|
Việt Nam hiện có 15 di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận, cùng hàng vạn di tích, danh lam thắng cảnh được xếp hạng. Những di sản quí giá đó là niềm tự hào của Việt Nam trong quá trình hội nhập cùng thế giới, nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản.
Tôn vinh và tự hào
Việt Nam tự hào có một kho tàng di sản vô cùng phong phú, bao gồm những di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên, các di tích lịch sử..; trên 4 vạn di tích và danh lam thắng cảnh được kiểm kê và xếp hạng, trong đó 10 di tích và danh lam thắng cảnh Quốc gia đặc biệt, trên 3.000 di tích và danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia. Các di tích và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh được xếp hạng cũng ở con số trên 5.000. Số lượng di sản phi vật thể thì vô cùng phong phú, đa dạng, khó có thể liệt kê hết được vì nó gắn bó với phong tục, tập quán, với nếp sống của cộng đồng.
Bên cạnh đó, Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long và Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng; 5 di sản văn hoá thế giới là: Quần thể Di tích Cố đô Huế; Khu Di tích Mỹ Sơn; Phố cổ Hội An; Khu Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long; Di tích Thành nhà Hồ. Các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận gồm: Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian Văn hoá Cồng Chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; Mộc bản Triều Nguyễn, 82 Bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám... Mới đây nhất vào ngày 24/11, hát Xoan Phú Thọ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại; Vịnh Hạ Long - di sản hai lần được UNESCO vinh danh - một lần nữa trở thành niềm tự hào của Việt Nam khi lọt vào danh sách 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới.
Những di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên của Việt Nam sau khi được UNESCO công nhận cùng các di tích và danh lam thắng cảnh được xếp hạng đã có được sức sống mới, thương hiệu mới. Những di sản đã có sức hút mạnh mẽ hơn và trở thành điểm đến du lịch trọng điểm. Nhờ vậy, di sản đang góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam trong cộng đồng thế giới, thu hút khách du lịch đến tìm hiểu về đất nước, con người Việt Nam và tạo nguồn thu lớn để các địa phương có thể tiếp tục công cuộc bảo tồn di sản.
|
|
Nhiều nét văn hóa Việt Nam được giới thiệu trong Tuần văn hóa du lịch
Bắc Trung Bộ 2011 (ảnh: HN)
|
Với danh sách 15 di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên Việt Nam được UNESCO công nhận chỉ trong hơn 1 thập kỷ, có thể thấy sự tích cực cũng như những tiến bộ rõ rệt trong công tác lập hồ sơ cho di sản Việt Nam trình UNESCO. Những di sản này chính là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những di sản của Việt Nam sau khi được UNESCO công nhận, không chỉ là tài sản vô giá của quốc gia nữa mà nó còn là một bộ phận hợp thành di sản văn hoá nhân loại. Chúng ta hoàn toàn có thể tự hào vì kho tàng di sản phong phú, lâu đời và gắn với niềm tự hào ấy là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam trong việc bảo vệ, phát huy giá trị các di sản ấy.
Trách nhiệm đối với di sản
Khi quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cùng với sự giao lưu, hội nhập toàn diện, đã tác động một cách sâu rộng đến mọi lĩnh vực, các di sản văn hóa cũng đang có nguy cơ bị mai một và có thể biến mất, nếu chúng ta không gìn giữ đúng cách. Bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làm cho di sản văn hóa truyền thống tiếp tục tỏa sáng trong xu thế giao lưu, hội nhập là nhiệm vụ quan trọng hiện nay. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài. Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa”.
