

    5. Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:

     

    a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

     

    b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

     

    c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

     

    Câu 2. Ông Triệu Văn Sơn trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chính sách hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 80/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi Nghị định 147/2003/NĐ-CP về cai nghiện ma túy tự nguyện và Nghị định 135/2004/NĐ-CP về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thì chính sách hỗ trợ với người cai nghiện ma túy tự nguyện được quy định cụ thể như sau:

     

    - Nhà nước bảo đảm tiền thuốc cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần cho người cai nghiện ma túy tự nguyện tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập;

     

    - Nhà nước hỗ trợ 95% chi phí sàng lọc, đánh giá mức độ nghiện, thực hiện các dịch vụ xét nghiệm; điều trị nhiễm trùng cơ hội đối với thương binh, người nghèo, người cao tuổi cô đơn, trẻ mồ côi; người nhiễm chất độc hóa học…

     

    - Địa phương hỗ trợ tiền ăn hàng tháng, tiền mặc, đồ dùng sinh hoạt ít nhất bằng 70% định mức đối với người nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc…

     

    Riêng đối người cai nghiện ma túy tự nguyện tại các cơ sở cai nghiện ma túy ngoài công lập vẫn được hưởng các chính sách hỗ trợ trên từ năm 2018 đến năm 2020.

     

    Thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện

     

    - Thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tối thiểu là 06 tháng, gồm: Điều trị cắt cơn, giải độc và phục hồi sức khỏe; giáo dục, phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu, tư vấn hướng nghiệp, dạy nghề, chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.

     

    - Thời gian điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần và phục hồi sức khỏe tối thiểu là 20 ngày.

     

    Câu 3. Ông Nông Văn Phúc trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: người hành vi vượt biên trái phép ra nước ngoài lao động sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Về xử phạt vi phạm hành chính:

     

    Căn cứ Khoản 3 Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tư, an toàn, xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình quy định

    "3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    a) Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định;

     

    b) Trốn hoặc tổ chức, giúp đỡ người khác trốn vào các phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh nhằm mục đích vào Việt Nam hoặc ra nước ngoài;


    c) Cho người khác sử dụng hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

     

    d) Sử dụng hộ chiếu hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

     

    đ) Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định hoặc sử dụng chứng nhận tạm trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 16 ngày trở lên mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

     

    e) Người nước ngoài đã được cấp thẻ thường trú mà thay đổi địa chỉ nhưng không khai báo để thực hiện việc cấp đổi lại"

     

    Về xử lý hình sự:

     

    Căn cứ Điều 347 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

     

    Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    Nhắn tin: trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Bà Vi Thị Minh trú tại thôn Khuổi Đản, xã Song Giáp, huyện Văn Quan hỏi: Gia đình bà có hoàn cảnh khó khăn nhưng không được công nhận là hộ nghèo, điều kiện để gia đình bà được công nhận là hộ nghèo?

     

    Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Song Giáp để được xem xét, giải quyết.

     

    2. Bà Lý Ngọc Liên trú tại thôn Cốc Rặc, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi về cách tính thuế, khi nào tăng thuế và thu nhập phải đóng thuế đối với hộ kinh doanh cá nhân của gia đình bà?

     

    Phần nơi gửi trong Đơn kiến nghị của bà đã gửi đến Chi Cục thuế huyện Bình Gia. Chi cục thuế huyện Bình Gia sẽ xem xét trả lời những thắc mắc trong nội dung đơn thư của bà.

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 25 tháng 9 năm 2018

     

     

    Câu 1. Ông Trần Văn Toàn trú tại Phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hình thức xử phạt đối với hành vi cho vay nặng lãi được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

     Hành vi cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự có tính chất chuyên bóc lột nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật, tùy theo tình chất, mức độ, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý như sau:

     

    Xử phạt vi phạm hành chính

     

    Tại Điểm d, khoản 3, Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2018 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định đã quy định Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay. 

     

     Xử lý hình sự

     

     Điều 201 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

     

     “1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

     

     2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

     3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.''

     

     Một người được coi là có hành phạm tội cho vay nặng lãi khi cho người khác vay tiền thông qua các hình thức như vay, mượn, ký nợ thông qua hợp đồng bằng văn bản, hoặc thỏa thuận miệng, với mức lãi suất cao hơn lãi suất cao gấp 05 lần trở lên mức lãi xuất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, có tính chất chuyên bóc lột nhằm thu lợi bất chính; thủ đoạn là lợi dụng người đi vay gặp hoàn cảnh khó khăn; số tiền thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên và người này đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội cho vay nặng lãi mà chưa được xóa án tích.

     

    Câu 2. Ông Lại Minh Hoàn trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về thủ tục thăm gặp phạm nhân, những ai thuộc đối đượng được thăm gặp phạm nhân?

     

    Trả lời:

     

    Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư 07/2018/TT-BCA , ngày 12 tháng 02 năm 2018 quy định việc quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân.

     

    Theo đó:

     

               Đối tượng được thăm gặp phạm nhân

     

    -Đối tượng được thăm gặp phạm nhân gồm: Ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột, dâu, rể; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột. Mỗi lần đến thăm gặp phạm nhân tối đa không quá 3 (ba) người.

     

    - Đối với cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc thân nhân khác được thăm gặp phạm nhân nếu Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xét thấy phù hợp với lợi ích hợp pháp của phạm nhân và yêu cầu công tác phòng, chống tội phạm, quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.

     

              Thủ tục thăm gặp phạm nhân

     

              - Thân nhân đến thăm gặp phạm nhân phải là người có tên trong Sổ thăm gặp (trường hợp thăm gặp lần đầu chưa có Sổ thăm gặp hoặc không có tên trong Sổ thăm gặp thì phải có đơn xin thăm gặp có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó đang làm việc, học tập).

     

              - Đối với cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc thân nhân khác:  khi đến gặp phạm nhân phải có đề nghị bằng văn bản (đối với cá nhân, văn bản đề nghị phải được cơ quan nơi đang làm việc, học tập hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận), đồng thời phải có một trong những giấy tờ sau (trừ người dưới 14 tuổi): Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân; Hộ chiếu; giấy tờ chứng minh là cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên nếu thuộc lực lượng vũ trang. Trường hợp người đến thăm gặp không có giấy tờ tùy thân thì phải có đơn đề nghị có dán ảnh được Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó đang làm việc, học tập xác nhận, đóng dấu vào đơn và đóng dấu giáp lai vào ảnh.

     

              - Thân nhân là vợ (hoặc chồng) của phạm nhân có đủ điều kiện được gặp phạm nhân tại phòng riêng theo quy định tại khoản 1, Điều 46 Luật Thi hành án hình sự thì phải có giấy đăng ký kết hôn; trước khi thăm gặp phải kê khai đồ dùng, tư trang cá nhân để cán bộ có trách nhiệm kiểm duyệt, nếu đồ vật không được đưa vào thì phải gửi ở tủ tại nhà thăm gặp; phải viết giấy cam kết thực hiện nghiêm chỉnh Nội quy nhà thăm gặp, có trách nhiệm quản lý, giám sát phạm nhân trong thời gian thăm gặp, không để phạm nhân vi phạm pháp luật, Nội quy của cơ sở giam giữ, đồng thời thực hiện phòng, chống các bệnh truyền nhiễm. Phạm nhân được gặp vợ hoặc chồng tại phòng riêng phải cam kết chấp hành các quy định pháp luật về dân số, kế hoạch hóa gia đình hiện hành. Phạm nhân nữ phải sử dụng biện pháp tránh thai và có giấy cam kết không mang thai để bảo đảm thời gian chấp hành án phạt tù.

     

              - Khi giao tiếp, người đến gặp phạm nhân và phạm nhân phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, trường hợp là người dân tộc thiểu số và người nước ngoài không biết tiếng Việt thì được sử dụng ngôn ngữ khác. Người bị hạn chế về khả năng nghe, nói được sử dụng ngôn ngữ ký hiệu hoặc thiết bị hỗ trợ cho việc giao tiếp nhưng phải được cán bộ có trách nhiệm kiểm tra trước khi sử dụng.

     

    Câu 3. Ông Vi Ngọc Thắng trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những loại tài sản nào pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 Luật Đấu giá tài sản thì những loại tài sản bán đấu giá gồm:

     

    Tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

     

    Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật; tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

     

    Tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm; tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

     

     Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản kê biên để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

     

    Tài sản là hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia;

    Tài sản cố định của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

     

    Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản;

     

     Tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

     

     Tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản;

     

    Tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;

     

    Tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật về tần số vô tuyến điện;

     

    Tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;

     

    Tài sản khác mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá.

     

    Nhắn tin: trong tuần vừa qua chúng tôi cũng nhận được đơn thư của ông Nông Văn Khoản, trú tại phố Mỏ Nhài, xã Hưng Vũ, huyện Bắc Sơn. Ông hỏi lý do vì sao bị tạm dừng sinh hoạt đảng tại nơi cư trú đến nay chưa được phục hồi sinh hoạt đảng.

     

    Đề nghị ông liên hệ trực tiếp với Đảng ủy xã Hưng Vũ, huyện Bắc Sơn để được giải đáp thắc mắc.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 18 tháng 9 năm 2018

    Câu 1. Ông Nguyễn Trọng Ninh trú tại Phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những hành vi vị nghiêm cấm trong đấu giá tài sản được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Điều 9, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định

    1. Nghiêm cấm đấu giá viên thực hiện các hành vi sau đây:

    - Cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Chứng chỉ hành nghề đấu giá của mình;

    - Lợi dụng danh nghĩa đấu giá viên để trục lợi;

    - Thông đồng, móc nối với người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, tổ chức giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;

    - Hạn chế cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá không đúng quy định của pháp luật;

    - Vi phạm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên;

    - Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

    2. Nghiêm cấm tổ chức đấu giá tài sản thực hiện các hành vi sau đây:

    - Cho tổ chức khác sử dụng tên, Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức mình để hành nghề đấu giá tài sản;

    - Thông đồng, móc nối với người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, tổ chức giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;

    - Cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá;

    - Để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá nhằm mục đích trục lợi;

    - Nhận bất kỳ một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích nào từ người có tài sản đấu giá ngoài thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật, chi phí dịch vụ khác liên quan đến tài sản đấu giá theo thỏa thuận;

    - Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

    3. Nghiêm cấm Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện các hành vi

    - Thông đồng, móc nối với người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, tổ chức giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;

    - Cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá;

    - Để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá nhằm mục đích trục lợi;

    - Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

    4. Nghiêm cấm người có tài sản đấu giá thực hiện các hành vi sau đây:

    - Thông đồng, móc nối với đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;

    -  Nhận bất kỳ một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích nào từ đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, người tham gia đấu giá để làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản;

    - Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

    5. Nghiêm cấm người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, cá nhân, tổ chức khác thực hiện các hành vi sau đây:

    - Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ giả mạo để đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá;

    - Thông đồng, móc nối với đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá khác, cá nhân, tổ chức khác để dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản;

    - Cản trở hoạt động đấu giá tài sản; gây rối, mất trật tự tại cuộc đấu giá;

    - Đe dọa, cưỡng ép đấu giá viên, người tham gia đấu giá khác nhằm làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản;

    - Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

    Câu 2. Ông Mai Xuân Thành trú tại Xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hình thức xử phạt đối với người có hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một trong những quyền cơ bản quan trọng nhất của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

    Theo đó, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được quy định cụ thể tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013:

    "1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.  

    2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác".

    Điều 38 BLDS năm 2015, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, được quy định như sau:

    “1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý; việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

    Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định...

    Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".

    Về xử phạt vi phạm hành chính:

    Theo khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện như sau:

     “3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;"

    Ngoài ra, theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ,“người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng”. Việc xử lý hành chính với vi phạm này thuộc thẩm quyền của chủ tịch UBND cấp xã, phường nơi người vi phạm cư trú.

     Về xử lý hình sự:

     Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

     1.  Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

      -  Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào; 

     - Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

     -  Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật; Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật; 

     - Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

       2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Phạm tội 02 lần trở lên; Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; Làm nạn nhân tự sát.

     3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


     
    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 11 tháng 9 năm 2018

    Câu 1. Ông Lý Văn Đang trú tại xã Hải Yến, huyện Cao Lộc hỏi: cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế theo quy định của pháp luật thuộc đối tượng tinh giản biên chế trong những  trường hợp nào?

    Trả lời:

     Theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế thì cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế theo quy định của pháp luật, thuộc đối tượng tinh giản biên chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

                  1. Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự;

                 2. Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác;

                  3. Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn;

                  4. Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác.

                 5. Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

                 6. Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

                  7. Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại  Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành, cụ thể là:

                  - Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;

        - Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.

        8. Các trường hợp chưa xét tinh giản biên chế gồm

                 - Những người đang trong thời gian ốm đau có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

       - Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

       -  Những người đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Câu 2. Ông Lương Văn Năng trú xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi: Chính sách hỗ trợ vay vốn đối với hộ nghèo là người dân tộc thiểu số ở miền núi được nhà nước quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2020 thì khách hàng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở các thôn, bản, buôn…, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi; hộ nghèo ở xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn được vay vốn ưu đãi để tạo đất sản xuất hoặc chuyển đổi ngành nghề. Trong đó, người vay chỉ được vay vốn để sử dụng vào một trong các mục đích sau: Vốn vay được sử dụng vào việc chi phí khai hoang, phục hóa, phục hóa đất sản xuất hoặc tự nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất.

    Khách hàng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn; có phương án sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh. Trong đó, người vay chỉ được vay vốn để sử dụng vào một trong các mục đích: đầu tư vào sản xuất, kinh doanh ngành nghề không trái pháp luật (mua sắm máy móc, công cụ sản xuất, dịch vụ nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán…).

    Người vay thuộc đối tượng được vay vốn theo quy định có thể vay một hoặc nhiều lần nhưng tổng dư nợ cho vay không vượt quá mức cho vay áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ. Hiện mức vay cho vay tối đa đối với hộ nghèo là 50 triệu đồng/hộ.

    Lãi suất cho vay được tính bằng 50% lãi suất cho vay hộ nghèo trong từng thời kỳ (Hiện mức lãi suất cho vay đối với hộ nghèo là 6,6%/năm). Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất khi cho vay. Người vay được miễn lệ phí làm thủ tục hành chính khi vay vốn.

    Thời hạn cho vay tối đa là 10 năm. Căn cứ vào chu kỳ sinh trưởng của đối tượng vay, khả năng trả nợ của người vay, người vay và Ngân hàng chính sách xã hội thỏa thuận thời hạn cho vay cụ thể.

    Riêng đối với người vay vốn để tạo đất sản xuất thì ngoài các căn cứ nêu trên còn phải căn cứ vào thời hạn còn lại được sử dụng đất sản xuất của hộ vay và ngân hàng chính sách xã hội chỉ xem xét cho vay khi thời hạn còn lại được sử dụng đất sản xuất bằng hoặc lớn hơn thời hạn cho vay đã thỏa thuận nêu trên.

    Câu 3. Ông Ninh Văn Sanh trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình hỏi: Trong những trường hợp nào thì Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013: Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

    + Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

    + Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

    + Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

    + Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của ông Tô Văn Lợi trú tại thôn Khòn Khoang, xã Bằng Khánh, huyện Lộc Bình tố cáo về việc lấn chiếm đất đai.

    Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Bằng Khánh, huyện Lộc Bình để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.


     
    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 4 tháng 9 năm 2018

    Câu 1. Bà Triệu Thanh Mai trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những hành vi nào không được làm trong giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương?

    Trả lời:

    Theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thì những hành vi không được làm trong giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông được Nghị định quy định cụ thể như sau:

        1. Cán bộ, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại trụ sở Bộ phận Một cửa và tại cơ quan có thẩm quyền không được thực hiện các hành vi sau đây:

        a) Cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà, khó khăn cho tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính;

        b) Cản trở tổ chức, cá nhân lựa chọn hình thức nộp hồ sơ, nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật;

        c) Cản trở hoặc ngăn chặn trái phép quá trình truyền, gửi, nhận dữ liệu điện tử; thay đổi, xóa, hủy, giả mạo, sao chép, di chuyển trái phép một Phần hoặc toàn bộ nội dung dữ liệu thực hiện thủ tục hành chính;

        d) Tiết lộ thông tin về hồ sơ, tài liệu và các thông tin liên quan đến bí mật của tổ chức, cá nhân hoặc sử dụng thông tin đó để trục lợi;

    đ) Từ chối thực hiện, kéo dài thời gian giải quyết thủ tục hành chính hoặc tự ý yêu cầu bổ sung hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định của pháp luật;

        e) Trực tiếp giao dịch, yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện hồ sơ không thông qua Bộ phận Một cửa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

        g) Đùn đẩy trách nhiệm, thiếu hợp tác, thiếu công bằng, không khách quan, không đúng pháp luật trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính;

        h) Ứng xử, giao tiếp không phù hợp với quy chế văn hóa công sở;

        i) Các hành vi vi phạm pháp luật khác trong thực hiện công vụ.

       2. Tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính không được thực hiện các hành vi sau đây:

        a) Gian lận, mạo nhận, chiếm đoạt, sử dụng trái phép hồ sơ, tài liệu, kết quả giải quyết thủ tục hành chính;

        b) Cản trở việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân;

        c) Dùng các thủ đoạn khác để lừa dối, hối lộ cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính;

        d) Vu khống, phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, mạo danh người khác để tố cáo sai sự thật, không có căn cứ, không có chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền trong hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính;

        đ) Xúc phạm danh dự của cơ quan có thẩm quyền; dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính;

        e) Nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, không công bằng, không trung thực, không đúng pháp luật, không đúng thực tế với việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính;

        g) Các hành vi vi phạm khác theo quy định của pháp luật.

       3. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích và doanh nghiệp, cá nhân được thuê hoặc được ủy quyền thực hiện thủ tục hành chính không được thực hiện các hành vi sau đây:

       a) Cản trở quá trình giải quyết thủ tục hành chính;

       b) Lừa dối cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, người thuê, người ủy quyền thực hiện thủ tục hành chính;

       c) Các hành vi khác theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Ông Nguyễn Hoàng Thanh trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các mức xử phạt đối với hành vi dừng đỗ xe ô tô không đúng nơi quy định được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Điều 5, Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định.

    Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với các hành vi sau:

    - Dừng xe, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

    - Đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy mà không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm theo quy định.

    Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với các hành vi:

    - Đỗ xe không sát mép đường phía bên phải theo chiều đi ở nơi đường có lề đường hẹp hoặc không có lề đường;

    - Dừng xe, đỗ xe ngược với chiều lưu thông của làn đường;

    - Đỗ xe trên dốc không chèn bánh; mở cửa xe, để cửa xe mở không bảo đảm an toàn;

    - Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m;

    - Dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước;

    - Rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe;

    - Dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng, đỗ xe;

    - Dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

    - Dừng xe nơi có biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”.

    Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với các hành vi vi phạm sau:

    - Không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

    - Dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt;

    - Dừng xe, đỗ xe tại vị trí bên trái đường một chiều;

    - Dừng xe, đỗ xe trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc nơi tầm nhìn bị che khuất;

    - Dừng xe, đỗ xe trên cầu, gầm cầu vượt;

    - Dừng xe, đỗ xe song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

    - Dừng xe, đỗ xe nơi đường bộ giao nhau hoặc trong phạm vi 05 m tính từ mép đường giao nhau;

    - Dừng xe, đỗ xe tại điểm dừng đón, trả khách của xe buýt; trước cổng hoặc trong phạm vi 05 m hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ô tô ra vào;

    - Dừng xe, đỗ xe nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

    - Dừng xe, đỗ xe che khuất biển báo hiệu đường bộ;

    - Đỗ xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m;

    - Đỗ xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt;

    - Đỗ xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước;

    - Đỗ, để xe ở hè phố trái quy định của pháp luật; đỗ xe nơi có biển “Cấm đỗ xe” hoặc biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”.

    Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với các hành vi vi phạm sau đây:

    - Điều khiển xe đi trên hè phố, trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà;

    - Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Bà Mông thị Eng trú tại thôn Bản Van, xã Nam La, huyện Văn Lãng trình bày: tôi là giáo viên đã công tác liên tục tại trường có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã Nam La, huyện Văn Lãng và nghỉ hưu từ năm 2013, nhưng đến nay chưa được  hưởng trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu.

    Chúng tôi đã chuyển đơn của bà đến Phòng Nội vụ, huyện Văn Lãng để  được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Đề nghị bà liên hệ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, Văn phòng UBND huyện Văn Lãng.

    2. Ông Triệu Văn Lý trú tại thôn Bẳn Bang, xã Tri Lễ, huyện Văn Quan hỏi: về việc bố ông đi dân công hỏa tuyến chưa được giải quyết chế độ chính sách.

    Đề nghị ông liên hệ trực tiếp với UBND xã Tri Lễ, huyện Văn Quan để được hướng dẫn lập hồ sơ theo quy định.


     
    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 28 tháng 8 năm 2018

    Câu 1. Ông Vi Văn Hậu trú tại xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị mất sổ khổ khẩu gia đình, nay xin cấp lại thì cần những thủ tục gì?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 24 Luật cư trú 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013), sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.

    Trường hợp sổ hộ khẩu bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại. Bộ Công an phát hành mẫu sổ hộ khẩu và hướng dẫn việc cấp, cấp lại, đổi, sử dụng, quản lý sổ hộ khẩu thống nhất trong toàn quốc.

    Thủ tục xin cấp lại sổ hộ khẩu

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP của Chính phủ: Sổ hộ khẩu được đổi, cấp lại có số, nội dung như sổ hộ khẩu đã cấp trước đây.

    Hồ sơ đổi, cấp lại sổ hộ khẩu bao gồm:

    1. Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (mẫu HK02).

    2. Trường hợp cấp lại sổ hộ khẩu tại thành phố, thị xã thuộc tỉnh và quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương phải có xác nhận của công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

    Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền phải cấp lại sổ hộ khẩu cho công dân (khoản 3 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA).

    Thẩm quyền cấp lại

    – Đối với thành phố trực thuộc Trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã.

    – Đối với cấp tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện; Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    Lệ phí xin cấp lại hộ khẩu

    Thông tư 02/2014/TT-BTC quy định lệ phí cấp lại sổ hộ khẩu không quá 20.000 đồng/lần cấp.

    Câu 2: Ông Nông Văn Trầu trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Nhà nước kéo đường dây điện cao thế đi qua trên nhà và đất của gia đình tôi và không thuộc diện phải giải tỏa, thu hồi đất thì gia đình tôi có được bồi thường, hỗ trợ không?

    Trả lời:

    Theo Điều 19, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP về Bồi thường, hỗ trợ đối với đất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không:

    1. Đất ở, các loại đất khác trong cùng thửa với đất ở của một chủ sử dụng trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không điện áp đến 220Kv thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất thì chủ sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện một lần như sau:

    a) Đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là loại đất ở được quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai;

    b) Diện tích đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là diện tích đất ở thực tế trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi đất ở, tính trên diện tích đất nằm trong hành lang;

    c) Trên cùng một thửa đất, bao gồm đất ở và các loại đất khác của một chủ sử dụng đất, khi bị hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không chiếm dụng khoảng không lớn hơn hạn mức đất ở thì phần diện tích các loại đất khác trên cùng thửa đất trong hành lang cũng được bồi thường, hỗ trợ. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi các loại đất khác đó tính trên diện tích các loại đất khác nằm trong hành lang;

    d) Trường hợp đất ở không phải là đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ dựa trên điều kiện thực tế của từng địa phương.

    2. Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không thì chủ sử dụng đất được hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc hỗ trợ được thực hiện một lần, không lớn hơn 30% mức bồi thường thu hồi đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, tính trên diện tích đất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không.

    3. Mức bồi thường, hỗ trợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể. Kinh phí chi trả từ nguồn vốn đầu tư của chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp.

    Như vậy theo quy định trên nếu nhà ông có đường dây điện cao thế đi qua mà không phải thu hồi đất và nhà thì ông sẽ được bồi thường và hỗ trợ theo quy định trên.

    Câu 3. Bà Hoàng Thị Tâm trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Đối với nạn nhân bị mua bán là trẻ em không nơi nương tựa thì sau khi tiếp nhận trẻ em, cơ quan có thẩm quyền thực hiện biện pháp gì để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của trẻ em?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 24 (khoản 3) Luật phòng, chống mua bán người năm 2011, đối với trường hợp nạn nhân mua bán người là trẻ em mà không có nơi nương tựa (có hoàn cảnh đặc biệt, mồ côi, lang thang, cơ nhỡ không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng), để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của trẻ em, bảo đảm cho trẻ được sống trong môi trường được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thì cơ quan tiếp nhận (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội) có trách nhiệm làm thủ tục chuyển giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.

    Theo Điều 32, Luật phòng, chống mua bán người năm 2011 quy định các chế độ hỗ trợ nạn nhân nói chung bao gồm:

    - Hỗ trợ về nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại.

    - Hỗ trợ y tế.

    - Hỗ trợ tâm lý.

    - Trợ giúp pháp lý.

    - Hỗ trợ học văn hóa, học nghề.

    - Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 21 tháng 8 năm 2018

     

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Minh Long trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về bảo vệ môi trường nơi công cộng, khu đô thị, khu dân được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 28, Nghị định 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường nơi công cộng, khu đô thị, khu dân cư quy định như sau:

     

    1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi không niêm yết quy định về giữ gìn vệ sinh môi trường ở nơi công cộng.

     

    2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hoạt động quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, lễ hội, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộng khác có một trong các hành vi sau đây:

     

    a) Không có đủ công trình vệ sinh công cộng, phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng yêu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường theo quy định;

     

    b) Không thu gom chất thải trong phạm vi quản lý theo quy định.

     

    3. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với chủ đầu tư xây dựng mới khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu chung cư có hành vi bàn giao công trình đưa vào sử dụng mà không thực hiện đúng và đầy đủ một trong các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau đây:

     

    a) Không có kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường phù hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tập trung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

     

    b) Không có thiết bị, phương tiện thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư;

     

    c) Không bảo đảm các yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường;

     

    d) Không có hệ thống tiêu thoát nước mưa, nước thải riêng biệt phù hợp với quy hoạch thoát nước thải, bảo vệ môi trường của khu dân cư;

     

    đ) Không có nơi tập trung rác thải sinh hoạt bảo đảm vệ sinh môi trường;

     

    e) Không có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

     

    4. Hình thức xử phạt bổ sung:

     

    Đình chỉ hoạt động của cơ sở từ 06 tháng đến 12 tháng đối với các trường hợp vi phạm hoạt động quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, lễ hội, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộng.

     

    5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

     

    -Buộc phải xây lắp công trình bảo vệ môi trường theo quy định trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định không thu gom chất thải trong phạm vi quản lý theo quy định; không có thiết bị, phương tiện thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư.

     

    - Buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc và phân tích mẫu môi trường trong trường hợp có vi phạm về xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường theo định mức, đơn giá hiện hành;

     

    - Buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả vi phạm trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

     

    Câu 2. Ông Long Văn Bằng trú tại xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi: pháp luật quy định như thế nào về việc xử lý hành vi tiêu thụ tài sản không hợp pháp?

    Trả lời:

     

    Theo Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:

     

              1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Trộm cắp tài sản; Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác; Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác; Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

     

              2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:  Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác; Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý; Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản; Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác; Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có; Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.

     

              3. Hình thức xử phạt bổ sung:

     

              Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi: Trộm cắp tài sản; Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác; Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác; Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản; Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác; Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có; Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.

     

              Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính nêu trên thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     

               Về xử lý hình sự.

     

              Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

     

              1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

              2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;  Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm.

     

              3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm: Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

     

              4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm: Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

     

              5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 14 tháng 8 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Phùng Ngọc Sơn trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: Trong quá trình hòa giải tại nơi cư trú, hòa giải viên có được mời người khác cùng tham gia hòa giải không? Những người nào có thể được mời tham gia hòa giải? Việc hòa giải có được ghi lại vào sổ để theo dõi không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 19 Luật hòa giải ở cơ sở, trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng , chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải.

     

    Người được mời tham gia hòa giải phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở.

     

    Cơ quan, tổ chức có người được mời tham gia hòa giải có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia hòa giải.

     

    Theo quy định tại Điều 21 Luật hòa giải ở cơ sở, hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên. Trong trường hợp các bên có người khuyết tật thì có sự hỗ trợ phù hợp để có thể tham gia hòa giải.

     

    Hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai theo ý kiến thống nhất của các bên.

     

    Tùy thuộc vào vụ, việc cụ thể, trên cơ sở quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân, hòa giải viên áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm giúp các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ, việc để các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.

     

     Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Hòa giải viên có trách nhiệm ghi nội dung vụ, việc hòa giải vào Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở.

     

    Trường hợp các bên đồng ý thì lập văn bản hòa giải thành.

     

    Câu 2. Bà Mông Thị Vân trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: đối với người có công với cách mạng thì giấy tờ chứng minh thuộc diện được trợ giúp pháp lý bao gồm những loại giấy tờ gì?

     

    Trả lời:

     

    Theo Thông tư số 08/2017/TT-BTP của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý thì người có công với cách mạng khi có yêu cầu trợ giúp pháp lý cần xuất trình một trong các giấy tờ sau đây:

     

    - Quyết định công nhận thuộc một trong các đối tượng là người có công với cách mạng theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

     

    - Giấy xác nhận thuộc diện người có công với cách mạng của cơ quan lao động, thương binh và xã hội hoặc của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người có yêu cầu cư trú cấp;

     

    - Giấy chứng nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

     

    - Giấy chứng nhận bệnh binh;

     

    - Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, Bằng Tổ quốc ghi công kèm theo giấy tờ xác nhận về mối quan hệ thân nhân (cha, mẹ đẻ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi hoặc không có năng lực hành vi dân sự…) với liệt sĩ (như Sổ hộ khẩu gia đình, Giấy đăng ký kết hôn, Giấy khai sinh...) hoặc giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã;

     

    - Huân chương, Huy chương hoặc giấy tờ xác nhận khác có ghi nhận họ thuộc diện người có công với cách mạng;

     

    - Bằng có công với nước, Kỷ niệm chương hoặc giấy chứng nhận bị địch bắt, tù đày;

     

    - Các loại giấy tờ hợp pháp khác mà dựa vào đó có thể biết được người có tên trong giấy tờ đó là người có công với cách mạng;

    - Trong trường hợp những người thuộc diện người có công với cách mạng bị thất lạc giấy tờ thì cơ quan lao động, thương binh và xã hội hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

     

    Câu 3. Ông Vương Văn Nghiệp trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện, trách nhiệm của người được giao sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

              Điều kiện, trách nhiệm của người được giao sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ  được quy định tại Điều 7 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017.

     

    Người được giao sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ phải bảo đảm đủ điều kiện sau đây:

     

    - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

     

    - Có phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức khỏe phù hợp với công việc được giao;

     

    - Không đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã được xóa án tích trong trường hợp bị kết tội theo bản án, quyết định của Tòa án;

     

    - Đã qua đào tạo, huấn luyện và được cấp giấy chứng nhận về sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

     

    Người được giao sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm sau đây:

     

    - Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đúng mục đích, đúng quy định;

     

    - Khi mang vũ khí, công cụ hỗ trợ phải mang theo giấy chứng nhận, giấy phép sử dụng;

     

    - Bảo quản vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đúng chế độ, đúng quy trình, bảo đảm an toàn, không để mất, hư hỏng;

     

    -  Bàn giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và giấy phép cho người có trách nhiệm quản lý, bảo quản theo đúng quy định sau khi kết thúc nhiệm vụ hoặc hết thời hạn được giao.

     

    - Chính phủ quy định việc huấn luyện và cấp chứng nhận về sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 7 tháng 8 năm 2018

     

     

    Câu 1. Ông Lưu văn Được, trú tại xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi: quy định việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 55 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án, cụ thể như sau: 

     

    Việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính có nội dung yêu cầu bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính.

     

    Thời điểm chấp nhận yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính là thời điểm Tòa án có thẩm quyền thụ lý yêu cầu bồi thường.

     

    Việc xác định thiệt hại được bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính được thực hiện theo quy định của Luật này sau khi Tòa án có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

     

    Trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính thì bản án, quyết định của Tòa án còn phải có các nội dung sau đây:

     

    - Hành vi gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

     

    - Thiệt hại, mức bồi thường, phục hồi danh dự (nếu có) và việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có);

     

    - Cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường, thực hiện phục hồi danh dự (nếu có) và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có).

     

    - Trường hợp người yêu cầu bồi thường không đồng ý với nội dung giải quyết bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc bản án, quyết định của Tòa án không có nội dung giải quyết bồi thường thì chỉ được tiếp tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường theo thủ tục tố tụng.

    Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án.

     

    Câu 2. Ông Hứa Mã Khen trú tại xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi: Người đang chấp hành hình phạt tù được tha tù trước thời phải có các điều kiện nào?

     

              Trả lời:

     

    Tha tù trước thời hạn là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

     

              - Phạm tội lần đầu;

     

              - Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

     

              - Có nơi cư trú rõ ràng;

     

              - Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

     

              - Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

     

              Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

     

              Không tha tù trước thời hạn trong các trường hợp sau: phạm tội về an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội phạm khủng bố; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người do lỗi cố ý; người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các Tội cướp tài sản. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội sản xuất trái phép chất ma túy. Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội chiếm đoạt chất ma túy; Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp thi hành án tử hình đối với người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người từ đủ 75 tuổi trở lên; mguwowif bị kết án tử hình về tôi tham ô tài sản, nhân hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộ lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhân hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

     

              Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.

     

              Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.

     

              Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước.

     

              Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

     

    Câu 3. Ông Khuất Duy Hùng trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi đi khám bệnh vượt tuyến hoặc trái tuyến, mức hưởng BHYT của người bệnh và hồ sơ thanh toán trực tiếp chi phí khám chữa bệnh BHYT được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 3, 4 và 5 Điều 22 Luật BHYT, người có thẻ BHYT tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến trong năm 2018, được quỹ BHYT thanh toán theo tỷ lệ như sau:

     

    Tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT của đối tượng.

     

    Tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT của đối tượng.

     

    Tại bệnh viện tuyến huyện là 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT của đối tượng.

     

    Đối với người tham gia BHYT đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh có mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT của đối tượng.

     

    Đối với đối tượng người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia BHYT đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người tham gia BHYT đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh 100% chi phí KCB BHYT theo phạm vi, mức hưởng của đối tượng khi KCB BHYT tại bệnh viện tuyến huyện, điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương.

     

    Về hồ sơ hồ sơ thanh toán trực tiếp chi phí khám chữa bệnh BHYT, gồm các giấy tờ sau:

     

    Giấy đề nghị thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT lập theo mẫu do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành; thẻ BHYT, giấy tờ chứng minh về nhân thân và giấy chuyển viện/giấy hẹn khám lại (nếu có); giấy ra viện; bản chính các chứng từ hợp lệ (hóa đơn mua thuốc, hóa đơn thu viện phí và các chứng từ có liên quan).

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 31 tháng 7 năm 2018

    Câu 1. Ông Phùng Ngọc Châu trú tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi:  mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng hiện nay được quy định như thế nào

    Trả lời:

    Nghị định 99/2018/NÐ-CP của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng (NCCVCM). Nghị định quy định rõ về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hằng tháng như sau: Mức trợ cấp đối với Người hoạt động cách mạng trước ngày 1-1-1945: Diện thoát ly là 1.693.000 đồng; diện không thoát ly 2.874.000 đồng.

       Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 1 liệt sĩ 1.515.000 đồng; trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 2 liệt sĩ 3.030.000 đồng; trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 3 liệt sĩ trở lên 4.545.000 đồng.

       Bà mẹ Việt Nam anh hùng (hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ) và hưởng mức phụ cấp 1.270.000 đồng.

       Người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình hưởng mức trợ cấp 1.515.000 đồng.

       Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến hưởng mức trợ cấp 1.270.000 đồng.

       Trường hợp Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 41% - 50%, mức trợ cấp 1.581.000 đồng; suy giảm khả năng lao động từ 81% - 90%, mức trợ cấp 3.465.000 đồng…

       Trợ cấp ưu đãi hàng năm và trợ cấp ưu đãi một lần

       Trợ cấp ưu đãi hàng năm được quy định như sau: Liệt sĩ không còn người hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp thờ cúng là 500.000 đồng.

       Trợ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng không hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học là 300.000 đồng.

       Về trợ cấp ưu đãi một lần, Nghị định quy định: Trợ cấp một lần khi báo tử liệt sĩ, mức trợ cấp 20 lần mức chuẩn; hỗ trợ chi phí báo tử 1.000.000 đồng.

       Đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến chết trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến được truy tặng, mức trợ cấp 20 lần mức chuẩn…

    Câu 2. Thính giả Vi Quốc Trung trú tại xã Chi Lăng, huyện Tràng Định hỏi: Ông của tôi không đi bộ đội, nhưng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, vậy ông của tôi có được hưởng chế độ ưu đãi trợ cấp một lần không?

    Trả lời:

    Theo Điều 30, Điều 31 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2007 và 2012 quy định như sau:

    "Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh này là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến"

    Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế bao gồm:

    1. Trợ cấp một lần;

    2. Bảo hiểm y tế;

    3. Khi người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí”.

    Nếu Ông của bạn được tặng Huân chương kháng chiến mà chưa được nhận trợ cấp một lần thì đề nghị bạn liên hệ với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Tràng Định để được xem xét, giải quyết.

     

    Nhắn tin: trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Vy Thị Ngọc trú tại số 20, đường Minh Khai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết việc nhà ở của gia đình bà bị hư hỏng do công trình xây dựng liền kề gây ra?

    Trả lời:

     Việc thi công của chủ công trình bên cạnh có dấu hiệu vi phạm quy định về trật tự xây dựng, được quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định 139/2018/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ, cụ thể như sau:

    “Xử phạt đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình vi phạm quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng gây lún, nứt hoặc hư hỏng công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình lân cận (mà các bên không thỏa thuận được việc bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự); gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận nhưng không gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người khác như sau:

    a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ tại nông thôn hoặc công trình xây dựng khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản này;

    b) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị;

    c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng công trình có yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập dự án đầu tư xây dựng”.

    Tại Điều 3 Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ Xây dựng Quy định chi tiết về áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại như sau:

    1. Việc bồi thường thiệt hại do Chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì việc bồi thường thiệt hại được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự.

    2. Trường hợp gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận thì chủ đầu tư phải dừng thi công xây dựng công trình và có biện pháp di dời ngay người và tài sản của công trình lân cận. Chủ đầu tư có trách nhiệm thuê và trả chi phí thuê nhà ở cho bên bị thiệt hại. Nhà được thuê phải đảm bảo các yếu tố về khoảng cách đi lại, diện tích, hạ tầng xã hội để bên bị thiệt hại ổn định cuộc sống. Nếu bên bị thiệt hại tự tìm chỗ ở (tương đương nơi ở bị ảnh hưởng) thì chủ đầu tư có trách nhiệm trả cho bên bị thiệt hại số tiền tương ứng với số tiền thuê nhà và chi phí di chuyển tài sản.

    3. Sau khi biên bản vi phạm hành chính được lập, Chủ đầu tư và bên bị thiệt hại không tự thỏa thuận được về việc bồi thường thiệt hại và một bên có đơn yêu cầu gửi Chủ tịch UBND cấp xã giải quyết thì được thực hiện theo trình tự như sau:

    a) Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức thỏa thuận lần đầu;

    b) Hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày thỏa thuận lần đầu không thành hoặc không tổ chức được thỏa thuận lần đầu do một trong các bên vắng mặt, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức thỏa thuận lần hai;

    c) Tại buổi thỏa thuận lần hai mà một trong các bên vắng mặt không có lý do chính đáng thì Chủ tịch UBND cấp xã quyết định thuê tổ chức tư vấn, có tư cách pháp nhân để xác định mức bồi thường thiệt hại. Chi phí thuê do Chủ đầu tư chi trả. Sau khi xác định mức bồi thường thiệt hại, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu Chủ đầu tư chuyển tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng do UBND cấp xã làm chủ tài khoản. Chủ đầu tư chỉ được tiếp tục thi công xây dựng sau khi đã chuyển đủ số tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng;

    d) Tại buổi thỏa thuận lần hai mà hai bên không thống nhất được mức bồi thường thiệt hại thì hai bên thống nhất thuê một tổ chức tư vấn, có tư cách pháp nhân để xác định mức bồi thường thiệt hại. Trường hợp hai bên không thống nhất về tổ chức tư vấn được thuê hoặc mức bồi thường thiệt hại do tổ chức tư vấn được thuê xác định thì Chủ tịch UBND cấp xã thuê một tổ chức tư vấn xác định mức bồi thường thiệt hại. Chi phí thuê do Chủ đầu tư chi trả. Căn cứ kết quả xác định mức bồi thường thiệt hại, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu Chủ đầu tư chuyển tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng do UBND cấp xã làm chủ tài khoản. Chủ đầu tư chỉ được tiếp tục thi công xây dựng sau khi đã chuyển đủ số tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng;

    đ) Trường hợp một bên không thống nhất với mức bồi thường thiệt hại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án.

    4. Trường hợp Chủ đầu tư không bị xử phạt vi phạm hành chính thì khuyến khích áp dụng quy định tại khoản 3 Điều này để giải quyết việc bồi thường thiệt hại.

    5. Bên vi phạm chỉ được tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận và đã hoàn thành việc bồi thường thiệt hại hoặc đã tuân thủ trình tự giải quyết quy định tại khoản 3 Điều này.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 24 tháng 7 năm 2018

    Câu 1. Ông Mã Văn Thao trú tại xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình hỏi: Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã gồm những thủ tục gì? việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời

    Theo quy định tại Điều 636 Bộ luật Dân sự, việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

    - Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.

    - Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

     Theo Điều 640 Bộ luật Dân sự, người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.

    Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

    Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.

    Câu 2. Ông Hoàng Hà Phong trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Để tiếp nhận một người vào cơ sở trợ giúp xã hội, thì trình tự, thủ tục thực hiện được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó quy định các thủ tục tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội như sau:

    Thủ tục tiếp nhận vào cơ sở đối với đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ (người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi; Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật), thực hiện theo quy định sau đây:

    a) Đối tượng hoặc người giám hộ cần chuẩn bị giấy tờ sau:

    - Đơn của đối tượng hoặc người giám hộ theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 103/2017 ngày 12/9/2017 của Chính phủ;

    - Bản sao giấy khai sinh đối với trẻ em, trường hợp trẻ em bị bỏ rơi phải làm thủ tục đăng ký khai sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch;

    - Xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền đối với trường hợp bị nhiễm HIV gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

    b) Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng, Hội đồng xét duyệt cấp xã có trách nhiệm xét duyệt và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời gian 7 ngày làm việc, trừ những thông tin về HIV của đối tượng;

    c) Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định;

    d) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định tiếp nhận đối tượng vào cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý hoặc có văn bản đề nghị người đứng đầu cơ sở tiếp nhận đối tượng vào cơ sở;

    đ) Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, người đứng đầu cơ sở quyết định tiếp nhận đối tượng vào cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý;

    e) Trường hợp đối tượng không được tiếp nhận vào cơ sở thì người đứng đầu cơ sở phải trả lời ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Câu 3. Thỉnh giả Lý Văn Tư, trú tại thôn Nà Tồng, xã Quan Trung, huyện Bình Gia hỏi: về thủ tục để được cấp lại Bằng tốt nghiệp THPT đã mất được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT (Ban hành quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân) quy định về Nguyên tắc cấp văn bằng, chứng chỉ thì “Bản chính văn bằng, chứng chỉ chỉ cấp một lần, không cấp lại.”

    Như vậy, cần phải khẳng định lại, bạn không thể đề nghị Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo (nơi cấp bằng tốt nghiệp THPT của bạn) cấp lại Bằng tốt nghiệp mới (bạn chính) cho bạn.

    Tuy nhiên, bạn có quyền yêu cầu Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp bản sao từ sổ gốc Bằng tốt nghiệp của bạn, bản sao Bằng tốt nghiệp này của bạn sẽ có thêm chữ “(BẢN SAO)”, “Bản sao văn bằng, chứng chỉ được cấp từ sổ gốc có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch” (Điều 24 Quyết định 33/2007/QĐ-BGDĐT – Giá trị pháp lý của bản sao văn bằng, chứng chỉ được cấp từ sổ gốc).

    Thủ tục cấp bản sao từ sổ gốc văn bằng, chứng chỉ quy định tại Khoản 11 Điều 1 Thông tư 22/2012/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cụ thể như sau:

    Những người có quyền yêu cầu cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc:

    a) Người được cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ;

    b) Người đại diện hợp pháp, người được uỷ quyền hợp pháp của người được cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ;

    c) Cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, người thừa kế của người được cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ trong trường hợp người được cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ đã chết.

    Phương thức yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc:

    – Trực tiếp yêu cầu;

    – Hoặc gửi yêu cầu của mình đến cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc qua bưu điện.

    Lưu ý: Không hạn chế số lượng bản sao yêu cầu được cấp.

     Giấy tờ kèm theo khi yêu cầu cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc:

    – Bản chính hoặc bản sao có chứng thực chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác.

    – Xuất trình giấy tờ chứng minh là người có quyền yêu cầu cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc (Nếu người yêu cầu cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc là Người đại diện hợp pháp, người được uỷ quyền hợp pháp của người được cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ; Cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, người thừa kế của người được cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ trong trường hợp người được cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ đã chết).

    Thời hạn cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc:

    a) Ngay trong ngày tiếp nhận yêu cầu, nếu trực tiếp nhận yêu cầu;

    b) Chậm nhất trong 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu theo dấu ngày đến của bưu điện, nếu yêu cầu được gửi qua đường bưu điện;

    Trường hợp không cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc cho người yêu cầu thì cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc văn bằng, chứng chỉ phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 17 tháng 7 năm 2018

     

     

    Câu 1. Ông Lộc Văn Hòa trú tại xã Văn An, huyện Văn Quan hỏi: việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

     

    Điều 593 Bộ luật Dân sự quy định thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm như sau:

     

    - Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

     

    - Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:

     

    + Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trừ trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

     

    + Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

     

    - Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.