Trong những năm qua, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực luật pháp, hợp tác quốc tế, các chương trình mục tiêu, việc quy hoạch, thực thi các dự án, việc xây dựng các bảo tàng, công tác đào tạo, công tác xã hội hoá động viên nhân dân cả nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ di sản văn hoá… Đặc biêt, 7 năm qua, cứ vào ngày 23/11, Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam lại được tổ chức nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm của những thế hệ công dân Việt Nam trong việc tiếp nhận và tự mình vươn lên có đủ năng lực và trình độ để gìn giữ di sản của đất nước. Ngày này cũng được chọn là Ngày về nguồn để khuyến khích giới trẻ tìm hiểu về các giá trị di sản văn hoá dân tộc. Chính những chủ trương và chính sách phù hợp trong từng thời kì, giai đoạn của Đảng và Nhà nước đã phát huy giá trị di sản và góp phần tạo nên diệm mạo mới cho di sản.
 |
|
Vịnh Hạ Long (hcmutrans.edu.vn)
|
Tuy nhiên, bên cạnh tự hào và vinh dự, cũng còn có những âu lo, bởi vẫn còn rất nhiều điều trăn trở như việc xuống cấp của các di tích, tính khoa học trong việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hoá… Việc phát triển các đô thị không theo quy hoạch, hoặc quản lý quy hoạch không nghiêm đã, đang và còn tiếp tục chèn lấn, làm mất đi những di sản vô giá. Tại nhiều địa phương, những người làm bảo tồn di tích không được đào tạo chuyên sâu về bảo tồn, tính chuyên nghiệp chưa cao nên đã dẫn đến việc “nghiệp dư hóa công tác bảo tồn”. Đã có nhiều di tích được tôn tạo thiếu sự nghiên cứu khoa học dẫn đến không đúng quy chuẩn, quy cách, làm mất dấu ấn di tích, mất tính lịch sử và do đó mất giá trị gốc của di tích. Bởi vậy, việc trùng tu, tôn tạo, nâng cấp các di sản cần có sự nghiên cứu khoa học, với cách làm bài bản để đảm bảo gìn giữ được những giá trị gốc của di tích, tránh làm biến dạng các di sản văn hóa.
Đối với di sản phi vật thể cũng đang có không ít thách thức. Văn hoá phi vật thể tồn tại trong trí nhớ của một số người mà chúng ta thường gọi là nghệ nhân. Cũng có những giá trị văn hóa truyền thống tồn tại trong nhân dân và chỉ có thể được bảo vệ, gìn giữ bởi nhân dân. Tuy nhiên, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đội ngũ các nghệ nhân cũng ngày càng thưa thớt và hiếm hoi. Bên cạnh đó, cuộc sống xã hội thay đổi khiến cho không gian văn hóa dành cho các loại hình văn hóa này ngày càng thu hẹp hoặc bị “biến dạng”. Số đông giới trẻ hiện nay ít tìm hiểu và không hiểu hết giá trị, cái đẹp của âm nhạc dân tộc, mà có xu hướng ưa chuộng những hình thức âm nhạc mới, hiện đại... Bởi vậy, người dân đóng vai trò quyết định trong việc bảo tồn một cách bền vững các di sản văn hoá phi vật thể của mình. Chính phủ dẫu có đầu tư bao nhiêu tiền của cũng sẽ bất lực nếu như không bồi dưỡng được ý thức cộng đồng tham gia bảo tồn di sản. Điều cần thiết để bảo vệ các giá trị văn hóa phi vật thể chính là sự tuyên truyền rộng rãi để cộng đồng hiểu rõ về các giá trị quí báu của di sản mà họ đang nắm giữ; đồng thời nhân lên niềm đam mê, ý thức bảo vệ di sản trong thế hệ trẻ... Có như vậy, những di sản phi vật thể mới được tiếp nối.
Các di sản là báu vật vô giá, là cả một sự kết tinh của tư tưởng, tài năng sáng tạo của cha ông được truyền lại từ đời này sang đời khác và không ai có thể giữ gìn nét đẹp văn hóa tốt hơn, hiệu quả hơn chính chủ nhân của nó. Vì thế, có thể khẳng định, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản là trách nhiệm của mỗi người dân./.
|