     

    Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:

     

    - Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

     

    + Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

     

    + Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

     

    + Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

     

    + Thiệt hại khác do luật quy định.

     

    - Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

     

    Câu 2. Ông Mai Ngọc Phú trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Do sơ xuất gia đình tôi bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vậy tôi cần phải làm những thủ tục gì để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

     

    Trả lời:

     

    Tại điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ- CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật đất đai quy định về việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất như sau:

     

    “-  Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn"

     

    -  Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.”

     

    Tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính, hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm:

     

    – Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK;

     

    – Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời gian 15 ngày đối với hộ gia đình và cá nhân; giấy tờ chứng minh đã đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương về việc mất Giấy chứng nhận đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; trường hợp mất Giấy chứng nhận do thiên tai, hỏa hoạn phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thiên tai, hỏa hoạn đó.

     

    Đối chiếu với những quy định trên, để được cấp lại sổ đỏ thì ông cần thực hiện những thủ tục sau:

     

    Bước 1: Người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đến UBND cấp xã, phường nơi có đất nộp đơn khai báo về việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cam kết trước pháp luật về việc khai báo của mình. 

     

    Bước 2:  Sau khi nhận đơn khai báo cán bộ địa chính cấp xã phường có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

     

    - Xác định số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của giấy chứng nhận bị mất;

     

    - Chuyển đơn khai báo lên phòng tài nguyên và môi trường thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

     

    - Niêm yết thông báo việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đất.

     

    Hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm:

     

    - Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận (theo mẫu);

     

    - Giấy tờ xác nhận việc mất Giấy chứng nhận của công an cấp xã nơi mất giấy;

     

    - Giấy tờ chứng minh đã đăng tin mất Giấy chứng nhận trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương (trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hoả hoạn) đối với tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Trường hợp hộ gia đình và cá nhân thì chỉ cần có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.

     

    Bước 3: Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ, ông nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai cấp xã, phường nơi ông đang cư trú.

     

    Sau khi nhận được hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét hồ sơ và tiến hành cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông theo luật định.

     

    Nhắn tin: trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn của ông Lương Văn Thập trú tại thôn Bản Ngõa, xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc kiến nghị về việc đội thi công công trường đã lấp đất, gây ngập úng nước ảnh hưởng đến cây cối trong gia đình ông.

     

    Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND huyện Cao Lộc để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

     

    Thứ ba, ngày 10 tháng 7 năm 2018

     

     

    Câu 1. Ông Phương Văn Lân trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Những người nào được quyền yêu cầu bồi thường oan sai do người thi hành công vụ gây ra, nhà nước bồi thường người bị oan sai trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Người bị oan sai được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bồi thường cho những tổn hại về tinh thần và vật chất mà mình phải chịu. Từ ngày 01/07/2018, việc giải quyết bồi thường oan sai được thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Người thiệt hại được định nghĩa là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tinh thần do người thi hành công vụ gây ra.

     

    Điều 5 Luật quy định người thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết, tổ chức thừa kế quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại, người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật… có quyền yêu cầu bồi thường.

     

    Thời hiệu yêu cầu bồi thường là ba năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

     

    Nhà nước bồi thường trong trường hợp sau:

     

    Theo điều 18, nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp:

     

     - Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ.

     

     - Người bị bắt, bị tạm giữ mà có quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

     

    - Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

     

    - Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, bị kết án tử hình, đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

     

    - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù được xác định không phạm tội.

     

    - Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án oan…

     

    Câu 2. Ông Nông Hồng Thắng trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự? Người bị tâm thần đánh người thì có bị xử phạt hay không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 về mất năng lực hành vi dân sự thì: 

     

    1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

     

    Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

     

    2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

     

    Căn cứ theo Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như sau:

     

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Minh Phong trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Các trường hợp nào được cấp lại giấy phép lái xe theo quy định mới của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/4/2017 của Bộ Giao thông vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ quy định cụ thể các trường hợp được cấp lại giấy phép lái xe (GPLX).

     

    Trường hợp thứ nhất là người có GPLX quá thời hạn sử dụng từ 3 tháng đến dưới 1 năm, kể từ ngày hết hạn, phải sát hạch lại lý thuyết để cấp lại GPLX.

     

    Người có GPLX quá thời hạn sử dụng từ 1 năm trở lên, kể từ ngày hết hạn, phải sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để cấp lại GPLX.

     

    Trường hợp thứ hai là người có GPLX bị mất, còn thời hạn sử dụng hoặc quá thời hạn sử dụng dưới 3 tháng, được xét cấp lại GPLX.

     

    Hồ sơ để cấp lại trong trường hợp này bao gồm: Đơn đề nghị cấp lại GPLX; Hồ sơ gốc phù hợp với GPLX (nếu có); giấy khám sức khỏe của người lái xe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp, trừ trường hợp cấp lại GPLX không thời hạn các hạng A1, A2, A3; Bản sao giấy chứng minh nhân dân (CMND) hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn có ghi số CMND hoặc thẻ căn cước công dân (đối với người VN) hoặc hộ chiếu còn thời hạn (đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài).

     

    Trường hợp thứ 3 là người có GPLX bị mất, quá thời hạn sử dụng từ 3 tháng trở lên, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, không thuộc trường hợp đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý. Sau 2 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, phải dự sát hạch lại các nội dung: quá hạn sử dụng từ 3 tháng đến dưới 1 năm, phải dự sát hạch lại lý thuyết; Quá hạn sử dụng từ 1 năm trở lên, phải sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 03 tháng 7 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Mai Văn Thi, trú tại xã Yên Phúc, huyện Văn Quan hỏi: Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện như thế nào giữa cha, mẹ đối với con; giữa anh, chị em với nhau và giữa ông bà nội, ngoại; cô, dì, chú bác đối với cháu theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:

     

    Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng, cụ thể như sau:

     

    - Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con (Điều 110):

     

    Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

     

    - Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ (Điều 111):

     

    Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

     

    - Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em (Điều 112):

     

    Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

     

    - Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu (Điều 113):

     

    + Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật hôn nhân và gia đình.

     

    + Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

     

    - Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột (Điều 114):

     

    + Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

     

    + Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

     

    Câu 2. Ông Bế Văn Hiếu trú tại xã Yến Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: Tôi có cho hàng xóm mượn xe máy, nhưng người này làm mất và không bồi thường cho tôi, trường hợp này phải xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Đối chiếu theo quy định của Điều 496 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người hàng xóm đó đã vi phạm nghĩa vụ mượn tài sản do đó họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông cụ thể:

     

    "Điều 496. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản

     

    1. Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.

     

    2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.

     

    3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.

     

    4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.

     

    5. Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả."

     

    Do đó, trong trường hợp nếu như người hàng xóm đó không chịu trách nhiệm đối với hành vi làm mất xe của ông thì ông nên xem xét, làm đơn yêu cầu cơ quan Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ông đang cư trú xem xét, giải quyết.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Thanh Huy trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp được quy định tại Điều 324 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

     

    - Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các quyền sau đây:

     

    + Được khai thác công dụng tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận;

     

    + Được trả thù lao và chi phí bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

     

    - Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các nghĩa vụ sau đây:

     

    + Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp; nếu làm mất tài sản thế chấp, làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp thì phải bồi thường;

     

    + Không được tiếp tục khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu việc tiếp tục khai thác có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp;

     

    + Giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư khiếu nại của những hộ dân sinh sống tại thôn Khòn Pịt, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn về việc tranh chấp đất xung quanh bờ mương dẫn đến việc giao thông đi lại gặp khó khăn, ảnh hưởng đến việc tưới tiêu trong sinh hoạt.

     

    Đơn khiếu nại của những hộ dân sinh sống tại thôn Khòn Pịt, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn đài chúng tôi đã chuyển đến UBND thành phố để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 26 tháng 6 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Hà Văn Kiên trú tại xã Mai Sao, huyện Chi Lăng hỏi: Xin hãy cho biết việc xử phạt hành khách đi xe vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 32 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì việc Xử phạt hành khách đi xe vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông được quy định như sau:

     

    * Phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    - Không chấp hành hướng dẫn của lái xe, nhân viên phục vụ trên xe về các quy định bảo đảm trật tự, an toàn giao thông;

     

    - Gây mất trật tự trên xe.

     

    * Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

    - Mang hóa chất độc hại, chất dễ cháy, nổ, hàng nguy hiểm hoặc hàng cấm lưu thông trên xe khách;

     

    - Đe dọa, xâm phạm sức khỏe hoặc xâm phạm tài sản của người khác đi trên xe;

     

    - Đu, bám vào thành xe; đứng, ngồi, nằm trên mui xe, nóc xe, trong khoang chở hành lý; tự ý mở cửa xe hoặc có hành vi khác không bảo đảm an toàn khi xe đang chạy.

     

    Ngoài việc bị phạt tiền, người thực hiện hành vi mang hóa chất độc hại, chất dễ cháy, nổ, hàng nguy hiểm hoặc hàng cấm lưu thông trên xe khách còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu hóa chất độc hại, chất dễ cháy, nổ, hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông mang theo trên xe chở khách.

     

    Câu 2. Ông Lăng Ngọc Chung trú tại thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập hỏi: việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Tại Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu như sau:

     

    1. Tài sản vô chủ là tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó.

     

    Người đã phát hiện, người đang quản lý tài sản vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác; nếu tài sản là bất động sản thì thuộc về Nhà nước.

     

    2. Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

     

    Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp.

     

    Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.

     

    Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là động sản thì quyền sở hữu đối với động sản đó thuộc về người phát hiện tài sản.

     

    Sau 05 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là bất động sản thì bất động sản đó thuộc về Nhà nước; người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

     

    Câu 3. Ông Triệu Văn Sâm trú tại xã Vân An, huyện Văn Quan hỏi: Xin hãy cho biết hành vi chở người trên thùng xe trái quy định; để người nằm, ngồi trên mui xe, đu bám bên ngoài xe khi xe đang chạy theo quy định của pháp luật sẽ bị xử phạt bao nhiêu tiền?

     

    Trả lời:

     

    Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng, cụ thể:

     

    -  Điều khiển xe (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 10% đến 30% (trừ xe xi téc chở chất lỏng) và trên 20% đến 30% đối với xe xi téc chở chất lỏng;

     

    - Chở hàng trên nóc thùng xe; chở hàng vượt quá bề rộng thùng xe; chở hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe trên 10% chiều dài xe;

     

    - Chở người trên thùng xe trái quy định; để người nằm, ngồi trên mui xe, đu bám bên ngoài xe khi xe đang chạy;

     

    - Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không có hoặc không mang theo Giấy vận tải theo quy định, trừ xe taxi tải.

     

    Như vậy, theo quy định trên hành vi chở người trên thùng xe trái quy định; để người nằm, ngồi trên mui xe, đu bám bên ngoài xe khi xe đang chạy theo quy định của pháp luật sẽ bị xử phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 19 tháng 6 năm 2018

    Câu 1. Ông Lê Văn Chiến, trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình hỏi:  Người chưa đủ 18 tuổi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ sẽ bị xử lý như thế nào, Nếu bị phạt tiền mà không có tiền nộp phạt thì bố mẹ có phải nộp phạt thay không?

    Trả lời:

    1. Đối tượng bị xử phạt

    Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 quy định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.

    Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền. Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;

                2. Mức xử phạt

     Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được thực hiện theo quy định của Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 05 năm 2016 đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy  đối với một số hành vị cụ thể như sau:

    - Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;

     - Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với vi phạm sau đây: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h; Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với vi phạm sau đây: Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép; Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;  Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm hành vi: Điều khiển xe thành nhóm từ 2 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

    - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

    -Phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng người điều khiển, người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ; chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách (trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật).

    Câu 2. Ông Lục Văn Hiếu trú tại xã Vân Mộng, huyện Văn Quan hỏi: Những đối tượng nào được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, những rủi ro nào trong sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ bảo hiểm theo quy định của nhà nước?

    Trả lời:

     Theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, ngày 12/4/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm nông nghiệp và chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp.

    Theo đó, những đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp bao gồm:

        - Cây trồng: Lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau.

        - Vật nuôi: Trâu, bò, lợn, gia cầm.

       - Nuôi trồng thủy sản: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra.

        Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 90% phí bảo hiểm nông nghiệp. Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

        Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường sẽ được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

        Những rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ gồm:

        - Rủi ro thiên tai: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần. Thiên tai phải được công bố hoặc xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

        - Rủi ro dịch bệnh gồm:

       + Dịch bệnh động vật: Dịch bệnh động vật trên cạn (các bệnh truyền nhiễm của động vật trên cạn theo danh mục bệnh động vật phải công bố dịch (bao gồm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm giữa người và động vật) do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật thú y); Dịch bệnh động vật thủy sản (các bệnh của động vật thủy sản theo danh mục bệnh phải công bố dịch do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật thú y);

       + Dịch hại thực vật: Sinh vật gây hại thực vật có nguy cơ lây lan nhanh trên diện rộng, gây hại nghiêm trọng đối với thực vật theo quy định của pháp luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

    Nhắn tin: trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Bà Hoàng Thị Thiên trú tại thôn Bản Bảm, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: về chế độ người có công với cách mạng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chi-a, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

    Đề nghị bà liên hệ trực tiếp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Cao Lộc để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

                2. Ông Đàm Văn Cường trú tại thôn Nà Lốc, xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia thắc mắc về việc không được sử dụng mạch nước ngầm để phục vụ trong sản xuất nông nghiệp.

                Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

                3. Bạn Nông Thị Kim Chi trú tại xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi về chế độ chính sách đối với gia đình có hoàn cảnh đặt biệt khó khăn.

                Đơn của bạn chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 12 tháng 6 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lục Văn Hòa trú tại xã Tân Hương, huyện Bắc Sơn hỏi: việc chuyển đổi đất trông lúa sang đất trồng cây lâu năm cần làm những thủ tục gì?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định về việc chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như sau:

     

    “Điều 57. Chuyển mục đích sử dụng đất

     

    1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối”.

     

    Cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp của ông là: Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc UBND cấp huyện (căn cứ điểm a khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013)

     

    Về hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất:

     

    Theo Điều 6 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT, Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất:

     

    Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ bao gồm:

     

    – Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này;

     

    – Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

     

    Căn cứ Điều 69 nghị định 43/2014/NĐ-CP, của Chính phủ quy định về trình tự thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất như sau:

     

    – Bước 1: Người sử dụng đất nộp đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cơ quan tài nguyên và môi trường.

     

    – Bước 2: Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm:

     

    + Thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất;

    + Hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

     

    + Trình UBND có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.

     

    – Bước 3. Người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

     

    Như vậy, ông có thể nộp hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc UBND cấp huyện, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường sẽ hướng dẫn ông cụ thể về hồ sơ và nghĩa vụ tài chính.

     

    Câu 2: Ông Nguyễn Minh Quân, trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng?

     

    Trả lời:

     

    Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

     

              1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm: Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng được chia trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng ( đồ dùng, đồ trang sức, tư trang cá nhân..) và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

     

              Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân mà đã được thỏa thuận là tài sản riêng.

     

              2. Chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ, chồng

     

              - Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

     

              - Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

     

              Nghĩa vụ riêng về tài sản bao gồm: Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng khi quản lý tài sản riêng của bên kia; Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình; Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

     

              - Tài sản riêng của vợ, chồng khi nhập vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải đăng ký hoặc công chứng, chứng thực, thì phải thực hiện theo quy định đó. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

     

              3. Giải quyết tranh chấp tài sản vợ, chồng

     

    Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng ( bao gồm cả các khoản nợ) được pháp luật khuyến khích các bên tự thỏa thuận, hòa giải. Nếu không thỏa thuận được thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Việc giải quyết dựa trên nguyên tắc tài sản chung được chia đôi, có xem xét đến công sức đóng góp của mỗi bên, quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ, trẻ em…; tài sản riêng và đồ dùng, tư trang cá nhân của ai thuộc sở hữu của người đó; bên nào cho rằng tài sản đó là tài sản riêng thì phải có chứng cứ để chứng minh, nếu không chứng minh được thì tài sản đó là tài sản chung.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 05 tháng 6 năm 2018

     

    Câu 1. Bà Hoàng Thị Ngoan, trú tại xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi: quy định của pháp luật về việc thoát nước thải sinh hoạt và quyền sử dụng lối đi qua đất thuộc quyền sử dụng của người khác?

     

    Trả lời:

     

    1. Về việc thoát nước thải trong sinh hoạt, Điều 172 và 251 Bộ Luật dân sự quy định như sau:

     

    - Nghĩa vụ bảo vệ môi trường

     

    Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.

     

    - Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải

     

    Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinh hoạt công cộng.

     

    2. Về sử dụng lối đi qua đất thuộc quyền sử dụng của người khác, Điều 254 Bộ luật dân sự quy đinh:

     

    - Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

     

    Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

     

    Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

     

    - Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

     

    - Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.

     

              Theo các quy định trên, nếu các bên có tranh chấp thì có thể hòa giải hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết; nếu vi cố ý vi phạm hoặc gây thiệt hại cho người khác có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Văn Hiếu trú tại xã Vân Mộng, huyện Văn Quan hỏi: Xin hỏi việc công khai quyết định giải quyết khiếu nại được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Khoản 2 Điều 41 Luật Khiếu nại năm 2012 quy định người giải quyết khiếu nại lần hai lựa chọn một hoặc một số hình thức sau đây để công khai quyết định giải quyết khiếu nại:

     

    - Công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị khiếu nại công tác;

     

    - Niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại;

     

    - Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

     

     Điều 12 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP quy định cụ thể việc thực hiện công khai quyết định giải quyết khiếu nại như sau:

     

    - Trong thời hạn 15 ngày, kể từ khi có quyết định giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm công khai quyết định giải quyết khiếu nại theo một trong các hình thức quy định tại Khoản 2 Điều 41 của Luật khiếu nại.

     

    - Trường hợp công bố tại cuộc họp thì thành phần tham dự cuộc họp phải bao gồm: Người ra quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại hoặc người đại diện, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

     

    Trước khi tiến hành cuộc họp công khai/người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải có văn bản thông báo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết. Thời gian thông báo phải trước 3 ngày làm việc.

     

    - Việc thông báo quyết định giải quyết khiếu nại trên các phương tiện thông tin đại chúng được thức hiện trên báo nói, báo hình, báo viết, báo điện tử. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm lựa chọn một trong các phương tiện thông tin đại chúng để thực hiện việc thông báo. Trường hợp cơ quan của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử, phải công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử.

     

    Số lần thông báo trên báo nói ít nhất 02 lần phát sóng; trên báo hình ít nhất 02 lần phát sóng; trên báo viết ít nhất 02 số phát hành; thời gian đăng tải trên báo điện tử, trên cổng thông tin điện tử hoặc trên trang thông tin điện tử ít nhất là 15 ngày, kể từ ngày đăng thông báo.

     

    - Trường hợp niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại, thời gian niêm yết quyết định giải quyết khiếu nại ít nhất là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết.

     

     Câu 3. Ông Nguyễn Minh Tú trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong trường hợp nhiều người cùng tố cáo thì việc cử đại diện để thực hiện tố cáo được quy định như thế nào?

     

    Trả lời :

     

    Theo Điều 4, Điều 5 Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo năm 2011 (sau đây gọi là Nghị định 76/2012/NĐ-CP) thì trong trường hợp nhiều người cùng tố cáo thì việc cử đại diện để thực hiện tố cáo như sau:

     

    - Khi nhiều người cùng tố cáo thì phải cử người đại diện từ trong số những người tố cáo để trình bày nội dung tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

    - Về số lượng của người đại diện:

     

    + Trường hợp có từ 05 đến 10 người tố cáo thì cử 01 hoặc 02 người đại diện;

     

    + Trường hợp có từ 10 người trở lên thì có thể cử thêm người đại diện, nhưng tối đa không quá 05 người.

     

    - Văn bản cử người đại diện:

     

    Việc cử người đại diện phải được thể hiện bằng văn bản. Nội dung văn bản cử người đại diện như sau:

     

    + Ngày, tháng, năm;

     

    + Họ tên và địa chỉ của người đại diện;

     

    + Nội dung được đại diện;

     

    + Chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo;

     

    + Các nội dung khác có liên quan (nếu có).

     

    - Trách nhiệm của người được đại diện: Người đại diện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc đại diện và văn bản cử đại diện.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Lưu Văn Nhớ trú tại thôn Bản Đoóc, xã Hiệp Hạ, huyện Lộc Bình trình bày về việc chủ Đại lý bán xe máy Sơn Hà, thị trấn Lộc Bình bán cho 01 chiếc xe moto từ tháng 01/2017 nhưng không có giấy xuất xưởng xe và không được đăng ký xe để tham gia giao thông.

     

    Đề nghị ông liên hệ với Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: 413b, đường Bà Triệu, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn để được hướng dẫn giải quyết.

     

    2. Ông Hoàng Văn Giáp trú tại số nhà 9, ngõ 23, đường Bà Triệu, Phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi về việc giải quyết tranh chấp đất với ông Nguyễn Minh Tuấn.

     

    Về vụ việc của ông, ông có quyền làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

    3. Ông Lộc Văn Linh trú tại xã Lộc Yên, huyện Cao Lộc kiến nghị về việc bị người khác lấn chiếm đất, không được UBND xã giải quyết.

     

    Đề nghị ông liên hệ với Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Số 413b, đường Bà Triệu, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn để được hướng dẫn giải quyết.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 29 tháng 5 năm 2018

    Câu 1. Ông Long Văn Trà trú tại xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi: việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì việc xác minh điều kiện thi hành án được quy định cụ thể như sau:

    Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.

    Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.

    Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 6 tháng một lần, chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 2 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 1 năm một lần.

    Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

    Cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.

    Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

    Trường hợp chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.

    Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án:

    Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

    Câu 2. Ông Vương Hoàng Nam trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Người được tuyển chọn vào Công an xã thì phải đáp ứng những tiêu chuẩn nào?

    Trả lời:

     Theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 7/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã. Thì tiêu chuẩn tuyển chọn vào công an xã được quy định cụ thể như sau:

    1. Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ các tiêu chuẩn dưới đây thì được xem xét, tuyển chọn vào Công an xã nơi mình cư trú:

    a) Lý lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt, không có tiền án, tiền sự; bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trưởng Công an xã phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam;

    b) Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ Công an xã (được cơ sở y tế cấp huyện trở lên chứng nhận);

    c) Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã phải là người đã học xong chương trình trung học phổ thông trở lên (có bằng tốt nghiệp hoặc có giấy chứng nhận đã học hết chương trình trung học phổ thông do cơ quan có thẩm quyền cấp); Công an viên phải là người đã tốt nghiệp từ trung học cơ sở trở lên;

    Đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa không có đối tượng tuyển chọn có đủ tiêu chuẩn học vấn theo quy định tại điểm này thì trình độ học vấn của Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên có thể thấp hơn nhưng cũng phải là người đã học xong chương trình tiểu học trở lên;

    d) Có khả năng thực hiện nhiệm vụ và có đơn tự nguyện tham gia Công an xã.

    2. Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã phải có quy hoạch, kế hoạch tuyển chọn, bố trí, sử dụng Công an xã, bảo đảm ổn định, lâu dài, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn cơ sở; ưu tiên tuyển chọn chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân đã hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương tham gia lực lượng Công an xã.

    Việc tuyển chọn người tham gia Công an xã phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, theo đúng tiêu chuẩn quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Bộ Công an.

    Trưởng Công an cấp huyện, Trưởng Công an xã có trách nhiệm tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc quy hoạch, tuyển chọn, bố trí, sử dụng Công an xã.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Ông Tô Văn Biên trú tại thôn Nà Mon, xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc hỏi về việc bị hủy hoại tài sản từ năm 2013 đến nay chưa được giải quyết.

    Đề nghị ông liên hệ trực tiếp với Công an huyện Cao Lộc để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Bà Bế Thị Phân thắc mắc về việc không được sử dụng vòi nước để dẫn nước xuống ruộng của gia đình.

    Trong đơn của bà đã gửi đúng đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết là UBND xã Thanh Long, UBND xã Thanh Long sẽ có trách nhiệm xem xét giải quyết.

    3. Đơn của Công ty TNHH vận tải ô tô Hợp nhất đề nghị giải quyết hồ sơ cho thuê đất làm bãi đỗ xe của công ty

    Trong đơn của Công ty đã được gửi đến đúng các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết về hồ sơ xin thuê đất để công ty có mặt bằng đầu tư phát triển dinh doanh.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 22 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Long Văn Hậu trú tại xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp gồm những loại giấy tờ gì? trình tự thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của pháp luật, cá nhân khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì hồ sơ bao gồm những giấy tờ sau:

     

    - Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Mẫu số 03, 04/TT-LLTP được ban hành kèm theo Thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp).

     

    - Bản chụp giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu, sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú (phải xuất trình bản chính để đối chiếu). Trường hợp không có bản chính để đối chiếu thì nộp bản sao có chứng thực theo quy định của pháp luật.

     

    - Văn bản ủy quyền trong trường hợp ủy quyền cho người khác làm thủ tục (trường hợp người được ủy quyền là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người ủy quyền thì không cần văn bản ủy quyền). Văn bản ủy quyền phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Đối với người ủy quyền là người nước ngoài đã rời Việt Nam thì phải có văn bản ủy quyền hợp pháp theo quy định của pháp luật nước mà người đó là công dân hoặc thường trú và phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và dịch ra tiếng Việt.

     

    Về lệ phí: 200.000 đồng/Phiếu

    Riêng đối với học sinh, sinh viên, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ: 100.000đ/1 lần/người.

     

    Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp đề nghị cấp hơn 2 Phiếu trong một lần yêu cầu, thì kể từ phiếu thứ 3 trở đi cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp thu thêm 3.000 đồng/Phiếu.

     

    Miễn lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với người thuộc hộ nghèo; người cư trú tại xã đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

     

    Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm lệ phí phải xuất trình các giấy tờ để chứng minh.

     

    Về trình tự thực hiện:

     

    Công dân Việt Nam nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi người đó tạm trú.

     

    Trường hợp cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh. Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thì nộp tại Sở Tư pháp nơi người đó cư trú.

     

    Sở Tư pháp tiến hành giải quyết và cấp phiếu lý lịch tư pháp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ.

     

    Trường hợp người được yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn không quá 15 ngày.

     

    Câu 2. Ông Triệu Văn San trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: Luật công chứng quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Điều 7 Luật công chứng quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng như sau:

     

    1. Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;

     

    2. Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;

     

    3. Công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;

     

    4. Từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;

     

    5. Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức có liên quan;

     

    6. Ép buộc người khác sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng;

     

    7. Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho tổ chức mình trong việc hành nghề công chứng;

     

    8. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức mình;

     

    9. Tổ chức hành nghề công chứng mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký;

     

    10. Công chứng viên đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác;

     

    11. Công chứng viên tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý; tham gia chia lợi nhuận trong hợp đồng, giao dịch mà mình nhận công chứng;

     

    12. Vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

     Câu 3. Ông Lục Văn Đô trú tại xã Quan Bản, huyện Lộc Bình hỏi: Việc bầu, công nhận hòa giải viên được Luật hòa giải ở cơ sở quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Điều 8 Luật hòa giải ở cơ sở quy định về việc bầu, công nhận hòa giải viên như sau:

     

    Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở là người: Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật. Có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.

     

    Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức sau đây:

     

    - Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình;

     

    - Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

     

    Kết quả bầu hòa giải viên:

     

    - Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý;

     

    - Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp;

     

    - Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng;

     

    - Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

     

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhân được đơn thư của các hộ dân thôn Khòn Toòng, thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình phản ánh về việc xây dựng, quản lý hệ thống thủy nông trên địa bàn các hộ dân sinh sống.

     

    Chúng tôi đã chuyển đơn của các hộ dân đến UBND huyện Lộc Bình để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 15 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lương Trung Thành trú tại xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng hỏi: Các loại xe ô tô nào không phải nộp phí sử dụng đường bộ theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 293/2016/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2016 quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, miễn, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ. Theo đó, đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký lưu hành (có giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe), bao gồm: Xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự.

     

    Thông tư số 293/2016/TT-BTC quy định có 7 loại xe vào diện không phải nộp phí sử dụng đường bộ, bao gồm:

     

     Xe bị hủy hoại do tai nạn hoặc thiên tai; xe bị tịch thu hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; xe bị tai nạn đến mức không thể tiếp tục lưu hành phải sửa chữa từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe kinh doanh vận tải thuộc các hợp tác xã, doanh nghiệp kinh doanh vận tải tạm dừng lưu hành liên tục từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe ô tô không tham gia giao thông, không sử dụng đường thuộc hệ thống giao thông đường bộ, chỉ sử dụng trong phạm vi đất thuộc quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã như: nhà ga, cảng, khu khai thác khoáng sản, nông, lâm nghiệp và xe ô tô dùng để sát hạch của tổ chức đào tạo dạy nghề lái xe.

     

    Xe ô tô đăng ký, đăng kiểm tại Việt Nam nhưng hoạt động tại nước ngoài liên tục từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe ô tô bị mất trộm trong thời gian từ 30 ngày trở lên.

     

    Thông tư cũng hướng dẫn rõ về các hồ sơ cần thiết để các trường hợp trên không chịu phí đường bộ.

     

    Trường hợp xe ô tô đó đã được nộp phí sử dụng đường bộ, chủ phương tiện sẽ được trả lại số phí đã nộp (áp dụng cho xe ô tô bị hủy hoại; bị tịch thu hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe không tiếp tục lưu hành) hoặc được trừ vào số phí phải nộp của kỳ sau (áp dụng đối với xe ô tô vẫn tiếp tục được lưu hành) tương ứng với thời gian không sử dụng đường bộ.

     

    Câu 2. Ông Trần Văn Tuấn trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Mức xử phạt lỗi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển xe máy được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ 2008 về các hành vi bị nghiêm cấm khi tham gia giao thông đường bộ có quy định:

     

    “8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

     

    Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.”

     

    Theo đó, khi người điều khiển xe máy tham gia giao thông có nồng độ cồn trên 50 miligam/100  mililit máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở là vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ 2008. Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 6, khoản 8, khoản 12 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ như sau:

     

    - Người điều khiển xe máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng, 

     

    - Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng, bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng.

     

    Như vậy, khi người điều khiển xe máy tham gia giao thông có nồng độ cồn lớn hơn 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng, nếu không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức phạt là 3.500.000 đồng và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe là 04 tháng.

     

    Câu 3. Ông Luân Văn Hà trú tại xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình hỏi: Thẻ căn cước công dân cấp cho người có độ tuổi từ bao nhiêu? Giá trị của thẻ căn cước công dân và thời hạn đổi thẻ căn cước công dân được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 19, Luật Căn cước công dân. Người được cấp thẻ Căn cước công dân và số thẻ Căn cước công dân được quy định như sau:

     

    - Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân.

     

    - Số thẻ Căn cước công dân là số định danh cá nhân.

     

    Về giá trị sử dụng của thẻ Căn cước công dân

     

    - Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

     

    - Thẻ Căn cước công dân được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

     

    - Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin quy định tại Luật Căn cước công dân; được sử dụng số định danh cá nhân trên thẻ Căn cước công dân để kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

     

    Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin cá nhân.

     

    - Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định của pháp luật.

     

    Độ tuổi đổi thẻ Căn cước công dân

     

    - Thẻ Căn cước công dân phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

     

    - Trường hợp thẻ Căn cước công dân được cấp, đổi, cấp lại trong thời hạn 2 năm trước tuổi quy định thì vẫn có giá trị sử dụng đến tuổi đổi thẻ tiếp theo.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 08 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Phạm Ngọc Nam trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện để được thành lập các cơ sở đạo tạo tôn giáo, tín ngưỡng và nguyên tắc hoạt động được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, bên cạnh đó, Luật đưa ra các điều kiện cụ thể cho việc thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo như sau:

     

    - Có cơ sở vật chất bảo đảm cho việc đào tạo;

     

    - Có địa điểm hợp pháp để đặt cơ sở đào tạo;

     

    - Có chương trình, nội dung đào tạo;

     

    - Có môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam trong chương trình đào tạo; có nhân sự quản lý và giảng dạy đáp ứng yêu cầu đào tạo.

     

    Về hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo Luật quy định:

     

    Chậm nhất là 20 ngày trước khi cơ sở đào tạo tôn giáo bắt đầu hoạt động, người đại diện cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương về hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo kèm theo văn bản thành lập, quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh, danh sách thành viên ban lãnh đạo, báo cáo về nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để bảo đảm hoạt động.

     

     Việc tổ chức đào tạo, tuyển sinh của cơ sở đào tạo tôn giáo thực hiện theo quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh đã thông báo.

     

     Cơ sở đào tạo tôn giáo khi sửa đổi quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương. Văn bản đăng ký nêu rõ lý do, nội dung thay đổi kèm theo quy chế sửa đổi. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đăng ký hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do. Cơ sở đào tạo tôn giáo được hoạt động theo quy chế sửa đổi sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

     

    Cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về kết quả đào tạo của từng khóa học với cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc khóa học. Văn bản thông báo nêu rõ tên cơ sở đào tạo tôn giáo, khóa đào tạo, số học viên tốt nghiệp.

     

    Câu 2. Ông Lục Văn Bang trú tài xã Yến Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: hình thức xử phạt đối với hành vi xuất cảnh trái phép ra nước ngoài được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Hành vi xuất cảnh trái phép bao gồm các biểu hiện như: không có các giấy tờ theo quy định của Nhà nước về xuất nhập cảnh, như không có hộ chiếu, visa hoặc sử dụng hộ chiếu, các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để xuất cảnh...

     

              - Xử lý về hành chính: Khoản 3, Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định;

     

    b) Trốn hoặc tổ chức, giúp đỡ người khác trốn vào các phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh nhằm mục đích vào Việt Nam hoặc ra nước ngoài;

     

    c) Cho người khác sử dụng hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

     

    d) Sử dụng hộ chiếu hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

     

    - Xử lý về hình sự: Điều 347 Bộ Luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) quy định.

     

    Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

    Câu 3. Ông Bế Văn Vang trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm những người nào? Người thực hiện trợ giúp pháp lý có những quyền, nghĩa vụ gì theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:

     

    - Trợ giúp viên pháp lý;

     

    - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

     

    - Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

     

    - Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

     

    Sở Tư pháp công bố danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

     

    Người thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ sau đây

     

    - Thực hiện trợ giúp pháp lý;

     

    - Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật;

     

    - Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp  theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và theo quy định của pháp luật về tố tụng;

     

    - Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

     

    - Bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;

     

    - Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý;

     

    - Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;

     

    - Bồi thường hoặc hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 01 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Phan Trung Thành trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những hành vi nào bị pháp luật nghiêm cấm trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng? việc xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định hiện hành tại Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 thì các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được quy định như sau:

     

    1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    4. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo:

     

    a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường;

     

    b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

     

    c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân;

     

    d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

     

    5. Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi.

     

    Theo quy định tại Điều 64 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 thì việc xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được quy định như sau:

     

    - Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

     

    - Căn cứ quy định của Luật này và Luật xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt cụ thể và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    Câu 2. Ông Vương Văn Hào trú tại Phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hình thức xử phạt đối với hành vi mê tín, dị đoan được pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Những vi phạm về mê tín dị đoan thì tùy theo tính chất mức độ  sẽ bị pháp luật xử phạt vi phạm hành chính hoặc cao hơn là xử lý hình sự. Ngoài ra, đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm còn bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Nếu là đảng viên thì tùy vào mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách đến khai trừ khỏi đảng.

     

    Về xử phạt vi phạm hành chính:

     

    Tại Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ) có quy định các hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt trong tổ chức lễ hội, thực hiện nếp sống văn minh tại khu vực lễ hội như sau:

     

       - Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi đốt vàng mã không đúng nơi quy định tại nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa. 

     

       - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: không thành lập Ban tổ chức lễ hội theo quy định; bán vé, thu tiền tham dự lễ hội; không có nhà vệ sinh hoặc có nhà vệ sinh nhưng không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định trong khu vực lễ hội, di tích. 

     

       - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi: Treo cờ Tổ quốc ở khu vực lễ hội không cao hơn, không trang trọng hơn các cờ hội ); và hành vi Kinh doanh dịch vụ hàng quán, nhà hàng, khách sạn, bến bãi phục vụ người tham gia lễ hội lấn chiếm khuôn viên di tích, cản trở giao thông trong khu vực lễ hội.

     

      - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối hành vi: tổ chức lễ hội theo quy định phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không báo cáo hoặc có báo cáo nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng ý mà vẫn tổ chức. 

     

      - Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi: tổ chức lễ hội theo quy định phải có giấy phép mà không có giấy phép.

     

    Về xử lý hình sự:

     

    Điều 320 Bộ luật hình sự 2015 quy định về “Tội hành nghề mê tín, dị đoan”. Theo đó, người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

     Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: Làm chết người; Thu lợi bất chính 200 triệu đồng trở lên; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

     

    Câu 3. Ông Hoàng Minh Đạo trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: pháp luật quy định như thế nào đối với việc sử dụng ô tô quá niên hạn sử dụng? hình thức xử phạt đối với việc điều khiển ô tô quá niên hạn sử dụng?

     

    Trả lời:

     

    Điều 16 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì người điều khiển xe ôtô (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) đã quá niên hạn sử dụng sẽ bị phạt từ 4.000.000 đến 6.000.000 đồng. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe còn bị tịch thu phương tiện và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 1 tháng đến 3 tháng.

     

    Quy định ôtô hết niên hạn sử dụng:

     

    Theo Điều 5 Nghị định số 95/2009/NĐ-CP quy định niên hạn sử dụng với ôtô chở hàng và ôtô chở người như sau:

     

    - Không quá 25 năm đối với xe ôtô chở hàng.

     

    - Không quá 20 năm đối với xe ôtô chở người.

     

    - Không quá 17 năm đối với xe ôtô chuyển đổi công năng từ các loại xe khác thành xe ô tô chở người trước ngày 1/1/2002.

     

    Tuy nhiên, các quy định trên không áp dụng với các trường hợp sau: ôtô của quân đội, công an phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xe ôtô chở người đến 9 chỗ ngồi (kể cả chỗ người lái); xe ôtô chuyên dùng (xe ôtô có kết cấu và trang bị để thực hiện một chức năng, công dụng đặc biệt), rơ moóc, sơ mi rơ moóc.

     

    Thời điểm tính niên hạn sử dụng:

     

    - Niên hạn sử dụng của xe ôtô được tính bắt đầu từ năm sản xuất xe.

     

    - Một số trường hợp đặc biệt khi được Thủ tướng cho phép, niên hạn sử dụng được tính từ năm đăng ký xe ôtô lần đầu.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Nguyễn Xuân Thêm trú tại xóm Ba, thôn Đồn Vang, xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi về việc bị bắt giam oan sai.

     

    Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

     

    2. Ông Hứa Văn Bường trú tại xóm Nà Vó, xã Hồ Sơn, huyện Hữu Lũng khiếu nại về việc chưa được bồi thường thiệt hại về tài sản do ảnh hưởng bởi dự án đường cao tốc.

     

    Chúng tôi đã chuyển đơn của ông đến Ban đền bù giải phóng mặt bằng huyện Hữu Lũng để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 24 tháng 4 năm 2018

     

    Thưa quý vị và các bạn!

     

    Trong chuyên mục tuần này chúng tôi xin được giải đáp những vướng mắc về pháp luật qua đơn thư chúng tôi đã tổng hợp được trong tuần qua như sau:

    Câu 1. Ông Trần Hoàng Tú trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cảnh sát giao thông được phép dừng xe của người tham gia giao thông trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Thông tư 01/2016/TT-BCA của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông. Theo đó, cảnh sát giao thông chỉ được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau:

     

    1. Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

     

    2. Thực hiện kế hoạch, mệnh lệnh tổng kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên.

     

    3. Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên.

     

    4. Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp.

     

    5. Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông.

     

    Đồng thời việc dừng phương tiện phải đảm bảo: An toàn, đúng quy định pháp luật; không làm cản trở đến hoạt động giao thông; khi đã dừng phương tiện phải thực hiện việc kiểm soát, nếu phát hiện vi phạm phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Lý Văn Ba trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Khi đặt biển hiệu quảng cáo ngoài trời gắn cố định vào nhà ở có phải xin phép không? pháp luật quy định như thế nào về việc cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo?

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Quảng cáo 2012 quy định về cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo như sau:

     

    2. Việc xây dựng màn hình chuyên quảng cáo ngoài trời, biển hiệu, bảng quảng cáo độc lập hoặc gắn vào công trình xây dựng có sẵn phải xin giấy phép xây dựng của cơ quan có thẩm quyền về xây dựng của địa phương trong những trường hợp sau đây:

     

    a) Xây dựng màn hình chuyên quảng cáo ngoài trời có diện tích một mặt từ 20 mét vuông (m2) trở lên;

     

    b) Xây dựng biển hiệu, bảng quảng cáo có diện tích một mặt trên 20 mét vuông (m2) kết cấu khung kim loại hoặc vật liệu xây dựng tương tự gắn vào công trình xây dựng có sẵn;

     

    c) Bảng quảng cáo đứng độc lập có diện tích một mặt từ 40 mét vuông (m­2) trở lên.

     

    Nếu biển quảng cáo của nhà ông đã có kích thước lớn hơn 20m2 và kết cấu bằng khung kim loại hoặc vật liệu xây dựng tương tự gắn vào công trình xây dựng có sẵn thì ông cần chuẩn bị hồ sơ cấp giấy phép cho biển quảng cáo.

     

     Theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật Quảng cáo 2012 gồm có:

     

    - Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo;

     

    - Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo;

     

    - Bản sao có chứng thực một trong những loại giấy tờ sau: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; văn bản thoả thuận hoặc hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với công trình quảng cáo đứng độc lập; hợp đồng thuê địa điểm giữa chủ đầu tư xây dựng công trình quảng cáo với chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng hợp pháp đối với công trình quảng cáo gắn với công trình xây dựng có sẵn hoặc văn bản thông báo kết quả trúng thầu đối với trường hợp địa điểm quảng cáo trong quy hoạch phải tổ chức đấu thầu;

     

    - Trường hợp công trình quảng cáo gắn với công trình đã có trước phải có văn bản thoả thuận hoặc hợp đồng của chủ đầu tư xây dựng công trình quảng cáo với chủ sở hữu hoặc người được giao quyền quản lý công trình đã có trước;

     

    - Bản vẽ thiết kế của tổ chức thiết kế hợp pháp thể hiện được vị trí mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng điển hình; mặt bằng móng của công trình có chữ ký và đóng dấu của chủ đầu tư xây dựng công trình quảng cáo. Trường hợp công trình quảng cáo gắn vào công trình đã có trước thì bản vẽ thiết kế phải thể hiện được giải pháp liên kết công trình quảng cáo vào công trình đã có trước.

     

    Câu 3. Ông Lương Văn trực trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi  xây nhà ở được 1 năm thì nhà hàng xóm liền kề bị lún, nứt. Theo quy định của pháp luật thì tôi có bị xử phạt và bồi thường không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định 121/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm về thi công xây dựng:

     

     Xử phạt hành vi thi công xây dựng công trình vi phạm các quy định về xây dựng gây lún, nứt công trình lân cận, công trình hạ tầng kỹ thuật như sau:

     

    a) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ nông thôn hoặc công trình xây dựng khác;

     

    b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị;

     

    c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng công trình thuộc trường hợp phải lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình hoặc lập dự án đầu tư xây dựng công trình.”

     

    Có thể thấy, nếu nhà của ông xây lên dẫn tới công trình xây dựng của người hàng xóm đó bị sụt, lún, nứt thì nếu có căn cứ cho rằng tình trạng này do chính việc ông xây nhà gây ra thì cơ quan có thẩm quyền sẽ có thể xử phạt vi phạm hành chính đối với gia đình ông. Việc này sẽ do thanh tra xây dựng hoặc những tổ chức có chuyên môn về việc đánh giá, kiểm tra công trình tiến hành xác định. Nếu lỗi hoàn toàn do gia đình ông thì ngoài bị xử phạt hành chính, ông còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Bà Bế Thị Phân trú tại thôn Còn SLung, xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi về chế độ chính sách đối với thân nhân của người có công với các mạng.

     

    Trong đơn bà trình bày đã gửi đúng nơi nhận là UBND xã Thanh Long. UBND xã sẽ có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo đúng thẩm quyền.

     

    2. Bà Hoàng Thị Ngân trú tại thôn Nà Cốc, xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi về việc tranh chấp lối đi chung trong sinh hoạt thường ngày.

     

    Đề nghị bà liên hệ với UBND xã Khánh Khê để được xem xét, giải quyết theo đúng thẩm quyền.

     

    Tô Thị Huệ – Chuyên viên Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật và Theo dõi thi hành pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 17 tháng 4 năm 2018

     

    Thưa quý vị và các bạn!

     

    Trong chuyên mục tuần này chúng tôi xin được giải đáp những vướng mắc về pháp luật qua đơn thư chúng tôi đã tổng hợp được trong tuần qua như sau:

     

    Câu 1. Ông Chu Văn Đông trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: điều kiện và mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

      Theo quy định tại Luật việc làm số 38/2013/QH13 thì người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

     

       Thứ nhất: Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp:

     

       – Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

     

       – Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng

     

       Thứ hai: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động

     

       Thứ ba: Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định

     

       Thứ tư: Đang trong tình trạng thất nghiệp, không có việc làm sau khi nghỉ việc và nộp hồ sơ xin hưởng bảo hiểm thất nghiệp

     

       Về mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp:

     

       Căn cứ theo khoản 1, Điều 50, Luật Việc làm năm 2013 như sau: thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

     

       Trợ cấp thất nghiệp 1 tháng = 60% x Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

     

    Câu 2. Ông Lương Văn Tuân trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là Hòa giải viên ở khu phố, tôi xin hỏi những trường hợp mâu thuẫn tranh chấp nào trong nhân dân, tổ hòa giải được hòa giải, trường hợp nào không được hòa giải?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 5 Luật hòa giải ở cơ sở quy định như sau:

     

    1. Hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật sau đây:

     

    - Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);

     

    - Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

     

    - Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;

     

    - Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;

    - Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây:

     

    Không bị khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

     

    Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

     

    - Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính;

     

    - Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.

     

    2. Không hòa giải các trường hợp sau đây:

     

    - Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

     

                 - Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;

     

    - Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ các hành vi vi phạm pháp luật hình sự thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà người bị hại đồng ý hòa giải, không yêu cầu khởi tố.

     

    - Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính, trừ các trường hợp đủ điều kiện áp dụng các biện pháp xủa lý hành chính khác thay thế  như nhắc nhở, uản lý tại gia đình theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

     

              - Các mâu thuẫn, tranh chấp về thương mại; tranh chấp về lao động thuộc phạm vi hòa giải của pháp luật về kinh doanh thương mại, pháp luật về lao động.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Thành Nam trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi xảy ra cháy, người dân gọi 114 và được Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy điều xe chữa cháy đến dập tắt đám cháy. Vậy có phải trả chi phí cho việc chữa cháy hay không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Pháp luật hiện hành về Phòng cháy chữa cháy, khi nhận được tin báo cháy trong phạm vi địa bàn bảo vệ, các đơn vị Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy đều phải điều động lực lượng, phương tiện đến đám cháy và tổ chức dập tắt đám cháy. Cá nhân, tổ chức để xảy ra cháy không phải thanh toán bất kỳ khoản chi phí chữa cháy nào cho Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, kể cả các cá nhân, tổ chức có mua hoặc không mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

     

              Tuy nhiên, nếu tổ chức, cá nhân, có vi phạm quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, để xảy ra cháy, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, thì tuỳ theo tính chất của vụ việc, mức độ thiệt hại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự  hoặc xử lý hành chính .

     

    Tô Thị Huệ – Chuyên viên Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật và Theo dõi thi hành pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 10 tháng 4 năm 2018

    Câu 1. Bà Lưu Thị Phương trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi đánh số đề có phải là đánh bạc không, nếu là đánh bạc thì sẽ bị xử lý như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định của pháp luật, hành vi đánh số đề là đánh bạc, là vi phạm pháp luật, tùy theo tình chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý như sau:

    Về hành chính: tại Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định:

    1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

    2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

    a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

    b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

    c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;

    d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

    3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

    b) Che giấu việc đánh bạc trái phép.

    4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:

    a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép;

    b) Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc;

    c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;

    d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.

    5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:

    a) Làm chủ lô, đề;

    b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

    c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;

    d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

    6. Hình thức xử phạt bổ sung: Người vi phạm có thể bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung:

    Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi vi phạm

    7. Người nước ngoài có hành vi vi phạm thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Về hình sự, tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định xử lý như sau:

    Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vị tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Có tính chất chuyên nghiệp;

    b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

    c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

    d) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

    Câu 2. Ông Lục Văn Tư trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Con trai tôi đang trong trường giáo dưỡng, vậy tôi đến thăm có được gặp mặt con và gửi quà cho con của mình không?

    Trả lời:

    Theo Điều 24 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc quy định:

    “1. Học sinh được gặp người thân tại nhà thăm gặp của trường giáo dưỡng, được liên lạc với thân nhân bằng điện thoại và phải chấp hành đúng những quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Bộ Công an về thăm gặp và liên lạc bằng điện thoại.

    2. Người đến thăm học sinh phải xuất trình Chứng minh nhân dân. Trường hợp ngủ lại qua đêm tại trường giáo dưỡng phải được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng...”.

    Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định học sinh được nhận và gửi thư, nhận tiền, quà (trừ rượu, bia, thuốc lá, các chất kích thích, đồ vật và các loại văn hóa phẩm bị cấm).

    "Trường giáo dưỡng có trách nhiệm kiểm tra thư, giám sát nội dung các cuộc nói chuyện điện thoại và các loại quà trước khi trao cho học sinh.

    Riêng tiền hoặc giấy tờ có giá, học sinh phải gửi vào bộ phận lưu ký của trường giáo dưỡng và được sử dụng theo quy định của Bộ Công an”.

    Như vậy, ông có quyền đi thăm con trai của mình và căn cứ vào những quy định trên để có thể lựa chọn quà cho con.

    Tô Thị Huệ – Chuyên viên Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật và Theo dõi thi hành pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 03 tháng 4 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Phạm Ngọc Trung trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện an toàn về phòng cháy, chữa cháy đối với khu dân cư và hộ gia đình được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy quy định điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư như sau:

     

    1. Có quy định, nội quy về phòng cháy và chữa cháy, về sử dụng điện, sử dụng lửa và các chất dễ cháy, nổ; có biển cấm, biển báo, sơ đồ hoặc biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy, thoát nạn phù hợp với đặc điểm của khu dân cư.

    2. Có thiết kế và phải được thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư xây dựng mới.

     

    3. Hệ thống điện bảo đảm tiêu chuẩn an toàn về phòng cháy và chữa cháy.

     

    4. Có hệ thống giao thông, nguồn nước phục vụ chữa cháy, giải pháp chống cháy lan, phương tiện phòng cháy và chữa cháy bảo đảm số lượng và chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy hoặc theo quy định của Bộ Công an.

     

    5. Có phương án chữa cháy và thoát nạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.

     

    6. Có lực lượng dân phòng được huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy và tổ chức thường trực sẵn sàng chữa cháy đáp ứng yêu cầu chữa cháy tại chỗ.

     

    7. Có hồ sơ quản lý, theo dõi hoạt động phòng cháy và chữa cháy theo quy định của Bộ Công an.

     

    Điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với hộ gia đình

     

    1. Nơi đun nấu, nơi thờ cúng, nơi có sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị sinh lửa, sinh nhiệt, hệ thống điện, thiết bị sử dụng điện phải bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy.

     

    2. Tài sản, vật tư, chất cháy phải được bố trí, sắp xếp, bảo quản và sử dụng đúng quy định an toàn về phòng cháy và chữa cháy.

     

    3. Có phương tiện chữa cháy phù hợp với đặc điểm hoạt động và điều kiện của từng hộ gia đình.

     

    Câu 2. Ông Trương Minh Vũ trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: pháp luật quy định như thế nào khi người dân phát hiện ra cháy nổ tại khu vực mình sinh sống? Trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháy được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 22 của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháy như sau:

     

    1. Người phát hiện thấy cháy phải bằng mọi cách báo cháy ngay cho người xung quanh biết, cho một hoặc tất cả các đơn vị sau đây:

     

    a) Đội dân phòng hoặc đội phòng cháy và chữa cháy cơ sở, chuyên ngành tại nơi xảy ra cháy.

     

    b) Đơn vị Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy nơi gần nhất.

     

    c) Chính quyền địa phương sở tại hoặc cơ quan Công an nơi gần nhất.

     

    2. Cơ quan, đơn vị khi nhận được tin báo về vụ cháy xảy ra trong địa bàn được phân công quản lý thì phải nhanh chóng đến tổ chức chữa cháy, đồng thời báo cho các cơ quan, đơn vị cần thiết khác để chi viện chữa cháy; trường hợp cháy xảy ra ngoài địa bàn được phân công quản lý thì sau khi nhận được tin báo cháy phải bằng mọi cách nhanh chóng báo cho các cơ quan, đơn vị quản lý địa bàn nơi xảy cháy biết để xử lý, đồng thời báo cáo cấp trên của mình.

     

    3. Người có mặt tại nơi xảy ra cháy và có sức khỏe phải tìm mọi biện pháp để cứu người, ngăn chặn cháy lan và dập cháy; người tham gia chữa cháy phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy chữa cháy.

     

    4. Lực lượng Công an, Quân đội, Dân quân tự vệ, cơ quan y tế, điện lực, cấp nước, môi trường đô thị, giao thông và các cơ quan khác có liên quan có nhiệm vụ chữa cháy và tham gia chữa cháy theo quy định tại Luật Phòng cháy và chữa cháy.

     

    Câu 3. Ông Nông Văn Hưởng trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi vứt xác động vật ra đường gây ô nhiễm môi trường sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Hành vi vứt xác động vật gây ô nhiễm môi trường là một trong những hành vi bị cấm theo quy định tại khoản 7 Điều 13 Luật Thú y 2015.

     

    Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của Điều 7 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính hành vi vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh chung như sau:

     

    Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi:

     

    - Đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác;

     

    -Tự ý đốt rác, chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu vực dân cư, nơi công cộng;

     

    - Đổ rác, chất thải hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng, trên vỉa hè, lòng đường;

     

    - Để rác, chất thải, xác động vật hoặc bất cứ vật gì khác mà gây ô nhiễm ra nơi công cộng hoặc chỗ có vòi nước, giếng nước ăn, ao, đầm, hồ mà thường ngày nhân dân sử dụng trong sinh hoạt làm mất vệ sinh.

     

    Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi quy định; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu”.

     

    Như vậy, hành vi vứt xác động vật gây ô nhiễm môi trường công cộng sẽ bị xử phạt hành chính từ 1 triệu đến 2 triệu đồng.

     

    Căn cứ vào Điều 67 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, người có thẩm quyền xử phạt hành chính hành vi trên là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Nông Thị Liệu, trú tại thôn Làng Cướm, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng hỏi về quy định tặng Kỷ niệm chương cho hội viên phụ nữ.

     

    Căn cứ theo Quyết định số 1266/QĐ-BCH ngày 19/3/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam quy định về công tác thi đua khen thưởng nhiệm kỳ 2017-2022 thì Cán bộ, hội viên nếu đủ tiêu chuẩn xét tặng Kỷ niệm chương sẽ được BCH Trung ương hội Quyết định tặng bằng hiện vật bao gồm: bản giấy Kỷ niệm chương, Huy hiệu Kỷ niệm chương, kèm tiền thưởng theo quy định.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 27 tháng 3 năm 2018

    Câu 1. Ông  Mã Văn Trường trú tại xã Bắc Xa, huyện Đình Lập hỏi: Tôi có người thân đang bị tạm giam và muốn được vào thăm, vậy pháp luật quy định như thế nào về việc gặp thân nhân của người đang bị tạm giam?

     Trả lời:

    Theo Điều 22 Luật thi hành tạm giữ tạm giam năm 2015 thì việc gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được quy định cụ thể như sau:

    1. Người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng; trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý. Thời gian mỗi lần gặp không quá một giờ.

    2. Người đến thăm gặp phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong trường hợp là thân nhân của họ. Việc thăm gặp phải chịu sự giám sát, theo dõi chặt chẽ của cơ sở giam giữ;

    không làm ảnh hưởng đến các hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền; tuân thủ quy định về thăm gặp; trường hợp cơ quan thụ lý vụ án có yêu cầu thì phối hợp với cơ sở giam giữ để giám sát, theo dõi việc thăm gặp.

    Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định cụ thể thời điểm thăm gặp; thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

    3. Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh; phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa.

    4. Thủ trưởng cơ sở giam giữ không đồng ý cho thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong các trường hợp sau đây và phải nêu rõ lý do:

    a) Thân nhân không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp thân nhân do thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án; người bào chữa không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

    b) Trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ an toàn cơ sở giam giữ hoặc để tổ chức truy bắt người bị tạm giữ, người bị tạm giam bỏ trốn;

    c) Khi có dịch bệnh xảy ra tại khu vực có cơ sở giam giữ;

    d) Khi cấp cứu người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;

    đ) Khi đang lấy lời khai, hỏi cung hoặc người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang tham gia các hoạt động tố tụng khác;

    e) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam không đồng ý thăm gặp; trường hợp này, người thăm gặp được trực tiếp gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc không đồng ý thăm gặp;

    g) Người đến thăm gặp cố ý vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ từ hai lần trở lên;

    h) Người bị tạm giam đang bị kỷ luật, bị cách ly ở buồng kỷ luật do có hành vi chống phá quyết liệt cơ sở giam giữ, tự sát, tự gây thương tích cho bản thân, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác.

    Câu 2. Ông Trần Minh Đức trú tại thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia hỏi: khi phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, cá nhân, tổ chức phải làm gì để đăng ký khai sinh cho trẻ em?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP về đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi thì:

    1. Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo.

    Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Thủ trưởng cơ quan Công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi và tìm cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng.

    Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới tính; đặc điểm nhận dạng, tài sản và đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải có đủ chữ ký của người lập biên bản, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng nếu có, đóng dấu xác nhận của cơ quan lập Biên bản.

    Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập Biên bản, một bản giao cho cá nhân hoặc tổ chức được giao tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

    2. Sau khi lập biên bản, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi.

    3. Hết thời hạn 07 ngày niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ thì Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ em theo quy định.

    Việc xác định họ, chữ đệm, tên của trẻ được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh và căn cứ vào thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.

    Câu 3. Bà Hoàng Thị Hằng trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 thì đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội bao gồm:

    - Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

    - Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;

    - Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;

    - Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;

    - Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

    - Người thuê nhà ở công vụ khi không còn đủ điều kiện được thuê nhà ở hoặc chuyển đi nơi khác hoặc có hành vi vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở mà thuộc diện bị thu hồi thì phải trả lại nhà ở công vụ cho Nhà nước.

    - Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của Ông Dương Trung Lưu, trú tại thôn Làng Đồng xã Nhất Tiến, huyện Bắc Sơn hỏi về thẩm quyền giải vụ việc bị ông Dương Trung Thanh, tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy hoại tài sản( nhổ và chặt phá cây keo).

    Qua đơn trình bày của ông, vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Để được giải quyết, đề nghị ông có đơn tố cáo đến công an huyện Bắc Sơn để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Nếu cần trợ giúp pháp lý, đề nghị ông liên hệ với Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, Địa chỉ: Cạnh phòng tiếp công dân UBND huyện Bình Gia. Số điện thoại (0205) 3836222, để được hướng dẫn

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 20 tháng 3 năm 2018

     

    Câu 1: Ông Mông Văn Nam trú tại xã Tràng Phái, huyện Văn Quan hỏi: tôi có nhu cầu muốn xác nhận mức độ khuyết tật cho bản thân thì cần phải làm những thủ tục gì theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 18 Luật Người khuyết tật muốn xác nhận mức độ khuyết tật cần những thủ tục sau:

     

    - Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú.

     

    - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triệu tập Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, gửi thông báo về thời gian xác định mức độ khuyết tật cho người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

     

    - Hội đồng xác định mức độ khuyết tật tổ chức việc xác định mức độ khuyết tật, lập hồ sơ xác định mức độ khuyết tật và kết luận.

     

    - Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết và thông báo công khai kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Trung Tứ trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: về mức hỗ trợ lương thực cho các đối tượng được bảo trợ xã hội được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    1. Hỗ trợ 15 kg gạo/người đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong dịp Tết Âm lịch.

     

    2. Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03 tháng cho mỗi đợt trợ giúp đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác.

     

    3. Thủ tục hỗ trợ thực hiện theo quy định sau đây:

     

    a) Trưởng thôn, bản, phum, sóc, ấp, cụm, khóm, tổ dân phố (sau đây gọi chung là Trưởng thôn) lập danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình thiếu đói cần hỗ trợ theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định;

     

    b) Trưởng thôn chủ trì họp với đại diện của các tổ chức có liên quan trong thôn để bình xét hộ gia đình, số người trong hộ gia đình thiếu đói gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

     

    c) Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Trưởng thôn, Hội đồng xét duyệt thống nhất danh sách hộ gia đình và số người thiếu đói, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định;

     

    d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định cứu trợ ngay những trường hợp cấp thiết. Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội;

     

    đ) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định hỗ trợ;

     

    e) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định hỗ trợ. Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính;

     

    g) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Trường hợp thiếu nguồn lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính;

     

    h) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;

     

    i) Khi nhận được hỗ trợ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện ngay việc trợ giúp cho đối tượng bảo đảm đúng quy định;

     

    k) Kết thúc mỗi đợt hỗ trợ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả hỗ trợ.

     

    Câu 3. Ông Lục Văn Tăng trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi:  mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo làm ảnh hưởng mỹ quan, trật tự giao thông, xã hội?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 28/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi phát tờ rơi quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, xã hội.

     

     Phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Quảng cáo tại mặt trước, mặt sau và trên nóc của một phương tiện giao thông; quảng cáo vượt quá diện tích mỗi mặt được phép quảng cáo của một phương tiện giao thông theo quy định.

     

    Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với người có sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo trên tờ rơi làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, xã hội.

     

    Phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung trước khi thực hiện quảng cáo theo quy định.

     

    Quảng cáo thuốc không đúng với nội dung được xác nhận tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quảng cáo thuốc đang trong thời hạn xem xét, giải quyết hồ sơ theo quy định; quảng cáo thuốc theo tài liệu thông tin quảng cáo đã được xác nhận hết giá trị; quảng cáo thuốc khi chưa nộp hồ sơ đăng ký quảng cáo thuốc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

     

    Quảng cáo trên các thiết bị điện tử tại nơi công cộng; phát tán hoặc thuyết trình tại hội chợ, hội thảo, hội nghị, triển lãm các sản phẩm in, ghi âm, ghi hình, thiết bị lưu chứa dữ liệu giới thiệu sản phẩm thực phẩm, phụ gia thực phẩm không đúng với hồ sơ công bố hợp quy hoặc công bố phù hợp với quy định về an toàn thực phẩm hoặc hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo.

     

    Quảng cáo thực phẩm dưới hình thức bài viết của bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế có nội dung mô tả thực phẩm có tác dụng điều trị bệnh; sử dụng hình ảnh, uy tín, thư tín của đơn vị, cơ sở y tế, nhân viên y tế, thư cảm ơn của bệnh nhân để quảng cáo thực phẩm.

     

    Quảng cáo thực phẩm chức năng dưới dạng liệt kê công dụng của từng thành phần của sản phẩm.

     

     Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tháo dỡ hoặc xóa bỏ quảng cáo.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 13 tháng 3 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Hoàng Minh trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: người có hành vi để xảy ra cháy nổ sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Đối với hành vi để xảy ra cháy nổ thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi mà người đó có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

     

    - Về xử phạt hành chính: Việc xử phạt vi phạm hành chính về phòng cháy và chữa cháy được quy định cụ thể tại Mục 3 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, tương ứng với mỗi hành vi sẽ có mức phạt khác nhau. Điều 48 Nghị định này quy định như sau:

     

    1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định an toàn về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại dưới 2.000.000 đồng.

     

    2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vô ý vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng.

     

    3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi vô ý vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 10.000.000 đồng đến dưới 25.000.000 đồng.

     

    4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vô ý để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

     

    5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi do thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy, nổ.

     

    6. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vô ý để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại trên 50.000.000 đồng.

     

    - Về xử lý hình sự:

     

    Điều 313 Bộ luật hình sự năm 2015, quy định cụ thể như sau:

     

    1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 2 năm đến 5 năm.

     

    2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 5 năm đến tám năm.

     

    3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 12 năm.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Ngọc Phương, trú xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm và phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

     

                1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

     

                2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp được tha miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn:

     

                - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ các tội: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; cướp tài sản và các tội phạm về ma túy quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự;

     

                - Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội: giết người; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cưỡng dân người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; mua bán người; mua bán người dưới 16 tuổi  các tội phạm về ma túy quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự;

     

                - Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

     

                3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

     

                4. Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp: Khiển trách; Hòa giải tại cộng đồng hoặc Giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

     

                5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

     

                6. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

     

                Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

     

                7. Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

     

    Câu 3. Ông Vy Thanh Chương, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: trường hợp cá nhân tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ tại Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, như sau:

     

    + Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

     

    + Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

     

    + Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

     

    + Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

     

    + Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của ông Vy Văn Soạn trú tại thôn 4 vườn chè, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng hỏi về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa được giải quyết.

     

    Về vấn đề ông hỏi đề nghị ông liên hệ với Ban tiếp công dân huyện Hữu Lũng để được xem xét, giải quyết.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 06 tháng 3 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Mai Văn Lộc trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: điều kiện để được tha tù trước thời hạn? quy định của pháp luật về tha tù trước thời hạn?

    Trả lời:

     

    Tha tù trước thời hạn là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

     

    - Phạm tội lần đầu;

     

    - Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

     

    - Có nơi cư trú rõ ràng;

     

    - Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

     

    - Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

     

    Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

     

    Không tha tù trước thời hạn trong các trường hợp sau: phạm tội về an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội phạm khủng bố; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người do lỗi cố ý; người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các Tội cướp tài sản. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội sản xuất trái phép chất ma túy. Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội chiếm đoạt chất ma túy; Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình.

     

    Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.

     

    Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

     

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Vân, trú tại xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng hỏi:  Những đối tượng nào được xem là thân nhân của người có công với cách mạng được Nhà nước đóng Bảo hiểm y tế?

     

    Trả lời: Thân nhân người có công với cách mạng thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế. Theo quy định tại khoản 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 quy định: “Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định đã nêu ở bên”

     

    Để xác định rõ các đối tượng nào là thân nhân của người có công được hưởng chính sách này, ngày 26/7/2016, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 25/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn xác định đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Thân nhân của người có công với cách mạng bao gồm:

     

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ trên 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng, con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng;

     

    - Con liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ;

     

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

     

    Câu 3. Ông Lộc Minh Vương trú tại xã Tràng Phái, huyện Văn Quan hỏi: Mức cho vay ưu đãi đối với Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là bao nhiêu? Đối tượng nào được vay chương trình này?

     

    Trả lời:

     

    Theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg ngày 03/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Điều 3 Quyết định sổ 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, mức cho vay đối với chương trình này là 6 triệu đồng/công trình/hộ. Như vậy, đối với 1 hộ sẽ được xem xét cho vay tối đa là 12 triệu đồng cho công trình cung cấp nước sạch và công trình xây dựng nhà vệ sinh.

     

    Cũng theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg, đối tượng được vay vốn Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là: “Hộ gia đình định cư hợp pháp tại địa phương thuộc khu vực nông thôn chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh và hộ gia đình sau khi đã trả hết nợ vốn vay, có nhu cầu vay mới để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã sử dụng nhiều năm, bị hư hỏng, xuống cấp, không đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia được UBND cấp xã xác nhận”.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 27 tháng 02 năm 2018

    Câu 1. Bà Lương Thị Hằng trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: việc xử phạt các hành vi vi phạm quy định về thực hiện nếp sống văn minh tại khu vực lễ hội, di tích được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Căn cứ vào Nghị định số 28/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo.

    Theo đó, bổ sung thêm nhiều quy định xử phạt hành vi vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh tại khu vực lễ hội, di tích như sau:

    Theo Điều 2, Nghị định số 28/2017/NĐ-CP quy định: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thắp hương hoặc đốt vàng mã không đúng quy định của Ban tổ chức lễ hội, Ban quản lý di tích; ném, thả tiền xuống giếng, ao hồ; nói tục, xúc phạm tâm linh gây ảnh hưởng đến không khí trang nghiêm; xả rác bừa bãi làm mất vệ sinh môi trường trong khu vực lễ hội, di tích”.

    Theo Khoản 1, Điều 16 quy định về điều kiện tổ chức hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng

    "1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

    a) Không thành lập Ban tổ chức lễ hội theo quy định;

    b) Bán vé, thu tiền tham dự lễ hội;

    c) Không có nhà vệ sinh hoặc có nhà vệ sinh nhưng không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định trong khu vực lễ hội, di tích."

    Liên quan đến bảo tồn các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại các di tích, khoản 22 Nghị định quy định: Phạt tiền từ 3- 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Phổ biến và thực hành sai lệch nội dung di sản văn hóa phi vật thể hoặc tùy tiện đưa vào những yếu tố mới không phù hợp làm giảm giá trị di sản văn hóa phi vật thể.

    Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định cũng xử phạt 3-5 triệu đồng đối với hành vi “Tuyên truyền, giới thiệu sai lệch nội dung, giá trị di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh; Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để trục lợi”.

    Câu 2. Ông Nguyễn Hoàng Nam trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: tôi được biết năm 2018, việc hướng dẫn cấp sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) và thẻ bảo hiểm y tế  (BHYT) theo mã số có một số điểm mới đáng lưu ý, vậy nội dung liên quan đến việc cấp sổ BHXH và thẻ BHYT theo mã số BHXH được quy định như thế nào?

    Trả lời:

     Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành công văn số 3340/BHXH-ST ngày 08/8/2017 hướng dẫn cấp sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) và thẻ bảo hiểm y tế  (BHYT) theo mã số. Trên cơ sở quy định về quản lý thu, cấp, quản lý sổ BHXH và thẻ BHYT. Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc cấp sổ BHXH và thẻ BHYT theo mã số BHXH như sau:

    1. Không ghi thời điểm hết hạn sử dụng

    Trước đây, thông tin trên thẻ BHYT thường được ghi rõ thời hạn sử dụng, song từ năm 2018 trên thẻ chỉ in giá trị sử dụng từ ngày được cấp và không có thời gian hết hạn.

    Người tham gia bảo hiểm y tế có thể tự kiểm tra thông tin về thẻ trên Cổng thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam, danh sách cấp thẻ Bảo hiểm Y tế lưu tại đơn vị để được giải đáp nếu còn vướng mắc. Việc này nhằm giảm bớt thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí, đồng thời hạn chế tình trạng người bệnh phải chờ đổi thẻ để đi khám, chữa bệnh.

    2. Xác định đầy đủ thời điểm tham gia 5 năm liên tục

    Cụ thể, trường hợp thẻ BHYT cấp theo mã số BHXH có thời điểm tham gia đủ 05 năm liên tục ghi chưa đúng, người tham gia cung cấp thêm thông tin về tên, địa chỉ của các đơn vị nơi đã có quá trình tham gia trước đó hoặc thẻ cũ (nếu còn lưu giữ) cho cơ quan BHXH nơi cấp thẻ. Cơ quan BHXH có trách nhiệm chủ động kiểm tra lại Danh sách, dữ liệu quản lý thu và kết hợp thêm với thông tin người tham gia có thể cung cấp để điều chỉnh dữ liệu và in thẻ BHYT mới cho người tham gia ngay trong ngày theo hướng dẫn tại Công văn số 238/BHXH-CNTT ngày 22/01/2018 của BHXH Việt Nam.

    3. 10 số cuối mã thẻ BHYT là mã số BHXH

    Theo quy định mới tại Quyết định 595/QĐ-BHXH, đối với thẻ BHYT được cấp theo mẫu mới thì 10 số cuối của thẻ BHYT chính là mã số BHXH của người tham gia.

    Như vậy khi tra cứu thông tin, người tham gia bảo hiểm có thể sử dụng thông tin ở thẻ BHYT để tra một số thông tin về BHXH của mình. Đây là một trong những điểm thuận lợi cho người dân  theo quy định mới.

    Một điều thuận lợi cho người sử dụng bảo hiểm y tế là: Khi các cơ sở khám chữa bệnh, nếu người dùng phát hiện trên thẻ bị sai thông tin cơ sở khám chữa bệnh không được phép yêu cầu bệnh nhân quay về đổi thẻ BHYT. Thay vào đó, cơ sở khám chữa bệnh phải liên hệ với bộ phận giám định thẻ BHYT của cơ quan BHXH nơi ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT để xác minh.

    Bên cạnh đó trường hợp thẻ BHYT ghi chưa đúng họ tên, ngày sinh, giới tính như Tờ khai của người tham gia, cơ quan BHXH có trách nhiệm điều chỉnh và đổi thẻ BHYT, người tham gia không phải cung cấp các giấy tờ để chứng minh.

    Đối với trường hợp thẻ BHYT cũ còn giá trị sử dụng và đã đổi quyền lợi theo đối tượng có mức hưởng cao hơn, nếu được đổi thẻ cấp theo mã số BHXH (thẻ BHYT mới) không ghi đúng mức hưởng như thẻ cũ, người tham gia BHYT cần liên hệ ngay với cơ quan BHXH nơi cấp thẻ mới để điều chỉnh theo thẻ đã cấp trước đó mà không phải cung cấp thêm giấy tờ chứng minh.

    Đối với cá nhân tham gia theo nhiều đối tượng khác nhau, cơ quan BHXH rà soát, xác định và phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin BHXH Việt Nam đảm bảo chỉ cấp 1 thẻ BHYT duy nhất theo đối tượng đầu tiên được xếp theo thứ tự các đối tượng quy định tại điểm 2 khoản 7 Điều 1 Luật số 46/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung Luật BHYT. Đồng thời, thông tin cho đơn vị đã lập Danh sách trùng để điều chỉnh giảm. Trường hợp sơ xuất để xảy ra cấp trùng thẻ BHYT phải thực hiện giảm dữ liệu giá trị sử dụng thẻ đó ngay khi phát hiện. 

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Hoàng Thị Vương, trú tại thôn Nà Ỏ, xã Tam Gia, huyện Lộc Bình hỏi về thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản (cây thông).

    Theo thư bà trình bày, đây là vụ việc tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Nếu các bên tranh chấp không hoà giải được với nhau, bà có thể làm đơn khởi kiện, đề nghị Toà án nhân dân huyện Lộc Bình xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. 

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 13 tháng 02 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lộc Minh Hào trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định mới nhất của pháp luật thì việc miễn chấp hành hình phạt được quy định cụ thể đối với những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 thì một người sau khi bị kết án, bản án có hiệu lực thì phải chấp hành án. Tuy nhiên, với chính sách hình sự của nhà nước ta là nhân đạo, hướng thiện. Vì vậy, người bị kết án có thể được Tòa án có thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau:

     

        - Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

     

        - Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại;

     

       - Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại;

     

    Người được miễn chấp hành hình phạt vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

     

    Câu 2. Ông Nông Văn Độ trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình hỏi: Mức quà tặng tết Âm lịch Mậu tuất năm 2018 đối với người có công với cách mạng được Nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

      Ngày 15/01/2018 Chủ tịch nước ban hành Quyết định 47/QĐ-CTN về tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018. Theo đó, có 02 mức quà tặng đối với các đối tượng:

     

        1. Mức quà 400.000 đồng tặng:

     

        a) Người có công với cách mạng là:

     

        - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Bà mẹ Việt Nam anh hùng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng.

     

       b) Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng; thân nhân của hai liệt sĩ trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

     

       2. Mức quà 200.000 đồng tặng:

     

       a) Người có công với cách mạng là:

     

       - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 80% trở xuống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; thương binh đang hưởng chế độ mất sức lao động;

     

       - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 80% trở xuống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.

     

       b) Đại diện thân nhân liệt sĩ.

     

       c) Người thờ cúng liệt sĩ (trường hợp liệt sĩ không còn thân nhân).

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Minh Đức trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc đổi tiền mới để hưởng chênh lệch cao có phải là hành vi vi phạm pháp luật không? nếu là hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử phạt như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Chỉ thị số 48/CT-TTg về tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội dịp Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018, trong đó, yêu cầu các cơ quan chức năng tăng cường phát hiện và xử lý các hành vi đổi tiền lẻ trái quy định của pháp luật.

     

    Đồng thời, chủ động có các giải pháp phù hợp nhằm ổn định thị trường tiền tệ; tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống; phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, kịp thời xử lý vi phạm trong hoạt động mua, bán ngoại tệ, vàng và dịch vụ đổi tiền mặt mệnh giá nhỏ không đúng quy định…

     

    Theo Nghị định số 96/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Theo đó, hành vi đổi tiền không đúng quy định của pháp luật sẽ bị xem xét, xử phạt, mức phạt được quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 5, cụ thể:

     

    "5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    a) Thực hiện đổi tiền không đúng quy định của pháp luật;"

     

    Như vậy, dịch vụ đổi tiền lẻ là hành vi trái pháp luật và bị nghiêm cấm. Nếu người nào thực hiện các hành vi đổi tiền không đúng quy định như: đổi tiền có phí, đổi tiền không đúng mệnh giá, đổi tiền không bằng giá trị… thì bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 06 tháng 02 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Hà Văn Quân trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Quy định về việc giám định tỷ lệ thương tật. Người bị hại có quyền tự yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật không? 

     

    Trả lời:

     

    Theo Khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật giám định tư pháp. 

     

    Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định bao gồm: 

     

    - Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;

     

    - Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

     

    - Nguyên nhân chết người;

     

    - Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

     

    - Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;

     

    - Mức độ ô nhiễm môi trường.

     

    Bên cạnh đó, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012 quy định về việc yêu cầu trưng cầu giám định như sau: 

     

    "2. Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

     

    3. Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo."

     

    Câu 2. Ông Trương Ngọc Hoàng trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 4 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC về hướng dẫn về chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng và thân nhân; quản lý các công trình ghi công liệt sĩ thì đối tượng được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe bao gồm: 

     

    1. Đối tượng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe mỗi năm một lần:

     

    a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

     

    b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

     

    c) Cha đẻ, mẹ đẻ chỉ có một con mà người con đó là liệt sĩ hoặc cha đẻ, mẹ đẻ có hai con là liệt sĩ trở lên;

     

    d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

     

    đ) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh và thương binh loại B (sau đây gọi chung là thương binh), bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên;

     

    e) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do ảnh hưởng của chất độc hóa học từ 81% trở lên;

     

    g) Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”.

     

    2. Đối tượng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần:

     

    a) Cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; vợ hoặc chồng của liệt sĩ; con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng;

     

    b) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;

     

    c) Thương binh, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật dưới 81%;

    d) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do ảnh hưởng của chất độc hóa học dưới 81%;

     

    đ) Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

     

    e) Người có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

     

    Câu 3. Ông Đinh Văn Khôi trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Những người nào có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp

    - Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra các cấp;

     

    - Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;

     

    - Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

     

    Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người thuộc các trường hợp khẩn cấp quy định nêu trên và các nội dung về số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng; Căn cứ ban hành văn bản tố tụng; Nội dung của văn bản tố tụng; Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.

     

    Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định cụ thể như sau: Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 30 tháng 01 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Năm trú tại xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia hỏi: Giấy tờ để chứng minh là người có công với cách mạng thuộc diện được trợ giúp pháp lý bao gồm những loại giấy tờ  nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động Trợ giúp pháp lý thì giấy tờ chứng minh là người có công với cách mạng gồm một trong các giấy tờ sau:

     

    a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền công nhận là người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

     

    b) Quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến;

     

    c) Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến, Bằng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Bằng Anh hùng, Bằng Có công với nước;

     

    d) Quyết định trợ cấp, phụ cấp do cơ quan có thẩm quyền cấp xác định là người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

     

    đ) Quyết định hoặc giấy chứng nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh, bệnh tật do nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

     

    Câu 2. Ông Trần Trọng Minh trú tại Phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các loại pháo, sản phẩm pháo nào được phép sử dụng trong dịp tết? Hành vi đốt pháo nổ trái phép sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật hiện hành?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 5 Nghị định 36/2009/NĐ-CP quy định các loại pháo, sản phẩm pháo được sử dụng gồm có:

     

    1. Pháo hoa do Bộ Quốc phòng sản xuất, nhập khẩu để tổ chức bắn pháo hoa đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

     

    2. Pháo hoa do tổ chức, cá nhân nước ngoài được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép và được Bộ Công an cấp giấy phép mang vào Việt Nam để dự thi bắn pháo hoa.

     

    3. Pháo hiệu dùng trong các hoạt động báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, cứu hộ, cứu nạn, giao thông vận tải và hoạt động quân sự.

     

    4. Các sản phẩm như: pháo hoa lễ hội bằng giấy (trừ loại hoa có chứa kim loại), pháo điện, pháo trang trí bằng giấy, bằng nhựa, bằng tre, trúc, kim loại; que hương phát sáng; các sản phẩm phát tín hiệu ánh sáng, màu sắc, âm thanh được dùng trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ không gây nên tiếng nổ.

     

    Đốt pháo nổ trái phép là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

     

              Về hành chính: Trường hợp sử dụng các loại pháo mà không được phép sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, bị tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm theo quy định tại Điểm b, Khoản 2  và Khoản 9, Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

     

              Về hình sự: Hành vi đốt pháo còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318, Bộ luật Hình sự 2015.

     

    1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

     

    a) Có tổ chức;

     

    b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

     

    c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

    d) Xúi giục người khác gây rối;

     

    đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

     

    e) Tái phạm nguy hiểm.

     

             Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị truy cứu TNHS về các tội danh khác quy định trong Bộ Luật Hình Sự tương xứng với hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác do hành vi đốt pháo nổ gây ra.

     

     Câu 3. Ông Hứa Văn Mạnh trú tại xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Những vật chứng nào cân niêm phòng và vật chứng nào không cần niêm phong? Theo quy định của pháp luật thì ai được quyền tham gia niêm phong và mở niêm phong vật chứng?

     

    Theo Nghị định số 127/2017/NĐ-CP, ngày 16/11/2017 về việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng thì vật chứng cần niêm phong và vật chứng không cần niêm phong được quy định:

     

                Mọi vật chứng sau khi thu thập phải được niêm phong, trừ các trường hợp sau:

     

              - Vật chứng là thực vật, động vật sống.

     

                - Vật chứng là tài liệu được đưa vào hồ sơ vụ án.

     

                - Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản.

     

              - Những vật chứng khác mà cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy không cần thiết phải niêm phong.

     

              Những người được tham gia niêm phong:

     

                - Người tham gia niêm phong vật chứng

     

              - Người chứng kiến hoặc đại điện  xã, phường thị trấn nơi thực hiện niêm phong vật chứng.

     

     

       - Người liên quan hoặc đại diện cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm liên quan đến vật chứng được niêm phong (nếu có).

     

       - Người bào chữa (nếu có).

     

      - Xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự

     

       Người tham gia mở niêm phong vật chứng:

     

       - Người liên quan hoặc đại diện cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm liên quan đến vật chứng được niêm phong (nếu có).

     

                - Người bào chữa (nếu xét thấy cần thiết).

     

              - đại điện  xã, phường thị trấn nơi thực hiện niêm phong vật chứng (trong trường hợp cần thiết).

     

                - Đại diện cơ quan quản lý vật chứng được niêm phong trong những trường hợp vật chứng được bảo quản tại các cơ quan chuyên môn.

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này, chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Nguyễn Văn Quang trú tại xã Xuân Mai, huyện Văn Quan hỏi về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và xử lý hành vi hành hung người cao tuổi?

     

    Về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định: Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

     

     - Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

     

     - Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết là:

     

    + Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền;

     

    + Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

     

              Như vậy, theo đơn ông trình bày, vợ chồng ông bị người khác tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cũng như bị hành hung ông có quyền làm đơn đề nghị UBND huyện Văn Quan hoặc Toà án nhân dân huyện Văn Quan xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

    2. Đơn của ông Nông văn Quảng, trú tại xã Tân Tiến, huyện Tràng Định phản ánh về việc đơn vị thi công đường giao thông, gây bồi lấp hệ thống mương thủy lợi, ảnh hưởng đến canh tác của bà con nhân dân. Đài chúng tôi xin chuyển đến UBND xã Tân Tiến xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

    3. Đơn của ông Lương Văn Thập, trú tại xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc kiến nghị về việc đơn vị thi công đường giao thông Bản Ngõa- Bản Làng san lấp gây ngập úng thiệt hại cây trồng của gia đình ông từ năm 2016, đến nay chưa được bồi thường. Đơn của ông đã được chuyển đến UBND huyện để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 23 tháng 01 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Hứa Văn Phai trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: những trường hợp nào phải đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trại cai nghiện bắt buộc, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

     

    1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

     

    2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

     

    a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

     

    b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

     

    c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

     

    Theo Điều 3 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

     

    Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là:

     

    1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

     

    2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.

     

    3. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.

    Câu 2. Ông Nguyễn Chiến Thắng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ, tình tiết nào là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

     Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

       Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

     

       - Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

     

       - Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

     

        - Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; Vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

     

       - Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

     

       - Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;  Phạm tội do lạc hậu;

     

       - Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

     

       - Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

     

       - Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

     

       - Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; Là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ;

     

       - Người phạm tội đầu thú hoặc tình tiết khác cũng có thể coi là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

       Đối với các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

     

        Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

     

       - Phạm tội có tổ chức;  Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

     

       - Phạm tội có tính chất côn đồ; Phạm tội vì động cơ đê hèn; Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

     

       - Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc  người đủ 70 tuổi trở lên; Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

     

       - Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

     

       - Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;  Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc  tàn ác để phạm tội; Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

     

       - Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

     

       Đối với các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư có nội dung sau:

     

    Ông Phan Văn Phố trú tại thôn Tòng Chu II, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia hỏi: Trường hợp con dâu của ông bỏ nhà đi từ ngày 13/3/2017 đến nay vẫn không có tin tức gì, vậy có được coi là mất tích không? và nếu mất tích thì cháu của ông bị người mẹ bỏ rơi có được hưởng trợ cấp xã hội hay không?

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tuyên bố mất tích như sau: Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

     

    Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

     

    Như vậy, con dâu của ông bỏ nhà đi từ ngày 13/3/2017 đến nay chưa tròn 02 năm, không đủ thời gian tuyên bố một người mất tích theo quy định của pháp luật và theo như thư của ông trình bày thì cháu của ông không thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 16 tháng 01 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Nông Ngọc Hoàng trú tại xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Người thực hiện trợ giúp pháp lý, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện Trợ giúp pháp lý được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

    1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:

    - Trợ giúp viên pháp lý;

    - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

    - Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

    - Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

    Danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

    2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý có các quyền và nghĩa vụ sau:                      - Thực hiện trợ giúp pháp lý;

                - Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật;

    - Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp Luật Trợ giúp pháp lý quy định không được tiếp tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý và theo quy định của pháp luật về tố tụng;

     - Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

    - Bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;

    - Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý;

    - Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;

    - Bồi thường hoặc hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

    - Tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

    - Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công của tổ chức trợ giúp pháp lý.

    - Được hưởng chế độ, chính sách theo quy định

    - Luật sư, cộng tác viên trợ giúp pháp lý ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được hưởng thù lao và chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định.

    Câu 2. Ông Lý Tiến Mạnh trú tại thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập hỏi: phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý và hình thức trợ giúp pháp lý được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

     Theo quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý thì Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc một trong các trường hợp sau đây:

     - Người được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương;

     - Vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương;

     - Vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ở Trung ương yêu cầu.

    Tổ chức ký hợp đồng hoặc đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi hợp đồng, đăng ký.

     Trung tâm Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong các lĩnh vực pháp luật (trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại) bằng các hình thức Tham gia tố tụng; Tư vấn pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng và tuân theo các nguyên tắc:

    - Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý;

    - Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan;

    - Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;

    - Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý.

    Câu 3. Ông Dương Văn Phong trú tại xã Tân Hương, huyện Bắc Sơn hỏi: chính sách hỗ trợ cho thân nhân, người thờ cúng liệt sĩ đi tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Thông tư số 298/2017/TT-BQP hướng dẫn thực hiện về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

    Theo đó, thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ được hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 298/2017/TT-BQP:

     - Được hỗ trợ tiền đi lại (bao gồm cả lượt đi và lượt về) theo khoảng cách từ nơi cư trú đến các đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu; số lượng không quá 3 người, mỗi năm một lần; mức chi cụ thể một lượt như sau:

    + Khoảng cách dưới 100 km: Mức 150.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 100 km đến dưới 300 km: Mức 300.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 300 km đến dưới 500 km: Mức 500.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 500 km đến dưới 1.000 km: Mức 800.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 1.000 km đến dưới 1.500 km: Mức 1.100.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 1.500 km đến dưới 2.000 km: Mức 1.500.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 2.000 km trở lên: Mức 1.700.000 đồng/người.

     -  Được hỗ trợ tiền ăn với số lượng không quá 3 người; thời gian không quá 5 ngày; mức hỗ trợ tiền ăn một ngày cho một người bằng 2 lần mức tiền ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh;

     -  Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ khi đến đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu nộp giấy giới thiệu, 1 bản sao có chứng thực giấy báo tử liệt sĩ hoặc Bằng Tổ quốc ghi công. Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh hoặc đơn vị cấp sư đoàn hoặc tương đương trở lên quyết định hỗ trợ; lập phiếu chi trả và lưu các giấy tờ nêu trên làm chứng từ thanh, quyết toán.

       Về mức bồi dưỡng đối với việc cung cấp thông tin tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ:

     - Bồi dưỡng mức 3.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được 1 hài cốt liệt sĩ;

    - Bồi dưỡng mức 5.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 2 đến 5 hài cốt liệt sĩ;

    - Bồi dưỡng mức 10.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 6 hài cốt liệt sĩ trở lên;

    - Người có thành tích xuất sắc về cung cấp thông tin chính xác được khen thưởng ngay sau khi có kết quả tìm kiếm, quy tập; do Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định;

    -  Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh hoặc đội tìm kiếm, quy tập (nếu làm nhiệm vụ ở ngoài nước) lập văn bản có xác nhận của chính quyền địa phương sở tại (cấp xã) và chỉ huy đơn vị tìm kiếm, quy tập trực tiếp chi trả chế độ cho người cung cấp thông tin chính xác; lập phiếu chi trả làm chứng từ thanh, quyết toán.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 09 tháng 01 năm 2018

    Câu 1. Ông Phùng Quang Hiếu trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015 thì những trường hợp nào loại trừ trách nhiệm hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự?

    Trả lời:

    Bộ luật Hình sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 quy định những trường hợp thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không bị coi là tội phạm. Đó là những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

     1. Sự kiện bất ngờ

     Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    3. Phòng vệ chính đáng

    Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

    4. Tình thế cấp thiết

    Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

    5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

    Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

              Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

              6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

    Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

              7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

    Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

              Quy định này không áp dụng do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên trong trường hợp phạm một trong các tội: Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Tội chống loài người; Tội phạm chiến tranh.

    Câu 2. Bà Trần Hoàng Giang, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự theo quy định mới của pháp luật như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

    1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    - 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm);

    - 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù);

    - 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù);

    - 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).

     Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Nếu trong thời hạn trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

    2. Các tội phạm sau đây không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự :

    - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII; Tội phá hoại hòa bình; Tội chống loài người; Tội phạm chiến tranh; Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 ; Tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

    3. Các trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự

    Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi có quyết định đại xá.

     Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

    - Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

    - Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

    - Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

    - Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp          của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

    Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, quyết định miễm trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 02 tháng 1 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Vy Mạnh Thăng , trú tại xã Y Tịch, huyện Chi Lăng hỏi: Việc tòa án tiến hành hòa giải giữa các bên tranh chấp trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án dân sự được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:

     

    Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, như: Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự và Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.

    Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

     

    - Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;

     

    - Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

     

    Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:

     

    - Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

     

    - Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

     

    - Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

     

    - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

    - Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;

     

    - Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

     

    - Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.

     

    Trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải.

     

    Câu 2. Bà Lương Minh Hòa, trú tại xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng hỏi: Tiêu chuẩn công nhận gia đình văn hóa được quy định tại văn bản nào và bao gồm những tiêu chuẩn như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 4 Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương, quy định tiêu chuẩn Danh hiệu “Gia đình văn hóa” như sau:

     

    1. Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:

    a) Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

     

    b) Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;

     

    c) Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm;

     

    d) Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng.

     

    2. Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:

     

    a) Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiện sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

     

    b) Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình;

     

    c) Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạch-đẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

     

    d) Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng.

     

    3. Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả:

     

    a) Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;

     

    b) Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm nghèo”, năng động làm giàu chính đáng;

     

    c) Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Tiến Lộc trú tại Phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Công dân đến tạm trú tại địa phương khác mà không đăng ký tạm trú có bị xử phạt vi phạm hành chính không? và mức xử phạt đối với hành vi này được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Luật cư trú năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định về nghĩa vụ đăng ký tạm trú như sau:

     

    Ng­ười đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn.

     

    Như vậy, trong thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm đến một nơi cư trú mới thì công dân có nghĩa vụ đăng ký tạm trú. Nếu sau khoảng thời gian này mới đăng ký tạm trú hoặc không đăng ký tạm trú sẽ bị xử phạt.

     

    Theo Điểm a - khoản 1 - Điều 8 - Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính khi không đăng ký tạm trú như sau:

     

    Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

    Như vậy, nếu sau thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm chuyển đến nơi cư trú mới mà không đăng ký tạm trú thì sẽ bị xử phạt.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 26 tháng 12 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Dương Văn Mạnh trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: việc di chuyển đàn gia súc đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người và phương tiện đang tham gia giao thông có vi phạm quy định pháp luật hay không? Mức xử phạt được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 10 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì  việc người điều khiển, dẫn dắt súc vật, điều khiển xe súc vật kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt như sau:

     

    - Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không nhường đường theo quy định, không báo hiệu bằng tay khi chuyển hướng;

     

    + Không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường;

     

    + Không đủ dụng cụ đựng chất thải của súc vật hoặc không dọn sạch chất thải của súc vật thải ra đường, hè phố.

     

    - Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Điều khiển, dẫn dắt súc vật đi không đúng phần đường quy định, đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi vào phần đường của xe cơ giới;

     

    + Để súc vật đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người và phương tiện đang tham gia giao thông;

     

    + Đi đàn hàng ngang từ 02 (hai) xe trở lên;

     

    + Để súc vật kéo xe mà không có người điều khiển;

     

    + Điều khiển xe không có báo hiệu theo quy định.

     

    - Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông;

     

    + Dắt súc vật chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;

     

    + Xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định.

     

    - Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt súc vật, điều khiển xe súc vật kéo đi vào đường cao tốc trái quy định.

     

    - Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, người thực hiện hành vi xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ phần hàng hóa vượt quá giới hạn hoặc phải xếp lại hàng hóa theo đúng quy định.

     

    Câu 2. Anh Trần Hoàng Việt trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: việc đăng ký kết hôn khi hai người có hộ khẩu thường trú tại hai tỉnh khác nhau được thực hiện tại cơ quan nào và cần thực hiện thủ tục gì?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ Khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014 thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn. Như vậy, pháp luật không quy định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn là nơi bên nam hay bên nữ cư trú, mà tùy thuộc vào lựa chọn của người đi đăng ký kết hôn. Anh chị có quyền lựa chọn Ủy ban nhân dân cấp xã nơi anh hay nơi chị cư trú để đăng ký kết hôn.

     

    Người đi đăng ký kết hôn phải có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (kể cả trường hợp chưa đăng ký kết hôn lần nào).

     

    Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 18 Luật Hộ tịch năm 2014 như sau:

     

    - Hai bên nam, nữ nộp những giấy tờ sau cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn:

     

    + Tờ khai đăng ký kết hôn (mẫu Tờ khai quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp);

     

    + Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

     

    - Xuất trình hộ chiếu/chứng minh nhân dân/thẻ căn cước công dân của cả hai bên;

     

    - Xuất trình sổ hộ khẩu của một bên nam hoặc bên nữ có nơi thường trú tại địa phương tiến hành đăng ký kết hôn.

     

    Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ nêu trên, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

     

    Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc.

     

    Câu 3. Bà Hứa Thị Sen trú tại xã Mai pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: bạo lực gia đình bao gồm những hành vi nào? mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bạo lực gia đình? 

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 2 Điều 1, Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 thì bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.

     

    Hành vi bạo lực gia đình được chia làm 4 nhóm: bạo lực tinh thần, bạo lực thể chất, bạo lực kinh tế và bạo lực tình dục, và cụ thể như sau:

     

    Nhóm 1, nhóm hành vi bạo lực về tinh thần: bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị, em với nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

     

    Nhóm 2, hành vi bạo lực về thể chất hay thể xác: bao gồm hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng.

    Nhóm 3, nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: bao gồm chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.

     

    Nhóm 4, nhóm hành vi bạo lực về tình dục: gồm có hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục.

     

    Đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên cho thấy, hành vi của anh A là hành vi bạo lực gia đình.

     

    Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà người có hành vi bạo lực gia đình có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Nếu hành vi bạo lực chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng và chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để xử lý hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính dưới hình thức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và bị buộc xin lỗi công khai nếu người bị ảnh hưởng bởi hành vi bạo lực gia đình có yêu cầu ( theo Khoản 1 Điều 51 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình).

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 19 tháng 12 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Nông Văn Luân trú tại xã Bính Xá, huyện Đình Lập hỏi: pháp luật quy định như thế nào về mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản?

     Trả lời: 

     

    Theo quy định tại Điều 176 Bộ luật Dân sự quy định mốc giới ngăn cách các bất động sản như sau:

     

      - Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

     

     - Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.

     

     - Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.

     

    - Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.

     

    Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.

     

    Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

     

    Câu 2. Bà Bế Thị Viên trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: Nhà nước có chính sách hỗ trợ nào cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số không?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 24/7/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số thì đối tượng được thụ hưởng chính sách là: phụ nữ là người dân tộc thiểu số hoặc phụ nữ là người Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn (trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc) khi sinh con thuộc một trong các trường hợp sau đây:

     

              - Sinh một hoặc hai con;

     

              - Sinh con thứ ba, nếu cả hai vợ chồng hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

     

              - Sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên;

     

              - Đã có một con đẻ, nhưng sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên;

              - Sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi;

     

              - Sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận;

     

              - Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ);

     

              - Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ); không áp dụng cho trường hợp hai vợ chồng đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống;

     

              - Phụ nữ thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số chưa kết hôn, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.

     

              Định mức hỗ trợ: Hai triệu đồng/người.

     

              Thời điểm hỗ trợ: Tính từ tháng đầu sau khi sinh con thuộc đối tượng được hỗ trợ.

     

              Phương thức hỗ trợ: Bằng tiền, cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng.

    Câu 3. Ông Bàn Văn Năm trú tại xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình hỏi: chế độ, chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số quy định như sau:

     

    1. Cung cấp thông tin

     

    a) Người có uy tín được cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cư trú định kỳ hoặc đột xuất phổ biến, cung cấp thông tin về các chủ trương, chính sách, pháp luật mới của Đảng, Nhà nước; tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương;

     

    b) Người có uy tín được cấp (không thu tiền, Báo Dân tộc và Phát triển, báo tỉnh nơi người có uy tín cư trú;

     

    c) Người có uy tín được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức hoặc tham quan học tập kinh nghiệm về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh do địa phương xác định.

     

    2. Hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần

     

    Người có uy tín được cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cư trú:

     

    a) Thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết của các dân tộc thiểu số; mức chi không quá 400.000 đồng/người/năm;

     

    b) Thăm hỏi, hỗ trợ vật chất khi người có uy tín ốm đau; mức chi không quá 400.000 đồng/người/năm;

     

    c) Hộ gia đình người có uy tín gặp khó khăn, bố, mẹ, vợ, chồng, con chết do hậu quả thiên tai được cấp ủy, chính quyền các cấp đến thăm hỏi, động viên, hỗ trợ vật chất. Mức chi không quá 2.000.000 đồng/gia đình/năm đối với cơ quan Trung ương; không quá 1.000.0000 đồng/gia đình/năm đối với cơ quan cấp tỉnh; không quá 500.000 đồng/gia đình/năm đối với cơ quan cấp huyện;

     

    d) Người có uy tín tham gia đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội tại địa phương mà bị thương hoặc hy sinh, được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định công nhận là thương binh hoặc liệt sỹ và được hưởng các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật hiện hành.

     

    3. Chế độ khen thưởng

     

    Người có uy tín có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh, trật tự được xét khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và các quy định hiện hành về thi đua, khen thưởng.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 12 tháng 12 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Hoàng Văn Phúc trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: Các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Hiện nay, trong quá trình sử dụng đất người sử dụng có hành vi vi phạm pháp luật đất đai như: sử dụng đất không đúng mục đích, khai thác sử dụng chưa hợp lý. Nhằm phòng chống và khắc phục vấn đề này thì căn cứ Điều 64 – Luật đất đai 2013 đưa ra những trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị thu hồi, đảm bảo nguồn đất được sử dụng hiệu quả:

     

    - Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

     

    -Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

     

    -Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

    - Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

     

    -Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

     

    -Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

     

    -Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

     

    -Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

     

    -Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

     

    Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và tại Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Trọng Thắng trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: cảnh sát giao thông được dừng xe người đi đường trong những trường hợp nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 14, Thông tư số 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung, hình thức tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông thì cảnh sát giao thông chỉ được dừng phương tiện trong 5 trường hợp sau:

     

    - Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ;

     

    - Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên;

     

    - Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên;

     

    - Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp;

     

    - Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông.

     

    Ngoài ra, theo Điều 10 Thông tư 45/2012/TT-BCA quy định về biển hiệu và Giấy chứng nhận Cảnh sát tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ thì cảnh sát phải, mang theo giấy chứng nhận và xuất trình khi có yêu cầu, phải đeo biển hiệu (thẻ xanh).

     

    Nếu dừng xe để kiểm tra hành chính nhất thiết phải có chuyên đề, hoặc mệnh lệnh, kế hoạch do trưởng Công an cấp huyện trở lên ký. Nếu xử lý lỗi vi phạm luật giao thông, cảnh sát giao thông phải chứng minh được lỗi vi phạm bằng hình ảnh.

     

    Có 2 phương thức xử phạt vi phạm hành chính là xử phạt tại chỗ hoặc lập biên bản chờ quyết định xử phạt của cấp có thẩm quyền.

     

    Việc xử phạt tại chỗ được áp dụng cho các lỗi có mức phạt dưới 250.000 đồng. Cảnh sát giao thông sẽ lập quyết định xử phạt hành chính theo mẫu. Trong các trường hợp khác, cảnh sát giao thông sẽ lập biên bản và bạn sẽ chờ quyết định phạt gửi về nhà trong 7 ngày và bạn phải nộp phạt tại Kho bạc Nhà nước.

     

    Câu 3. Ông Lành Văn Chung trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa trong sản xuất, kinh doanh hóa chất được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hóa chất, quy định yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa trong sản xuất, kinh doanh hóa chất như sau:

     

        1. Nhà xưởng phải đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, phù hợp với tính chất, quy mô và công nghệ sản xuất, lưu trữ hóa chất;

     

       2. Nhà xưởng, kho chứa phải có lối, cửa thoát hiểm. Lối thoát hiểm phải được chỉ dẫn rõ ràng bằng bảng hiệu, đèn báo và được thiết kế thuận lợi cho việc thoát hiểm, cứu hộ, cứu nạn trong trường hợp khẩn cấp;

     

       3. Hệ thống thông gió của nhà xưởng, kho chứa phải đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về hệ thống thông gió;

     

       4. Hệ thống chiếu sáng đảm bảo theo quy định để đáp ứng yêu cầu sản xuất, lưu trữ hóa chất. Thiết bị điện trong nhà xưởng, kho chứa có hóa chất dễ cháy, nổ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ;

     

       5. Sàn nhà xưởng, kho chứa hóa chất phải chịu được hóa chất, tải trọng, không gây trơn trượt, có rãnh thu gom và thoát nước tốt.

     

       6. Nhà xưởng, kho chứa hóa chất phải có bảng nội quy về an toàn hóa chất, có biển báo nguy hiểm phù hợp với mức độ nguy hiểm của hóa chất, treo ở nơi dễ thấy. Các biển báo thể hiện các đặc tính nguy hiểm của hóa chất phải có các thông tin: Mã nhận dạng hóa chất; hình đồ cảnh báo, từ cảnh báo, cảnh báo nguy cơ. Trường hợp hóa chất có nhiều đặc tính nguy hiểm khác nhau thì hình đồ cảnh báo phải thể hiện đầy đủ các đặc tính nguy hiểm đó. Tại khu vực sản xuất có hóa chất nguy hiểm phải có bảng hướng dẫn cụ thể về quy trình thao tác an toàn ở vị trí dễ đọc, dễ thấy;

     

       7. Nhà xưởng, kho chứa phải có hệ thống thu lôi chống sét hoặc nằm trong khu vực được chống sét an toàn và được định kỳ kiểm tra theo các quy định hiện hành;

     

       8. Đối với bồn chứa ngoài trời phải xây đê bao hoặc các biện pháp kỹ thuật khác để đảm bảo hóa chất không thoát ra môi trường khi xảy ra sự cố hóa chất và có biện pháp phòng chống cháy nổ, chống sét;

     

       9. Nhà xưởng, kho chứa phải đáp ứng đủ các điều kiện về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, an toàn và vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật có liên quan.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 05 tháng 12 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Trương Minh Lộc trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi:  Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 9, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

     

    1. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:

     

    a) Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

     

    b) Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

     

    c) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

     

    d) Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

     

    đ) Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

     

    e) Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

     

    g) Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam;

     

    h) Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

     

    i) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

     

    k) Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

     

    2. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các nghĩa vụ sau đây:

     

    a) Chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam;

     

    b) Chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, quy định của Luật thi hành tạm giữ tạm giam và pháp luật có liên quan.

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Hoàng Trung trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các hành vi nào vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh rượu?  Điều kiện bán buôn rượu và điều kiện để bán lẻ rượu?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 7 Nghị định Số: 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu quy định các hành vi vi phạm quy định về kinh doanh rượu như sau:

     

    1. Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung ghi trong giấy phép theo quy định tại Nghị định về kinh doanh rượu.

     

    2. Sử dụng cồn thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn, cồn công nghiệp hoặc nguyên liệu bị cấm khác để sản xuất, pha chế rượu,

     

    3. Cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh rượu.

     

    4. Trưng bày, mua, bán, lưu thông, tiêu thụ các loại rượu không có tem, nhãn đúng quy định của pháp luật, rượu không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn thực phẩm, rượu không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

     

    5. Bán rượu cho người dưới 18 tuổi, bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet, bán rượu bằng máy bán hàng tự động.

     

    6. Quảng cáo, khuyến mại rượu trái quy định của pháp luật.

     

    * Điều kiện để bán buôn rượu được quy định như sau:

     

    1. Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của phập luật.

     

    2. Có quyền sử dụng hợp pháp kho hàng hoặc hệ thống kho hàng với tổng diện tích sàn sử dụng từ 50 m2 trở lên.

     

    3. Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định.

     

    4. Có hệ thống bán buôn rượu trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi thương nhân đặt trụ sở chính với ít nhất 03 thương nhân bán lẻ rượu.

     

    5. Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu khác,

     

    6. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định.

     

    * Điều kiện bán lẻ rượu được quy định như sau:

     

    1. Là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật.

     

    2. Có quyền sử dụng hợp pháp địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng.

     

    3. Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu.

     

    4. Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định.

     

    5. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định.

     

    Câu 3. Ông Vương Văn Tân trú tại Xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về vệ sinh thú y đối với giết mổ động vật nhỏ lẻ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định Số: 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y

    Quy định xử phạt hành vi vi phạm về vệ sinh thú y đối với giết mổ động vật nhỏ lẻ; sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật nhỏ lẻ như sau:

     

    1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi người trực tiếp tham gia giết mổ động vật, sơ chế, chế biến sản phẩm động vật không bảo đảm tiêu chuẩn về sức khỏe và vệ sinh thú y trong quá trình thực hiện.

     

    2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi trang thiết bị, dụng cụ, nước sử dụng không bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y trong quá trình giết mổ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được cuộc gọi từ thính giả Vy Văn Đèn, số điện thoại…….. trú tại thôn Bản Lam, xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng hỏi: Gia đình ông thuộc diện hộ nghèo nhưng không được hỗ trợ tiền điện thắp sáng, như vậy có đúng không? và những đối tượng nào được hưởng chính sách này?

     

    Thưa ông theo Điểm a, Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 190/2014/TT-BTC ngày 11/12/2014 của Bộ Tài chính quy định thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội. Theo đó, đối tượng được hỗ trợ tiền điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt là một trong những hộ gia đình sau:

     

    Phải là hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo tiêu chí quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nếu có (Văn bản hiện hành áp dụng là theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020); Trường hợp địa phương có hộ nghèo theo chuẩn quy định của địa phương cao hơn chuẩn hộ nghèo quốc gia thì thực hiện theo chuẩn hộ nghèo thực tế tại từng địa phương, kinh phí hỗ trợ tiền điện cho số hộ nghèo có chuẩn nghèo cao hơn chuẩn quốc gia do ngân sách địa phương đảm bảo theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

     

    Qua điện thoại, ông chỉ nói gia đình ông là hộ nghèo nhưng không được hỗ trợ chính sách tiền điện thắp sáng, nên chúng tôi không có căn cứ rõ ràng để xác định gia đình ông có phù hợp với tiêu chí quy định là hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt hay không. Vì vậy đề nghị ông liên hệ trực tiếp với UBND xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 28 tháng 11 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Ba trú tại xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc hỏi: Nơi tiếp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết thủ tục cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh sang Trung Quốc được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Thông tư số: 67/2013/TT-BCA ngày 11/12/2013 của Bộ Công an về việc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh vùng biên giới cho công dân Việt Nam qua lại biên giới Việt Nam - Trung Quốc thì nơi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh sang Trung Quốc được quy định như sau:

     

    - Công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc có nhu cầu cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh nộp hồ sơ tại Công an cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú, khi nộp hồ sơ phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân; người dưới 14 tuổi phải xuất trình giấy khai sinh hoặc sổ hộ khẩu để kiểm tra, đối chiếu;

     

    - Cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan nhà nước có trụ sở đóng tại vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ thì nộp hồ sơ tại Công an cấp huyện nơi cơ quan đóng trụ sở;

     

    - Người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.

     

     Thời hạn giải quyết thủ tục cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh là 01 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp hồ sơ của người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh chưa đầy đủ thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy thông hành thông báo cho người đề nghị biết và thời hạn được tính lại kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không giải quyết phải trả lời và nêu rõ lý do cho người đề nghị biết.

     

    Thẩm quyền cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh

     

    - Trưởng Công an cấp huyện tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan có trụ sở đóng tạihuyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đó được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ. Trường hợp Trưởng Công an cấp huyện vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp huyện được Trưởng Công an cấp huyện ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp huyện chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp huyện và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

     

    - Trưởng công an cấp xã tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn đó. Trường hợp Trưởng Công an cấp xã vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp xã được Trưởng Công an cấp xã ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp xã chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp xã và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

     

    Câu 2. Ông Trần Hoàng Giang trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi vượt biên sang nước khác để lao động bị xử lý như thế nào? Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ tại Khoản 3 Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

     

     Về Vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại sẽ bị xử phạt như sau:

     

    "3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định;

     

    b) Trốn hoặc tổ chức, giúp đỡ người khác trốn vào các phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh nhằm mục đích vào Việt Nam hoặc ra nước ngoài;

     

    c) Cho người khác sử dụng hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

     

    d) Sử dụng hộ chiếu hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

     

    đ) Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định hoặc sử dụng chứng nhận tạm trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 16 ngày trở lên mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

     

    e) Người nước ngoài đã được cấp thẻ thường trú mà thay đổi địa chỉ nhưng không khai báo để thực hiện việc cấp đổi lại."

     

    Theo Điểm b Khoản 1 Điều 67 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã. 

     

    Như vậy, hành vi vượt biên trái phép trước tiên sẽ bi xử lý hành chính với mức phạt: phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi: qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định.

     

    Theo điều 274 Bộ luật Hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009 về tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại nước ngoài hoặc ở lại việt Nam trái phép.

     

    "Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở  lại nước ngoài, ở  lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Trung Thành trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật các hành vi nào bị nghiêm cấm trong an toàn vệ sinh lao động?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 12 Luật An toàn vệ sinh lao động quy định về các hành vi bị cấm như sau:

     

    1. Che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không thực hiện các yêu cầu, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đến người, tài sản, môi trường; buộc người lao động phải làm việc hoặc không được rời khỏi nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng của họ hoặc buộc người lao động tiếp tục làm việc khi các nguy cơ đó chưa được khắc phục.

     

    2. Trốn đóng, chậm đóng tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không chi trả chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động; quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không đúng quy định của pháp luật; truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

     

    3. Sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động không được kiểm định hoặc kết quả kiểm định không đạt yêu cầu hoặc không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường.

     

    4. Gian lận trong các hoạt động kiểm định, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, quan trắc môi trường lao động, giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động, người sử dụng lao động.

     

    5. Phân biệt đối xử về giới trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân biệt đối xử vì lý do người lao động từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình; phân biệt đối xử vì lý do đã thực hiện công việc, nhiệm vụ bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở của người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, an toàn, vệ sinh viên, người làm công tác y tế.

     

    6. Sử dụng lao động hoặc làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động.

     

    7. Trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 14 tháng 11 năm 2017

    Câu 1. Ông Lương Minh Thao trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Số định danh cá nhân là gì? trình tự thủ tục cấp số định danh cá nhân được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Ngày 20/11/2014, Quốc hội thông qua Luật Căn cước công dân. Theo đó, từ ngày 1/1/2016 chứng minh thư nhân dân sẽ được thay thế bằng thẻ Căn cước công dân.

    Đối với chứng minh thư nhân dân được cấp trước ngày Luật Căn cước công dân có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định. Khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ căn cước công dân.

    - Số định danh cá nhân là dãy số của thẻ căn cước công dân khi trẻ em đủ 14 tuổi. 

    - Thẻ căn cước công dân là cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bao gồm 12 nội dung sau: Số định danh cá nhân, ảnh, họ và tên, tên thường gọi, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi sinh, quê quán, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, số chứng minh nhân dân, nơi thường trú, nơi ở hiện tại, nhóm máu, số hộ chiếu, họ tên cha, họ tên mẹ (số định danh cá nhân đối với người Việt Nam và quốc tịch đối với người nước ngoài, không quốc tịch), tình trạng hôn nhân, họ tên vợ hoặc chồng, họ tên con, ngày tháng năm mất.

    - Về thẩm quyền cấp mã số cá nhân, công an cấp huyện, cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền cấp cho công dân đối với người đã đăng ký khai sinh trước ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực.

    - Sau khi Luật Hộ tịch có hiệu lực, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường cấp số định danh cá nhân cho công dân mới sinh khi công dân đăng ký khai sinh.

    Trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đăng ký khai sinh:

    Trường hợp Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đã được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì khi nhận đủ giấy tờ để đăng ký khai sinh, cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch, quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có trách nhiệm chuyển ngay các thông tin của người được đăng ký khai sinh cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; trong đó phải thu thập các thông tin sau đây để cấp số định danh cá nhân:

    - Họ, chữ đệm và tên khai sinh;

    - Ngày, tháng, năm sinh;

    - Giới tính;

    - Nơi đăng ký khai sinh;

    - Quê quán;

    - Dân tộc;

    - Quốc tịch;

    - Họ, chữ đệm và tên, quốc tịch của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp; trừ trường hợp chưa xác định được cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp.

    Trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú:

    Công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân theo quy định thì khi làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân, cơ quan quản lý căn cước công dân có trách nhiệm thu thập, chuyển các thông tin về công dân theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân cho cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an; trong đó ít nhất phải có các thông tin quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định này và các thông tin dưới đây để cấp số định danh cá nhân:

    - Nơi thường trú;

    - Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân của chủ hộ, quan hệ với chủ hộ.

    Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an kiểm tra thông tin của công dân, cấp và chuyển ngay số định danh cá nhân cho cơ quan cấp thẻ Căn cước công dân.

    Câu 2. Ông Hoàng Ngọc Tú trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện để trở thành người giám hộ là gì? thủ tục hồ sơ đăng ký làm người giám hộ được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 49, Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015 thì cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:

    Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ; Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

    Về Thủ tục, hồ sơ đăng ký làm người giám hộ:

    Người có yêu cầu đăng ký giám hộ nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp phường, xã có thẩm quyền.

    Hồ sơ đăng ký giám hộ được lập thành 01 bộ hồ sơ, gồm các giấy tờ sau:

    Giấy tờ phải nộp: Người được cử làm giám hộ phải nộp Giấy cử giám hộ. Giấy cử giám hộ do người cử giám hộ lập, nếu có nhiều người cùng cử một người làm giám hộ, thì tất cả phải cùng ký vào Giấy cử giám hộ.

    Trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, thì người cử giám hộ phải lập danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản đó, có chữ ký của người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ.

    Danh mục tài sản được lập thành 3 bản, một bản lưu tại Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi đăng ký việc giám hộ, một bản giao cho người giám hộ, một bản giao cho người cử giám hộ.

    Giấy tờ phải xuất trình:

    Bản chính Giấy CMND, hộ khẩu của người giám hộ, người cử giám hộ và người được giám hộ; Bản chính giấy tờ chứng minh điều kiện của người giám hộ (chỗ ở, thu nhập…); Bản chính giấy tờ chứng minh mối quan hệ giữa người giám hộ với người được giám hộ và người cử giám hộ.

    Câu 3. Bà Nông Thị Mai trú tại thị trấn Lộc Bình huyện Lộc Bình hỏi: mức phí đóng bảo hiểm ý tế tự nguyện cho hộ gia đình hiện nay là bao nhiêu theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 2 Nghị định 105/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế thì: “Mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất".

    Như vậy, với việc tăng mức lương cơ bản từ 1/7/2017 lên 1,3 triệu đồng/tháng. Do đó, giá mua bảo hiểm y tế tự nguyện năm 2017 cho hộ gia đình đối với các thành viên cụ thể như sau:

    + Phí đóng BHYT tự nguyện người thứ nhất là 702.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ hai là 492.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ ba là 422.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ tư là 351.000 đồng/ năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ năm trở lên 281.000 đồng/năm

    Tương tự với những thành viên tiếp theo của những gia đình có nhân khẩu nhiều người hơn.

     Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Bà Ma Thị Thiểm trú tại thôn Nà Mèo, xã Hòa Bình, huyện Bình Gia thắc mắc về việc UBND huyện Bình Gia thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà.

    Đề nghị bà khiếu nại đến UBND huyện Bình Gia theo quy định của Luật Khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

    2. 20 hộ dân trú tại thôn Nà Trang, khối 6, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn tố cáo về việc các doanh nghiệp trên địa bàn khu dân cư sinh sống gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến các hộ dân.

    Đơn của 20 hộ dân chúng tôi đã chuyển đến UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 07 tháng 11 năm 2017

    Câu 1. Ông Vy Văn Báu trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là thương binh hạng 3/4, con tôi nhập học tại một trường cao đẳng nghề Lạng Sơn. Vậy tôi xin hỏi con tôi có được miễn giảm học phí không?

    Trả lời:

    Theo Khoản 2 Điều 62 Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định về Chính sách đối với người học như sau:

    “2. Người học được Nhà nước miễn học phí trong các trường hợp sau đây:

    a) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa;

    b) Người tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trình độ trung cấp;

    c) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương quy định; người học các ngành, nghề chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.”

    Đồng thời, Điểm a, Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 09/2016 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2020 – 2021 cũng quy định như sau:

    “2. Đối tượng được miễn học phí:

    a) Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được hợp nhất tại văn bản số 01/VBHN-VPQH ngày 30 tháng 7 năm 2012 của Văn phòng Quốc hội. Cụ thể:

    – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh; Người hưởng chính sách như thương binh; Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến (nếu có);

    – Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (nếu có); con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (nếu có); con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sỹ; con của thương binh; con của người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học…”

    Như vậy, theo quy định trên, con ông thuộc diện được miễn giảm học phí.

    Hồ sơ miễn giảm học phí bao gồm các giấy tờ sau:

    – Đơn xin miễn, giảm học phí (theo mẫu);

    – Giấy khai sinh (công chứng hoặc bản sao có dấu đỏ);

    – Giấy xác nhận đối tượng do cơ quan quản lý đối tượng người có công hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường xác nhận;

    – Giấy chứng nhận (hoặc quyết định) người có công với cách mạng…

    Câu 2. Ông Đinh Khắc Tùng trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chấp hành viên không được làm những việc gì theo quy định của Luật thi hành án dân sự?

    Trả lời:

    Những việc Chấp hành viên không được làm quy định tại Điều 21 Luật Thi hành án dân sự 2014 như sau:

    Những việc Chấp hành viên không được làm bao gồm:

    - Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm.

    - Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật.

    - Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án.

    - Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án.

    - Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:

    a) Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;

    b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên;

    c) Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

    - Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

    - Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.

    - Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật.

    Câu 3. Bà Lành Thị Sao trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chế độ học tập, sinh hoạt của học sinh tại trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 18, Nghị định số 02/2014/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.

    1. Chế độ học tập

    a) Học sinh được học văn hóa theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc học văn hóa đối với học sinh chưa phổ cập giáo dục là bắt buộc. Đối với những học sinh khác thì tùy theo khả năng và điều kiện thực tế của trường mà tổ chức học tập. Đối với học sinh đã bỏ học trước khi vào trường giáo dưỡng mà không có hồ sơ, học bạ thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện nơi trường giáo dưỡng đóng trụ sở tổ chức kiểm tra kiến thức hai môn văn và toán bằng hình thức kiểm tra viết. Căn cứ vào kết quả kiểm tra, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định xếp lớp học văn hóa cho phù hợp. Quyết định này thay cho học bạ những năm trước đã mất để xét tốt nghiệp cho học sinh.

    Ngoài việc học văn hóa, học sinh phải được học tập chương trình giáo dục công dân, giáo dục hướng nghiệp, học nghề và chương trình giáo dục khác do Bộ Công an quy định. Kinh phí chi cho việc dạy và học nghề theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

    b) Kinh phí mua sách, vở, đồ dùng học tập cho mỗi học sinh hàng tháng tương đương với 07 kg gạo tẻ loại thường tính theo giá thị trường của từng địa phương;

    c) Trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức cho học sinh thi học kỳ, thi kết thúc năm học, thi chuyển cấp, thi tuyển chọn học sinh giỏi, thi vào lớp chuyên và cấp chứng chỉ hoặc bằng tốt nghiệp tương ứng với chương trình học cho học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    d) Sổ điểm, học bạ, hồ sơ và các biểu mẫu liên quan đến việc giảng dạy và học tập ở trường giáo dưỡng phải theo mẫu chung thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an;

    đ) Văn bằng, chứng chỉ học văn hóa, học nghề trong trường giáo dưỡng có giá trị như văn bằng, chứng chỉ của các trường phổ thông.

    2. Chế độ sinh hoạt

    a) Ngoài giờ học văn hóa, học nghề, lao động theo quy định của pháp luật, trường giáo dưỡng phải tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách, báo, xem truyền hình và các hoạt động vui chơi giải trí khác cho học sinh;

    b) Mỗi trường giáo dưỡng được thành lập một thư viện; mỗi phân hiệu của trường được thành lập một phòng đọc sách, báo, khu vui chơi, nhà luyện tập thể dục, thể thao, sân thể thao để học sinh rèn luyện thể lực; được trang bị hệ thống truyền thanh, truyền hình. Mỗi phòng ở tập thể được trang bị một vô tuyến truyền hình màu, được phát một tờ báo Thanh niên và một tờ báo phù hợp với từng lứa tuổi.

    3. Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình học tập và đào tạo, cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp, bố trí giáo viên dạy văn hóa, dạy nghề cho các trường giáo dưỡng.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 31 tháng 10 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Hứa Viết Tưởng trú tại thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia hỏi: những khoản phụ cấp, trợ cấp nào không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân?

     

    Trả lời: Các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, gồm:

     

    - Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công;

     

    - Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ;

     

    - Phụ cấp quốc phòng, an ninh; các khoản trợ cấp đối với lực lượng vũ trang;

     

    - Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm;

     

    - Phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực;

     

    - Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội;

     

    - Trợ cấp đối với các đối tượng được bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật;

    - Phụ cấp phục vụ đối với lãnh đạo cấp cao;

     

    - Trợ cấp một lần đối với cá nhân khi chuyển công tác đến vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ một lần đối với cán bộ, công chức làm công tác về chủ quyền biển đảo theo quy định của pháp luật. Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;

     

    - Phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản;

     

    -         Phụ cấp đặc thù ngành nghề.

    -          

    Câu 2.  Ông Liễu Văn Tam trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 05 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố như sau:

     

        Về điều kiện về địa điểm, trang thiết bị, dụng cụ :

     

        - Bố trí kinh doanh ở khu vực công cộng (bến xe, bến tầu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội, khu triển lãm), hè đường phố; nơi bày bán thực phẩm cách biệt các nguồn ô nhiễm; bảo đảm sạch sẽ, không làm ô nhiễm môi trường xung quanh.

     

        - Trường hợp kinh doanh trên các phương tiện để bán rong phải thiết kế khoang chứa đựng, bảo quản thức ăn ngay, đồ uống bảo đảm vệ sinh, phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng gây hại.

     

       - Nư­ớc để chế biến đơn giản đối với thức ăn ngay, pha chế đồ uống phải đủ số lượng và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT; nước để sơ chế nguyên liệu, vệ sinh dụng cụ, rửa tay phải đủ và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 02:2009/BYT; có đủ nước đá để pha chế đồ uống được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT.

     

        - Có đủ trang thiết bị, dụng cụ để chế biến, bảo quản, bày bán riêng biệt thực phẩm sống và thức ăn ngay; có đủ dụng cụ ăn uống, bao gói chứa đựng thức ăn bảo đảm vệ sinh; có đủ trang bị che đậy, bảo quản thức ăn trong quá trình vận chuyển, kinh doanh và bảo đảm luôn sạch sẽ; bàn ghế, giá tủ để bày bán thức ăn, đồ uống phải cách mặt đất ít nhất 60 cm.

     

       - Thức ăn ngay, đồ uống phải để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản hợp vệ sinh và phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng xâm nhập.

       - Người bán hàng phải mang trang phục sạch sẽ và gọn gàng; khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn, đồ uống ăn ngay phải dùng găng tay sử dụng 1 lần.

     

       - Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bao gói, chế biến sẵn bảo đảm có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định.

     

       - Trang bị đầy đủ, sử dụng thường xuyên thùng rác có nắp, túi đựng để thu gom, chứa đựng rác thải và phải chuyển đến địa điểm thu gom rác thải công cộng trong ngày; nước thải phải được thu gom và bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường nơi kinh doanh.

     

        Đối với người kinh doanh thức ăn đường phố: Ng­ười kinh doanh thức ăn đường phố phải tập huấn và được cấp Giấy xác nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm theo quy định. Người kinh doanh thức ăn đường phố phải được khám sức khoẻ và cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ theo quy định.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Trung Đức trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chế độ ăn, mặc và sinh hoạt của học viên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 111 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, quy định đối tượng được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

     

    1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

     

    a) Đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện;

     

    b) Gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

     

    2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

     

    a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện;

     

    b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy;

     

    c) Đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện.

     

     3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định hoặc người đại diện hợp pháp của họ; trong trường hợp cần thiết thì đề nghị cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị có ý kiến trước khi quyết định.

     

    Quyết định miễn hoặc hoãn chấp hành phải được gửi cho cơ quan thi hành quyết định, người phải chấp hành quyết định; trường hợp người chưa thành niên được hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thì quyết định được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được thắc mắc của thính giả Chu Văn Pho trú tại xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng về việc gia đình ông có 6 người, trong đó có 2 người dưới 15 tuổi, 4 người trong độ tuổi lao động thì có được xác định là hộ nghèo không và tiêu chí để xác định hộ nghèo như thế nào?

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 thì chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 đối với khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;


    – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.( Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin).

     

    Như vậy, để xác định một hộ gia đình là nghèo hay cận nghèo thì phải căn cứ vào các tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Do ông cung cấp không đầy đủ thông tin nên chúng tôi không thể xác định được hộ gia đình nhà ông có đủ điều kiện xét hộ nghèo không.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 24 tháng 10 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Ngọc Châu trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật người lao động phải bồi thường thiệt hại trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động được quy định tại Điều 130 Bộ luật lao động 2012 và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 32 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động, theo đó:

     

    -  Người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề trước khi gây thiệt hại bằng hình thức khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại Khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố.

     

    -  Người lao động phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường khi thuộc một trong các trường hợp sau:

     

    + Do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố;

     

    + Làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao;

     

    + Tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của người sử dụng lao động.

     

    -  Trường hợp người lao động gây thiệt hại cho người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều này mà có hợp đồng trách nhiệm với người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.

     

    -  Trường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa hoặc do sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người sử dụng lao động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì người lao động không phải bồi thường.

     

    - Trình tự, thủ tục và thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại được áp dụng theo trình tự, thủ tục và thời hiệu xử lý kỷ luật lao động.

     

    Câu 2. Ông Vũ Văn Giang trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi gây tiếng ốn tại khu dân cư như mở nhạc to vào đêm khuya, gây tiếng ồn lớn, làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung thì sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Hành vi gây tiếng động lớn, làm ồn ào tại khu dân cư được quy định tại Điều 6 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó:

     

    - Thứ nhất, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    + Gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo tại khu dân cư, nơi công cộng trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau;

     

    + Không thực hiện các quy định về giữ yên tĩnh của bệnh viện, nhà điều dưỡng, trường học hoặc ở những nơi khác có quy định phải giữ yên tĩnh chung;

     

    + Bán hàng ăn, uống, hàng giải khát quá giờ quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

     

    - Thứ hai, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi: Dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền.

     

    Như vậy, người có hành vi mở nhạc to vào ban đêm, gây mất trật tự tại khu dân cư. Theo đó, hành vi này sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

     

    Câu 3. Ông Hứa Mạnh Tú trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: những đối tượng nào được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ theo Điều 22 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014 có quy định: 

    Mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh được áp dụng cho các đối tượng sau:

     

    1. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;

     

    2. Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;

     

    3. Trẻ em dưới 6 tuổi;

     

    4. Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;

     

    5. Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;

     

    6. Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;

     

    7. Trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã;

     

    8. Người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;

     

    Như vậy, người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến thì sẽ được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh kể từ lần khám chữa bệnh tiếp theo.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 17 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Hoàng Minh Trường trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các mức xử phạt khi người điều khiển phương tiện tham gia giao thông có nồng độ cồn trong người?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP, các mức phạt liên quan đến hành vi lái xe khi đã uống rượu, bia như sau:

     

    Với người điều khiển ôtô và các loại xe tương tự 

     

    - Phạt tiền 2.000.000-3.000.000 đồng với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, người vi phạm bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

     

    - Phạt tiền 7.000.000-8.000.000 đồng với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

     

    - Phạt tiền 16.000.000-18.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; hoặc không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 4-6 tháng.

     

    Mức phạt vi phạm nồng độ cồn với người điều khiển xe máy

     

    - Phạt tiền 1.000.000-2.000.000 đồng với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe môtô và các loại xe tương tự xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

     

    - Phạt tiền 3.000.000-4.000.000 đồng với người điều khiển xe không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ; hoặc điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

     

    Câu 2. Ông La Mạnh Hiếu trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: pháp luật quy định khi xin cấp phép xây nhà cần phải có các loại giấy tờ nào?

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định 53/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/6, cá nhân, tổ chức, hộ gia đình muốn xin cấp giấy phép xây dựng cần có một trong 12 loại giấy tờ sau:

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

     

    - Báo cáo rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản chấp thuận về địa điểm xây dựng của UBND  cấp huyện đối với công trình xây dựng biển quảng cáo, trạm viễn thông, cột ăng ten tại khu vực không thuộc nhóm đất có mục đích sử dụng để xây dựng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

     

    - Giấy tờ về đất đai đối với trường hợp được nhà nước giao đất, cho thuê đất.

     

    - Giấy tờ về xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đối với trường hợp cấp phép xây dựng để thực hiện xây dựng mới, chửa chữa, cải tạo hoặc di dời các công trình lịch sử.

     

    - Hợp đồng thuê đất.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

     

    - Hợp đồng thuê đất được giao kết giữa chủ đầu tư xây dựng công trình và người quản lý, sử dụng công trình giao thông hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giao thông đối với công trình được phép xây dựng trong phạm vi đất đanh cho giao thông theo quy định pháp luật.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đề nghị của ơ quan cấp phép xây dựng.

    Câu 3. Ông Mã Văn Kha trú tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng hỏi: Quy định về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống và mức xử phạt đối với hành vi vi phạm?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của pháp luật, các hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, hôn nhân cận huyết là vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm để bảo vệ, xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể các hành vi trên như sau:

     

     1. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, cụ thể là nam chưa đủ 20 tuổi trở lên, nữ chưa đủ 18 tuổi trở lên; Tổ chức tảo hôn, là hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho những người mà mình biết rõ là chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định.

     

     - Chế tài xử lý

     

     Về hành chính: Nghị định 67/2015/NĐ-CP, ngày 14/8/2016 quy định:

     

     + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

     

    + Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.

     

    Về hình sự: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi tảo hôn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ Hiếp dâm trẻ em”, nếu nạn nhân là người dưới 13 tuổi hoặc tội “ Giao cấu với trẻ em” nếu nạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

     

     2. Hôn nhân cận huyết là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

     

    Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau. Những người có họ trong phạm vi ba đời, là những người cùng một gốc sinh ra, gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba. (Bao gồm cả anh chị em trai, anh chị em gái).

     

    Kết hôn cận huyết làm suy giảm sức khỏe, tăng tỷ lệ bệnh tật do kết hợp gen mang lại, gây suy thoái chất lượng giống nòi (như bệnh tan máu bẩm sinh có thể làm trẻ bị biến dạng xương mặt, bụng phình to, nguy cơ tử vong rất cao; sinh ra con dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá…) mở đầu cho cuộc sống tàn phế suốt đời.

     

    Ngoài ra, hôn nhân cận huyết còn ảnh hưởng không tốt đến văn hóa, đạo đức gia đình, phá vỡ và làm xói mòn giá trị truyền thống văn hóa gia đình tốt đẹp của dân tộc ta.

     

     - Chế tài xử lý:

     

     Về hành chính

     

     + Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

     

    + Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.

     

    Về hình sự: Tùy theo tính chất, mức độ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội loạn luân”.

     

    Nhăn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được thư của ông Vũ Đức Minh trú tại thôn Lạng Giai A, xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng thắc mắc về việc giải quyết đơn xin ly hôn giữ ông và Bà Lương Thị Kiến.

     

    Thư của ông phần nơi gửi đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản cho ông trong thời hạn luật định.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 10 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Mai Văn Cường trú tại phường Đông Kinh thành phố Lạng Sơn hỏi: Mức xử phạt đối với những trường hợp nuôi chó, mèo thả rông nơi công cộng?

    Trả lời:

     

    Theo Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn  xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có quy định về mức xử phạt khi thả rông động vật nuôi như sau:

     

    "1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng"

    Bên cạnh đó, ngày 31 tháng 5 năm 2016, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 07/2016/TT-BNPTNT quy định về phòng chống dịch bệnh động vật trên cạn. Theo Phụ lục số 15 kèm theo thông tư này, khi nuôi chó, mèo chủ vật nuôi cần thực hiện theo những quy định sau:

     

    - Đăng ký việc nuôi chó với Ủy ban nhân dân cấp xã tại các đô thị, nơi đông dân cư.

     

    - Đảm bảo các biện pháp an toàn khi nuôi. Cụ thể:

     

    + Xích, nhốt hoặc giữ chó trong khuôn viên gia đình;

     

    + Trong trường hợp đưa chó ra nơi công cộng cần phải bảo đảm an toàn cho người xung quanh bằng cách:

     

    Đeo rọ mõm cho chó hoặc xích giữ chó;

     

    Có người dắt;

     

    - Đảm bảo về vệ sinh môi trường, cảnh quan, không gây ồn ào....

     

    - Chấp hành quy định về tiêm vắc-xin phòng bệnh dại.

     

    - Chịu mọi chi phí trong trường hợp có chó thả rông bị bắt giữ, kể cả chi phí cho việc nuôi dưỡng và tiêu hủy chó. Trường hợp chó, mèo cắn, cào người thì chủ vật nuôi phải bồi thường vật chất cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Ông Ngô Văn An trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: nhà nước quy định như thế nào về tiêu chí để các hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện được?

     

    Trả lời:

     

    Ngày 30/10/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 60/2014/QĐ-TTg về việc quy định tiêu chí hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện. Theo đó, hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện quy định tại Khoản 7 Điều 3 Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng