Hà Nội: Kẻ vạch đỗ xe dọc, thí điểm thu phí trông giữ theo giờ

Trên 2 tuyến phố Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo, các xe ô tô được chuyển từ đỗ chéo sang đỗ dọc theo mép đường để thí điểm trông giữ xe theo giờ.
 

ha noi ke vach do xe doc thi diem thu phi trong giu theo gio hinh 1
 
Do đỗ xe dọc nên đường rộng thêm khoảng 1m.
 

Ghi nhận của phóng viên VOV.VN trong sáng 20/3 cho thấy, các điểm trông giữ xe trên 2 tuyến phố này đều được sơn, kẻ lại vạch theo hướng dọc tuyến đường, từng xe đỗ theo hàng đúng quy định. Các xe thay vì đỗ chéo, chiếm nhiều diện tích đường hơn thì nay được kẻ vạch thu nhỏ lại và đỗ mép đường sát với vỉa hè.
 

Theo đánh giá của một số người dân lưu thông trên 2 tuyến phố này, trong khung giờ cao điểm, so với việc đỗ xe chéo, ùn ứ giao thông đã không còn xảy ra bởi diện tích xe chiếm dụng lòng đường của việc đỗ dọc đã giảm tới 1m so với trước kia. Các phương tiện xe máy dễ dàng di chuyển mà không phải lấn làn ra giữa lòng đường.
 

Theo anh Nguyễn Đình Phúc, nhân viên trông giữ xe Công ty TNHH Một thành viên Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội, trông giữ xe tại điểm đỗ trên đường Lý Thường Kiệt cho biết, xe ôtô chuyển từ đỗ chéo sang dọc được thực hiện từ ngày 15/3 vừa qua sau khi cơ quan chức năng tiến hành sơn, kẻ lại vạch.
 

Anh Phúc cho biết, trước kia, lòng đường xe được đỗ chéo trông giữ tới 25 xe nhưng khi chuyển sang đỗ dọc chỉ được 13 xe. Như vậy, diện tích điểm đỗ dành cho xe đã mất 1/2, đó là chưa kể, lái xe lùi vào trông ô cũng khó hơn. Nhưng việc đỗ dọc sẽ giảm ùn tắc giao thông so với đỗ chéo.
 

 

ha noi ke vach do xe doc thi diem thu phi trong giu theo gio hinh 2
Trên 2 tuyến phố Trần Hưng Đạo và Lý Thường Kiệt đã được tổ chức lại giao thông. Theo đó các xe đỗ dọc theo mép trong của đường chứ không đỗ chéo 45 độ như trước.
 

Tuy nhiên, anh Phúc cho rằng, khi đỗ dọc cánh tài xế lo nhất là quệt đầu hay đuôi xe trước và sau khi vào ô đỗ. Thậm chí, nếu chủ xe mỗi khi mở cửa không để ý thì rất dễ gây tai nạn cho người đi đường cùng chiều.
 

“Do diện tích bị thu hẹp, một số chủ xe trước đây gửi bãi này đã chuyển sang đi xe máy hoặc taxi. Có trường hợp, 4 người bạn thường xuyên hẹn nhau tại quán cà phê trên phố này để làm việc đã chuyển từ mỗi người một xe sang đi chung với nhau do không có chỗ gửi xe,” anh Phúc nói.
 

Về vấn đề xếp xe trên tuyến phố Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo đang nghiêng góc 45 độ chuyển sang xếp dọc, đại diện Sở Giao thông Vận tải Hà Nội cho biết, thời gian gần đây, mật độ tham gia giao thông trên các tuyến phố này tăng lên, việc xếp dọc xe sẽ dành thêm nhiều diện tích đường cho phương tiện tham gia giao thông. Mặt khác, sắp tới ứng dụng công nghệ quản lý dịch vụ trông giữ xe từ ngày 1/4 tới đây, phương tiện phải xếp theo chiều dọc thì mới phù hợp.
 

Việc trông giữ xe dưới lòng đường phố Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo được TP. Hà Nội bắt đầu thí điểm từ ngày 1/7/2014 và kéo dài đến nay.
 

Tại Hội nghị quán triệt trật tự đô thị, trật tự an toàn giao thông ngày vừa 4/3 vừa qua, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho rằng, việc trông giữ xe trên lòng đường tại một số tuyến phố Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt để xe chéo 45 độ không hợp lý, gây lấn chiếm lòng đường cần phải chấn chỉnh lại.
 

Để thực hiện thí điểm vào lúc đó, Sở Giao thông Vận tải đã quyết định thu hồi 25 giấy phép trông giữ xe đã cấp cho các đơn vị trên 2 tuyến phố, giao cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội trực tiếp quản lý.Việc trông giữ xe sẽ được thực hiện một bên đường, xe đỗ chéo góc 45 độ. Phí trông giữ xe được thu theo lượt, mỗi lượt 2 tiếng đồng hồ./.

 

Theo VOV Online
Xem tin theo ngày


CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 23/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/CT KINH TOI 23-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 23/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/ct tay 23-6.mp3
Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 23/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/ct dao 23-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 22/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/KINH TOI 22-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 22/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/TAY 22-6.mp3
Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 22/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/DAO 22-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 21/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/KINH TOI 21-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 21/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/CT TAY 21-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 21/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/CT DAO 21-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 20/6/2017
sites/default/files/audio/2017/06/KINH TOI 20-6.mp3

Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 23/6/2017

 

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

  

6h02' : Bản tin sáng ngày 23/6/2017

  

6h08' : Bản tin Quốc tế ngày 23/6/2017

    

6h13’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 149

  

6h18’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 169

  

6h21’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 109

  

6h34’: Chuyên mục  Đại đoàn kết toàn dân

  

6h42’: Chuyên mục  Khoa học công nghệ và Đời sống

  

6h56’: Ký sự  Mê Kông ký sự – Tập 13/92

  

7h15’: Phim hoạt hình  Dive Olly Dive P2 - Tập 36/52

  

7h27’: Chuyên mục  Quốc phòng toàn dân

  

7h38’: Khám phá thế giới  Sinh ra nơi hoang dã – Tập 2

  

8h07’: Chuyến xe nhân ái  Long An

  

8h34’: Ca nhạc   Hương Rừng

 

8h58’: Bản tin sáng ngày 23/6/2017

 

9h04’: Bản tin quốc tế ngày  23/6/2017

 

9h10’: Bản tin tiếng trung ngày  23/6/2017

  

9h25’: TT thị trường vùng cao  Số 25

 

9h36’: Hành tinh thể thao ngày 23/6/2017

 

10h00’: Thời sự tổng hợp ngày ngày 22/6/2017

  

10h32’: Chuyên mục  Vấn đề hôm nay

  

10h38’: Chuyên mục  Tuổi trẻ Xứ Lạng

  

10h50’: Chuyên mục  Thi đua yêu nước

  

10h54’: Phim truyện  Án tình tuổi 17 - Tập 8/22 Phim ĐL

  

11h45’: Bản tin trưa ngày 23/6/2017

  

12h00’: Phim truyện  Tân vịnh xuân quyền – Tập 41/50 Phim TQ

  

12h45’: Văn hoá thể thao Xứ Lạng  Số 4/2017

 

13h11’: Chương trình truyền hình tương tác Play Music

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 23/6/2017

  

15h16’: Phim truyện  Tình yêu còn mãi – Tập 39/55 Phim HQ

  

16h00’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 149

  

16h04’: Những phát minh làm TĐTG  Máy đo nồng độ cồn

  

16h20’: Chuyên mục  Bảo hiểm xã hội với cuộc sống

  

16h30’: Chuyên mục  Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay

  

16h40’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 23/6/2017

  

17h10’: Trang THCS  Số 113 – Huyện Văn Quan

  

17h24’: Bản tin tiếng Trung ngày 23/6/2017 

  

17h44’: Phim hoạt hình  Dive Olly Dive P2 – Tập 36/52

  

17h54’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 169

  

18h00’: Phim truyện  Sắc đẹp và tội ác – Tập 54/84 Phim HQ

  

18h46’: Chuyên mục  An toàn giao thông

 

19h00': Chuyển tiếp chương trình thời sự VTV1

 

19h50': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 23/6/2017

 

20h27’: Bản tin thể thao ngày 23/6/2017

  

20h33’: Chuyên mục  Vấn đề hôm nay

  

20h38’: Chuyên mục  Trang truyền hình thành phố

  

20h50’: Chuyên mục  Lao động và công đoàn

  

21h00’: Phim truyện  Án tình tuổi 17 – Tập 9/22 Phim ĐL

  

21h46’: Chuyên mục  Giáo dục và Đào tạo

  

21h58’: Chuyên mục  Sức khỏe và đời sống

  

22h08’: Phim truyện  Tân vịnh xuân quyền – Tập 42/50 Phim TQ

  

22h53’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 149

  

22h58’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 169

  

23h02’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 109

  

23h13’: Thăm nhà người nổi tiếng  Lý Hùng

  

23h31’: Ca nhạc  Tình quê

 

  •  

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 20 tháng 6 năm 2017

     

     

     

    Câu 1. Ông Hoàng Vũ Tùng trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Thủ tục tiếp nhận, xác minh nạn nhân bị mua bán trong nước được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo Điều 24 Luật phòng, chống mua bán người quy định:

    1. Nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất khai báo về việc bị mua bán. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận khai báo có trách nhiệm chuyển ngay người đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận nạn nhân thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân.

    2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được thông báo của Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện việc tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân và phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp xác định thông tin ban đầu về nạn nhân trong trường hợp họ chưa có một trong các giấy tờ, tài liệu quy định bao gồm

    - Giấy xác nhận của cơ quan Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định.

    - Giấy xác nhận của cơ quan giải cứu theo quy định.

    - Giấy xác nhận của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân.

    - Giấy tờ, tài liệu do cơ quan nước ngoài cấp đã được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Bộ Ngoại giao Việt Nam hợp pháp hóa lãnh sự chứng minh người đó là nạn nhân.

    3. Sau khi tiếp nhận, căn cứ vào giấy tờ, tài liệu quy định hoặc kết quả xác định thông tin ban đầu về nạn nhân, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét để thực hiện việc hỗ trợ chi phí đi lại trong trường hợp nạn nhân tự trở về nơi cư trú; đối với nạn nhân là trẻ em thì thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích cư trú; trường hợp nạn nhân cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý và có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì làm thủ tục chuyển giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Đối với người chưa có giấy tờ, tài liệu chứng nhận là nạn nhân thì Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị cơ quan Công an cùng cấp tiến hành việc xác minh.

    4. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp có đủ điều kiện xác định là nạn nhân thì cơ quan đã tiến hành xác minh cấp giấy xác nhận nạn nhân cho họ.

     

    Câu 2. Ông Hứa Văn Tuấn trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Pháp luật quy định hành vi nào bị nghiêm cấm để bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em?

    Trả lời: Theo Điều 6, Luật Trẻ em năm 2016 quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với trẻ em bao gồm:

    1. Tước đoạt quyền sống của trẻ em.

    2. Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

    3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.

    4. Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn.

    5. Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.

    6. Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.

    7. Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.

    8. Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc Điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.

    9. Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.

    10. Cung cấp dịch vụ Internet và các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.

    11. Công bố, Tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em.

    12. Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ, chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân dành cho trẻ em để trục lợi.

    13. Đặt cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, Điểm vui chơi, giải trí của trẻ em hoặc đặt cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, Điểm vui chơi, giải trí của trẻ em gần cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ.

    14. Lấn chiếm, sử dụng cơ sở hạ tầng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí và hoạt động dịch vụ bảo vệ trẻ em sai Mục đích hoặc trái quy định của pháp luật.

    15. Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp, Điều trị trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm.

    Câu 3. Ông Nông Văn Phúc trú tại trị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Các chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi, đối tượng được hưởng chính sách bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 17 Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định các chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi bao gồm:

    1. Bố trí ngân sách hằng năm phù hợp để thực hiện chính sách chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

    2. Bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    3. Lồng ghép chính sách đối với người cao tuổi trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

    4. Phát triển ngành lão khoa đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho người cao tuổi; đào tạo nhân viên chăm sóc người cao tuổi.

    5. Khuyến khích, tạo điều kiện cho người cao tuổi rèn luyện sức khoẻ; tham gia học tập, hoạt động văn hoá, tinh thần; sống trong môi trường an toàn và được tôn trọng về nhân phẩm; phát huy vai trò người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    6. Khuyến khích, hỗ trợ cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tuyên truyền, giáo dục ý thức kính trọng, biết ơn người cao tuổi, chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi.

    7. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi.

    8. Xử lý nghiêm minh cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Đối tượng được hưởng chính sách Bảo trợ xã hội là:

    1. Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng những người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng.  

    2. Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc trường hợp người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 13 tháng 6 năm 2017

     

     

     

     

    Câu 1. Ông Vi Mạnh Chinh trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi? Quy trình Tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

    Theo Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định việc Tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh như sau:

    1. Khi công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân có trách nhiệm đón tiếp, yêu cầu họ nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc hướng dẫn người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày nội dung vụ việc.

    2. Nội dung trình bày phải được ghi vào sổ tiếp công dân gồm; số thứ tự, ngày tiếp, họ tên, địa chỉ, nội dung sự việc, quá trình xem xét, giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; việc tiếp nhận, xử lý vụ việc.

    Trường hợp người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chưa có đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân hướng dẫn viết đơn hoặc ghi lại đầy đủ, chính xác nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh bằng văn bản và yêu cầu họ ký xác nhận hoặc điểm chỉ; trường hợp nội dung trình bày chưa rõ ràng, đầy đủ thì người tiếp công dân đề nghị người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày bổ sung hoặc bổ sung tài liệu, chứng cứ.

    3. Trường hợp trong đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân hướng dẫn người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh viết thành đơn riêng để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị hoặc phản ánh với cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.

    Việc phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết

    1. Việc phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết trong quá trình tiếp công dân được thực hiện như sau:

    a) Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình và đủ điều kiện thụ lý thì người tiếp công dân tiếp nhận thông tin, tài liệu, chứng cứ kèm theo, đồng thời báo cáo với người có thẩm quyền thụ lý;

    b) Trường hợp khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền để khiếu nại, tố cáo. Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới mà chưa được giải quyết thì người tiếp công dân báo cáo người có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết;

    c) Trường hợp khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết đúng chính sách, pháp luật thì người tiếp công dân giải thích, hướng dẫn để người đến khiếu nại, tố cáo chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo và yêu cầu công dân chấm dứt việc khiếu nại, tố cáo;

    d) Trường hợp nhận được đơn khiếu nại, tố cáo không do người khiếu nại, người tố cáo trực tiếp chuyển đến thì thực hiện việc phân loại và xử lý theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    2. Việc phân loại, chuyển nội dung kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết trong quá trình tiếp công dân được thực hiện như sau:

    a) Trường hợp kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người tiếp công dân báo cáo người có thẩm quyền để nghiên cứu, xem xét, giải quyết hoặc phân công bộ phận nghiên cứu, xem xét, giải quyết;

    b) Trường hợp kiến nghị, phản ánh không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người tiếp công dân chuyển đơn hoặc chuyển bản ghi lại nội dung trình bày của người kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền để nghiên cứu, tiếp thu, xem xét, giải quyết.

     Trách nhiệm thông báo cho Ban tiếp công dân, người tiếp công dân về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được chuyển đến

    1. Khi nhận được nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do bộ phận tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình chuyển đến, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm xem xét, xử lý hoặc phân công bộ phận chuyên môn xem xét, xử lý và thông báo kết quả xử lý cho người tiếp công dân để thông báo lại cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định..

    2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận được khiếu nại, tố cáo do cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban tiếp công dân chuyển đến có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật và thông báo kết quả cho cơ quan, người đã chuyển đơn biết trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày vụ việc được giải quyết; trường hợp vụ việc đã được giải quyết trước đó thì thông báo ngay cho cơ quan, người đã chuyển đơn biết.

    Thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

    1. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, người tiếp công dân có trách nhiệm trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản đến người đã đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một trong các nội dung sau đây:

    a) Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được thụ lý để giải quyết;

    b) Việc xem xét khiếu nại, tố cáo để thụ lý cần kéo dài thời gian do cần xác minh thêm theo quy định của Luật khiếu nại, Luật tố cáo;

    c) Từ chối thụ lý đối với khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc không đủ điều kiện thụ lý;

    d) Nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.

    2. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo cho người khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban tiếp công dân có trách nhiệm thông báo cho người khiếu nại, tố cáo về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong trường hợp người đó đã có yêu cầu trước đó.

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Văn Chung trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thủ tục xin cấp lại sổ hộ khẩu được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 24 Luật cư trú 2006:

    1. Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.

    2. Sổ hộ khẩu bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại.

    3. Bộ Công an phát hành mẫu sổ hộ khẩu và hướng dẫn việc cấp, cấp lại, đổi, sử dụng, quản lý sổ hộ khẩu thống nhất trong toàn quốc.

    * Căn cứ tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA, hồ sơ cấp lại sổ hộ khẩu gồm có:

    - Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. Trường hợp cấp lại sổ hộ khẩu tại thành phố, thị xã thuộc tỉnh và quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

    *  Nơi nộp hồ sơ cấp lại sổ hộ khẩu:

    - Đối với thành phố trực thuộc Trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã.

    - Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện; Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    * Thời hạn giải quyết:

    Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền phải cấp lại sổ hộ khẩu cho công dân (khoản 3 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA).

    Khoản 2 Điều 3 Thông tư 02/2014/TT-BTC quy định lệ phí cấp lại sổ hộ khẩu không quá 20.000 đồng/lần cấp.

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của tập thể công nhân làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn thực nghiệp Hàng Phong có trụ sở tại thôn Khỏn Phổ, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn thắc mắc về việc chưa được bồi thường, hỗ trợ tiền lương khi công ty phải ngừng sản xuất để di rời giải phóng mặt bằng phục vụ cho việc thực hiện dự án khu đô thị phía nam Mai Pha.

     

    Đơn của tập thể công nhân làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn thực nghiệp Hàng Phong đã được chúng tôi chuyển đến UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét giải quyết và trả lời.

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 6 tháng 6 năm 2017

     

     

     

    Câu 1. Ông Lành Tiến Mạnh trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất được xác định trên các căn nào?

    Trả lời:

              Theo Điều 3, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về Căn cứ tính tiền sử dụng đất: thì người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Luật Đất đai và được xác định trên các căn cứ sau:

    1. Diện tích đất được giao, được chuyển mục đích sử dụng, được công nhận quyền sử dụng đất.

    2. Mục đích sử dụng đất.

    3. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất:

    a) Giá đất theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định áp dụng trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân được công nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất ở trong hạn mức.

    Việc xác định diện tích đất trong hạn mức tại Điểm này phải đảm bảo nguyên tắc mỗi hộ gia đình (bao gồm cả hộ gia đình hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật), cá nhân chỉ được xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở một lần và trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì hộ gia đình, cá nhân đó được cộng dồn diện tích đất của các thửa đất để xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở nhưng tổng diện tích đất lựa chọn không vượt quá hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nơi lựa chọn.

    Hộ gia đình, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai diện tích thửa đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở được áp dụng tính thu tiền sử dụng đất; nếu bị phát hiện kê khai gian lận sẽ bị truy thu nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai và bị xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế.

    b) Giá đất cụ thể được xác định theo các phương pháp so sánh trực tiếp, chiết trừ, thu nhập, thặng dư quy định tại Nghị định của Chính phủ về giá đất áp dụng trong các trường hợp sau:

    - Xác định tiền sử dụng đất đối với trường hợp diện tích tính thu tiền sử dụng đất của thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) từ 30 tỷ đồng trở lên đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 20 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh còn lại trong các trường hợp: Tổ chức được giao đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất; hộ gia đình, cá nhân được giao đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; được công nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất ở vượt hạn mức.

    - Xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất.

    c) Giá đất cụ thể được xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng đối với trường hợp diện tích tính thu tiền sử dụng đất của thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với các tỉnh còn lại áp dụng để xác định tiền sử dụng đất trong các trường hợp:

    - Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

    - Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất;

    - Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất ở vượt hạn mức.

    Hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất để áp dụng cho các trường hợp quy định tại Điểm này."

     

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Quyên, trú tại xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành, người lao động nữ được hưởng các chính sách, chế độ gì khác với người lao động là nam giới.

    Trả lời: Để đảm bảo quyền làm việc và quyền bình đẳng giới của phụ nữ, tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện quyền lao động và thiên chức làm mẹ, chăm sóc và nuôi dạy trẻ. Bộ luật lao động 2012 và Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính phủ quy định cụ thể như sau:

     

    1. Chính sách hỗ trợ, khuyến khích

    - Nhà nước đảm bảo quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ, khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà và có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình.

    - Người sử dụng lao động, có sử dụng nhiều lao động nữ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế. Các khoản chi tăng thêm cho lao động nữ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính. Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ.

    2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ

     

    Khi sử dụng lao động nữ, người sử dụng lao động phải tuân theo một số nghĩa vụ sau đây: 

    - Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.

    - Tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ. Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc;

    - Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ.

    3. Chế độ làm việc, chế độ thai sản của lao động nữ

     

    - Người sử dụng lao động, không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa trong trường hợp: Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

    - Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương. NSDLĐ không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp NSDLĐ là cá nhân chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc NSDLĐ không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.

    - Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút,  tối thiểu là 03 ngày trong một tháng; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo HĐLĐ.

     

    - Lao động nữ trước và sau khi sinh con được nghỉ thai sản, hưởng nguyên lương trong thời gian là 06 tháng. Hết thời gian nghỉ thai sản 06 tháng, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với NSDLĐ. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    4. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai

    Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động, kèm theo ý kiến đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

    Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

     

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Nguyễn Thị Thuận trú tại tổ 4, khối 8, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi về việc Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã chậm giải quyết theo luật định trong vụ kiện đòi tài sản của gia đình bà.

     

    Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để xem xét trả lời và giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 30 tháng 5 năm 2017

     

     

    Câu 1. Bà Vy Thị Lý trú tại thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập hỏi: Mức cho vay, lãi suất, thời hạn và điều  kiện, thủ tục cho vay đối với hộ cận nghèo?

     

    Trả lời:

     

    Theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg, ngày 23/2/2013 cuả Thủ tướng Chính phủ quy định về tín dụng đối với hộ cận nghèo thì mức cho vay đối với hộ cận nghèo do Ngân hàng Chính sách xã hội và hộ cận nghèo thỏa thuận nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa phục vụ sản xuất kinh doanh áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ.

     Lãi suất cho vay bằng 130% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo quy định trong từng thời kỳ. Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay. Thời hạn cho vay do Ngân hàng Chính sách xã hội và hộ cận nghèo vay vốn thỏa thuận phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

     Điều kiện, hồ sơ, thủ tục và quy trình cho vay đối với hộ cận nghèo được thực hiện như đối với cho vay hộ nghèo, cụ thể như sau:

    a) Điều kiện để được vay vốn:

    - Người vay cư trú hợp pháp tại địa phương;

    - Có tên trong danh sách hộ nghèo được UBND cấp xã quyết định theo chuẩn hộ cận nghèo;

    - Được Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét, lập thành danh sách có xác nhận của UBND cấp xã.

    b) Hồ sơ vay vốn bao gồm:

    Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (bản chính).

    Số bộ hồ sơ: Một bộ.

    c) Thủ tục cho vay:

    Bước 1:

    - Người vay tự nguyện gia nhập Tổ tiết kiệm và vay vốn tại nơi sinh sống.

    - Người vay viết giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay gửi Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn.

    Bước 2:

    - Tổ tiết kiệm và vay vốn nhận giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của tổ viên, tiến hành tổ chức họp tổ để bình xét cho vay, kiểm tra các yếu tố trên giấy đề nghị vay vốn, đối chiếu với đối tượng xin vay đúng với chính sách vay vốn của Chính phủ. Nếu hồ sơ vay vốn chưa đúng thì hướng dẫn người vay làm lại. Sau đó lập danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn kèm giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của các tổ viên trình UBND cấp xã.

    - UBND cấp xã xác nhận các hộ xin vay đúng là những hộ thuộc diện nghèo theo quy định và hiện đang cư trú hợp pháp tại xã trên danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH

    - Sau khi có xác nhận của UBND cấp xã, Tổ tiết kiệm và vay vốn có trách nhiệm gửi bộ hồ sơ xin vay tới NHCSXH cấp huyện để làm thủ tục phê duyệt cho vay.

    Bước 3:

    - NHCSXH nhận bộ hồ sơ vay vốn tiến hành xem xét, phê duyệt cho vay.

    - Sau khi phê duyệt, NHCSXH gửi thông báo kết quả phê duyệt cho vay tới UBND cấp xã.

    Bước 4:

    - UBND cấp xã thông báo đến tổ chức hội, đoàn thể nhận ủy thác cấp xã để thông báo tới Tổ tiết kiệm và vay vốn và Tổ tiết kiệm và vay vốn thông báo đến người vay.

    Câu 2. Ông Nguyễn Trung Thành trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc?

    Trả lời:

    Theo Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao bồm:

    1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

    2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

    a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

    b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

    c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.”

    Như vậy, theo quy định, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện hoặc người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định.

     

    Câu 3. Ông Nông Thanh Tú trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký hộ tịch trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời: Theo Khoản 1, Điều 7, luật Hộ tịch quy định Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau:

    - Đăng ký sự kiện hộ tịch về: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Khai tử cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

    - Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

    - Thực hiện các việc hộ tịch: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.

    - Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

    Theo Khoản 2, Điều 7, luật Hộ tịch quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau:

    - Đăng ký sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài, bao gồm: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử.

    - Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc;

    - Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện: khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

    * Trừ trường hợp: Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 23 tháng 5 năm 2017

     

     

     

    Câu 1. Nông Thế Thành trú tại xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn hỏi: theo quy định của pháp luật thì đối tượng nào được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng?

     

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thì những đối tượng sau sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng:

     1. Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

    a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

    b) Mồ côi cả cha và mẹ;

    c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;

    d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

    g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thi gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    1) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ s bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

    2. Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

    3. Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.

    4. Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

    5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

    b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

    c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.

    6. Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

    Câu 2. Ông Nguyễn Ngọc Hoàn trú tại xã Vân Thủy, huyện Chi Lăng hỏi: Mức cho vay ưu đãi đối với Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là bao nhiêu? Đối tượng nào được vay chương trình này?

     

    Trả lời:

    Theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg ngày 03/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Điều 3 Quyết định sổ 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, mức cho vay đối với chương trình này là 6 triệu đồng/công trình/hộ. Như vậy, đối với 1 hộ sẽ được xem xét cho vay tối đa là 12 triệu đồng cho công trình cung cấp nước sạch và công trình xây dựng nhà vệ sinh.

    Cũng theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg, đối tượng được vay vốn Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là: “Hộ gia đình định cư hợp pháp tại địa phương thuộc khu vực nông thôn chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh và hộ gia đình sau khi đã trả hết nợ vốn vay, có nhu cầu vay mới để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã sử dụng nhiều năm, bị hư hỏng, xuống cấp, không đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia được UBND cấp xã xác nhận”.

    Câu 3. Bà Lê Kim Ngọc, trú tại đường Văn Miếu, Khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc chia tài sản khi vợ chồng ly hôn được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi ly hôn, việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Về nguyên tắc, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

    1. Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    2. Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    3. Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    4. Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    5. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

    6. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

    Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

    7. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn thắc mắc về việc UBND thành phố Lạng Sơn đã thực hiện việc phá dỡ nhà ở, công trình xây dựng tại khu dân cư khi chưa có phương án được phê duyệt. Chúng tôi đã chuyển Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 16 tháng 5 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Hoàng Đức Lộc trú tại xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi: những trường hợp nào chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan có thẩm quyền?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 57 Luật đất đai năm 2013, các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan có thẩm quyền bao gồm:

    - Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

    - Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

    - Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

    - Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

    - Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

    - Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

    - Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

    Theo đó, người sử dụng đất phải nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính. Đối với trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Sau đó, người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

     

    Câu 2. Ông Bế Đức Hoan trú tại xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi: Chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở được quy định như thế nào, đối tượng và điều kiện áp dụng đối với chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở?

     

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 1, Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở thì khi áp dụng chính sách hỗ trợ hộ gia đình người có công với cách mạng về nhà ở cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

    - Hỗ trợ cho hộ gia đình mà người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ hiện đang ở và có hộ khẩu thường trú tại nhà ở đó trước ngày 15/6/2013.

    - Cần huy động từ nhiều nguồn vốn để thực hiện: Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia đình tham gia đóng góp và tự tổ chức xây dựng nhà ở.

    - Sau khi được hỗ trợ, các hộ xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đã có, đảm bảo diện tích sử dụng tối thiểu 30 m2 (đối với những hộ độc thân thì có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không thấp hơn 24 m2); đảm bảo “3 cứng” (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng).

    Về đối tượng áp dụng

    Chính sách hỗ trợ này được áp dụng đối với những hộ gia đình có một hoặc nhiều người có công với cách mạng. Trong đó, người có công với cách mạng được liệt kê tại Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của  Pháp lệnh 26/2005/PL-UBTVQH11 về ưu đãi người có công với cách mạng của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bao gồm:

    - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.

    - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

    - Liệt sĩ.

    - Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

    - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    - Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến.

    - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.

    - Bệnh binh.

    - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

    - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.

    - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.

    - Người có công giúp đỡ cách mạng.

    Về điều kiện áp dụng

    Căn cứ Điều 2 của Quyết định này hộ gia đình được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau:

    - Là hộ gia đình có người có công với cách mạng đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận nêu ở trên.

    - Nhà đang ở là nhà tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng (kể cả các hộ đã được hỗ trợ theo các chính sách khác trước đây) với mức độ như sau:

    + Phải phá dỡ để xây mới nhà ở.

    + Phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở.

    Về mức hỗ trợ

    Theo Điều 3 Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) được phân bổ như sau:

    - Hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải phá dỡ để xây mới nhà ở .

    - Hỗ trợ 20 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở.

    Các hộ gia đình nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên có thể chủ động làm đơn và gửi hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí về nhà ở tới Ủy ban nhân dân cấp xã. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách hộ người có công với cách mạng được hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hỗ trợ cho các hộ gia đình thuộc diện được hỗ trợ.

     

    Câu 3. Bà Nguyễn Mai Hoa trú tại Phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện để người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp?

    Trả lời: Điều 49 Luật Việc làm 2013 quy định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

    - Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

    - Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

    2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn); đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng;

    3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định;

    4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

    - Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

    - Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

    - Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    - Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

    - Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

    - Người lao động chết.

    Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp

    Theo Điều 16 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gồm:

    1. Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

    2. Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:

    - Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

    - Quyết định thôi việc;

    - Quyết định sa thải;

    - Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

    - Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

    3. Sổ bảo hiểm xã hội.

    Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động.

     

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn thắc mắc về việc UBND thành phố Lạng Sơn đã thực hiện việc phá dỡ nhà ở, công trình xây dựng tại khu dân cư khi chưa có phương án được phê duyệt. Chúng tôi đã chuyển Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 9 tháng 5 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Lý Minh Sơn trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc được quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 28 và khoản 1 Điều 47 Luật Hộ tịch thì trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc được áp dụng thống nhất cho cả cấp huyện và cấp xã, cụ thể như sau:

    1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp yêu cầu xác định lại dân tộc thì phải có giấy tờ làm căn cứ chứng minh theo quy định của pháp luật.

    2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch, công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho người yêu cầu.

    Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch, công chức làm công tác hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

    Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

    3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

    Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

    Câu 2: Ông Vương Tiến Bình trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Nhà nước kéo đường dây điện cao thế đi qua trên nhà và đất của gia đình tôi và không thuộc diện phải giải tỏa, thu hồi đất thì gia đình tôi có được bồi thường, hỗ trợ không?

     

    Trả lời:

    Theo Điều 19, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP về Bồi thường, hỗ trợ đối với đất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không:

    1. Đất ở, các loại đất khác trong cùng thửa với đất ở của một chủ sử dụng trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không điện áp đến 220Kv thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất thì chủ sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện một lần như sau:

    a) Đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là loại đất ở được quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai;

    b) Diện tích đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là diện tích đất ở thực tế trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi đất ở, tính trên diện tích đất nằm trong hành lang;

    c) Trên cùng một thửa đất, bao gồm đất ở và các loại đất khác của một chủ sử dụng đất, khi bị hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không chiếm dụng khoảng không lớn hơn hạn mức đất ở thì phần diện tích các loại đất khác trên cùng thửa đất trong hành lang cũng được bồi thường, hỗ trợ. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi các loại đất khác đó tính trên diện tích các loại đất khác nằm trong hành lang;

    d) Trường hợp đất ở không phải là đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ dựa trên điều kiện thực tế của từng địa phương.

    2. Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không thì chủ sử dụng đất được hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc hỗ trợ được thực hiện một lần, không lớn hơn 30% mức bồi thường thu hồi đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, tính trên diện tích đất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không.

    3. Mức bồi thường, hỗ trợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể. Kinh phí chi trả từ nguồn vốn đầu tư của chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp.

    Như vậy theo quy định trên nếu nhà ông có đường dây điện cao thế đi qua mà không phải thu hồi đất và nhà thì ông sẽ được bồi thường và hỗ trợ theo quy định trên.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Ngọc Bồng trú tại Pò Bó, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Gia đình có đất đang sử dụng hợp pháp, đã kê khai để chia cho các con là công chức nhà nước, nhưng Cán bộ địa chính xã trả lời các con tôi không thuộc đối tượng được nhận quyền sử dụng đất là đúng hay sai? căn cứ vào văn bản pháp luật nào?

     

     

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 191, Luật Đất đai 2013 quy định những trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất gồm:

     

    1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

    2. Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    3. Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.

    4. Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó.

    Do trong thư hỏi ông không nói rõ đất mà ông chia cho các con là loại đất gì, đề nghị ông tham khảo quy định trên của Điều luật. Nếu các con ông là công chức thì  sẽ không được nhận quyền sử dụng đất trồng lúa, còn đối với đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích khác sẽ không bị giới hạn.

     

     

    Nhắn tin: trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Hoàng Kim Bảo trú tại thôn Tòng Chu, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia hỏi về việc tranh chấp đất đai của gia đình ông.

    Về vấn đề ông hỏi đề nghị ông làm đơn gửi đến UBND xã nơi có đất tranh chấp để được hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013. Nếu việc tranh chấp đất đai của gia đình ông hòa giải không thành thì ông có thể gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

     

    2. Ông Lộc Giáo Phương trú tại thôn Chè Lân, xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi về việc truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho mẹ ông.

     

    Hiện nay hồ sơ truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng của mẹ ông đã được Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước xem xét quyết định truy tặng danh hiệu vinh dự Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho mẹ ông.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 2 tháng 5 năm 2017

     

     

     

    Câu 1. Ông Hoàng Văn Mạnh trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Những trường hợp nào khi tham gia giao thông mà vi phạm nhiều lần sẽ bị tịch thu phương tiện?

    Trả lời: Theo Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thì những trường hợp sau đây ngoài việc bị phạt tiền từ 5-7 triệu đồng nếu tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần sẽ bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 3-5 tháng thì sẽ bị tịch thu phương tiện:

    1. Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe.

    2. Dùng chân điều khiển xe.

    3. Ngồi về một bên điều khiển xe.

    4. Nằm trên yên xe điều khiển xe.

    5. Thay người điều khiển khi xe đang chạy.

    6. Quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe.

    7. Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị.

    8. Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh.

    9. Điều khiển xe thành nhóm từ hai xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

    Ngoài ra, nếu người thực hiện những hành vi trên gây ra tai nạn giao thông, tùy tính chất, mức độ của hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Chị Nông Thị Mai trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về việc mang thai hộ? Các bên có quyền và nghĩa vụ như thế nào đối với việc mang thai hộ?

    Trả lời: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con  được quy định tại khoản 22 Luật hôn nhân gia đình 2014.

    Theo đó, điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 của Luật như sau: Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

    Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

    - Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

    - Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

    - Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

    - Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

    - Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại điều 97 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

    1. Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

    2. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

    3. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

    4. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

              Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    5. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

     

    Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: 

    - Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    - Vợ chồng đang không có con chung;

    - Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại điều 98 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

    1. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

    2. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

    3. Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan; nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.

    4. Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.

    5. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

     

    Câu 3. Ông Bế Ngọc Hùng trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những trường hợp nào bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai?

    Trả lời: Theo Điều 64, Luật Đất đai năm 2013 quy định các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

    a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

    b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

    c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

    d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

    đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

    e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

    g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

    h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

    i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

    Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được  thư của ông Vy Văn Bộ trú tại thôn Khuổi Phầy, xã Hải Yến, huyện Cao Lộc về việc ông không đồng ý với kết quả giải quyết vụ tai nạn giao thông liên quan đến con trai ông.

    Đề nghị ông liên hệ với Công an huyện Hữu Lũng để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 25 tháng 4 năm 2017

    Câu 1. Ông Nguyễn Đức Dũng trú tại Phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: những đối tượng nào phải công khai, minh bạch tài sản thu nhập?

    Trả lời: Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định cụ thể về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập bao gồm:

     

    1.      Đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách, người

    ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, người được dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

     

         2. Cán bộ, công chức từ Phó trưởng phòng của Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên và người được hưởng phụ cấp chức vụ tương đương (có hệ số phụ cấp chức vụ từ 0,2 trở lên) trong cơ quan, đơn vị của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức, đơn vị khác được giao biên chế và có sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước.

       

    3. Sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó tiểu đoàn trưởng, người hưởng phụ cấp chức vụ tương đương Phó tiểu đoàn trưởng trở lên trong Quân đội nhân dân; sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó tiểu đoàn trưởng, Phó trưởng công an phường, thị trấn, Phó đội trưởng trở lên trong Công an nhân dân.

     

       4. Người giữ chức vụ tương đương Phó trưởng phòng trở lên tại các đơn vị sự nghiệp công lập như: bệnh viện, viện nghiên cứu, cơ quan báo, tạp chí, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

     

       5. Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học, trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, người giữ chức vụ tương đương Phó trưởng phòng trở lên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề của Nhà nước.

     

       6. Người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước: Thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành viên, thành viên ban kiểm soát, kiểm soát viên, người giữ chức danh quản lý tương đương từ Phó trưởng phòng trở lên; Người được cử làm đại diện phần vốn của Nhà nước, phần vốn của doanh nghiệp nhà nước và người đó giữ chức danh quản lý từ Phó trưởng phòng trở lên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước, của doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp liên doanh, liên kết).

     

        7. Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó chủ tịch, ủy viên Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; chỉ huy trưởng quân sự, công chức địa chính, xây dựng, tài chính, tư pháp - hộ tịch xã, phường, thị trấn; Trưởng công an xã.

     

        8. Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm tra viên, thẩm phán, thư ký Tòa án, kiểm toán viên nhà nước, thanh tra viên, chấp hành viên, công chứng viên nhà nước.

     

        9. Ngoài ra, đối tượng kê khai tài sản, thu nhập là những công chức, viên chức không giữ chức vụ trong các cơ quan của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập nhưng được bố trí thường xuyên làm các công việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước; Trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong các lĩnh vực như: Tổ chức cán bộ, tài chính, ngân hàng, công thương, xây dựng, giao thông, y tế, văn hóa - thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông, tài nguyên và môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn, đầu tư và ngoại giao, tư pháp, lao động - thương binh và xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, quốc phòng, công an, thanh tra và Phòng, chống tham nhũng.

    Câu 2. Ông Nông Mạnh Trường trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi tịch thu tạm giữ phương tiện của người vi phạm hành chính thì cơ quan chức năng có thẩm quyền tạm giữ có trách nhiệm như thế nào đối với phương tiện bị tịch thu?

    Trả lời: Khi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt người bị xử phạt, đại diện tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm phong phải được ghi nhận vào biên bản. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị tạm giữ, người có thẩm quyền xử phạt thấy tình trạng tang vật, phương tiện có thay đổi so với thời điểm ra quyết định tạm giữ thì phải lập biên bản về những thay đổi này; biên bản phải có chữ ký của người lập biên bản, người có trách nhiệm tạm giữ và người chứng kiến.

     

    Thông tư số: 47/2014/TT-BCA của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính  bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Cụ thể như sau:

     

        - Về điều kiện nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu:

     

        Đối với nơi tạm giữ là nhà, kho, bãi thì phải bảo đảm an toàn, điều kiện vệ sinh môi trường và không gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người.

     

      Trường hợp nơi tạm giữ tang vật, phương tiện ở ngoài trời thì phải bố trí mái che hoặc phương tiện chống mưa, nắng khác; Phải bảo đảm khô ráo, thoáng khí; có hệ thống thiết bị chiếu sáng; Xung quanh phải có hàng rào bảo vệ an toàn, có hệ thống thoát nước; Phải có nội quy về phòng cháy và chữa cháy; trang bị phương tiện phòng, cháy, chữa cháy phù hợp; Có các thiết bị, phương tiện kỹ thuật phù hợp cho việc quản lý, bảo quản từng loại tang vật, phương tiện bị tạm giữ. Thủ trưởng nơi tạm giữ tang vật, phương tiện phải xây dựng và tổ chức thực tập phương án phòng, chống cháy, nổ.

     

        Đối với nơi tạm giữ là bến nước, âu thuyền thì phải đảm bảo an toàn, điều kiện vệ sinh môi trường và không gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người. Trường hợp nơi tạm giữ tang vật, phương tiện ở ngoài trời thì phải bố trí mái che hoặc phương tiện chống mưa, nắng khác;  Phải bảo đảm khô ráo, thoáng khí; có hệ thống thiết bị chiếu sáng.

     

     Riêng nơi tạm giữ là bến nước thì còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn của bến thủy nội địa.

     

       - Bảo đảm an toàn khi quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu:

     

        Đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu là máy móc, phương tiện có sử dụng xăng, dầu hoặc các nhiên liệu dễ gây cháy, nổ, trước khi đưa vào nơi tạm giữ phải hút hết nhiên liệu ra khỏi bình chứa.

     

        Đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu là hàng hóa, vật phẩm dễ gây ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh, dễ bị hư hỏng phải có các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phù hợp để bảo quản trong thời gian tạm giữ.

     

        Nghiêm cấm đưa vào nơi tạm giữ những chất dễ gây cháy, nổ, chất độc, chất phóng xạ nếu nơi tạm giữ không có những điều kiện, phương tiện kỹ thuật bảo quản các chất đó.

     

        - Bố trí nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu:

     

      Nơi tạm giữ tang vật, phương tiện có thể là nơi tạm giữ riêng của một cơ quan hoặc nơi tạm giữ chung của nhiều cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm.

     

        Đối với cơ quan thường xuyên phải tạm giữ tang vật, phương tiện với số lượng lớn, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cấp đất và kinh phí để xây dựng nơi tạm giữ.

     

       Trường hợp cơ quan tạm giữ tang vật, phương tiện chưa đủ điều kiện để xây dựng nơi tạm giữ hoặc quy mô xây dựng nơi tạm giữ không đủ để quản lý, bảo quản hết tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu thì cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện có thể thuê nơi tạm giữ riêng của cơ quan mình.

       

     Việc thuê nơi tạm giữ phải ký kết hợp đồng. Nội dung hợp đồng phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Bộ luật dân sự và các yêu cầu của hoạt động quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, trong đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Đối tượng của hợp đồng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng; các nội dung khác.

     

         Trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện với số lượng ít hoặc tang vật, phương tiện là những vật nhỏ, gọn mà xét thấy không cần thiết phải chuyển đến nơi tạm giữ là nhà, kho, bến, bãi thì người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện có thể quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện đó tại trụ sở cơ quan mình. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện phải giao tang vật, phương tiện bị tạm giữ cho cán bộ có đủ khả năng và điều kiện quản lý.

     

        Trong trường hợp không thể bố trí nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu thì nơi tạm giữ tang vật, phương tiện là nơi do người có thẩm quyền tạm giữ, tịch thu quyết định.

     

    Câu 3. Bà Vi Thị Hoa trú tại xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi: Chế độ nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau được quy định như thế nào?

     

    Trả lời: Điều 29 luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định về thời gian nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau như sau:

    1. Người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định tại của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 ngày đến 10 ngày trong một năm.

    Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.

    2. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định như sau:

    a) Tối đa 10 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày;

    b) Tối đa 07 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật

    c) Bằng 05 ngày đối với các trường hợp khác.

    3. Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.”

    Theo đó nếu trong 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe của vợ bạn vẫn chưa phục hồi thì vợ bạn được nghỉ dướng sức phục hồi sức khỏe, đối với trường hợp của vợ bạn là ốm đau do phải phẫu thuật nên thời gian nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe của vợ bạn tối đa là 7 ngày, chứ vợ bạn không được hưởng bảo hiểm nghỉ dưỡng sức tận hai tháng.

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của Bà Nông Thị Điệp trú tại thôn Bản Dù, xã Vân Thủy, huyện Chi Lăng thắc mắc về việc tranh chấp đất rừng và đất ruộng của gia đình bà. Đơn của bà đã gửi đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng, đề nghị bà liên hệ với UBND huyện Chi Lăng để được xem xét giải quyết.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI Thứ ba, ngày 18 tháng 4 năm 2017  

    Câu 1. Ông Lý Tiến Ngọc trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc một người sử dụng thông tin cá nhân giả để vay tiền có vi phạm pháp luật không?

    Trả lời: Người có hành vi sử dụng thông tin cá nhân giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác thì tùy theo số tiền mà người đó chiếm đoạt, có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Về xử phạt hành chính: Điều 15, Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định xử phạt vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác, đối với người có hànnh vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản sủa người khác là từ 1.000.000, đ đến 2.000.000, đồng.

    Về xử lý hình sự: Theo Điều 139,Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

    - Có tổ chức;

    - Có tính chất chuyên nghiệp;

    - Tái phạm nguy hiểm;

    - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    - Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    - Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

    - Gây hậu quả nghiêm trọng.

    - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

    - Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

    - Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    - Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên;

    - Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.”

    Câu 2. Ông Hoàng Văn Quân trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người cóhành vi thường xuyên gây ồn ào mất trật tự trong khu phố vào ban đêm sẽ bị xử lý như thế nào?

    Trả lời: Theo Điều 6, Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

    1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    a) Gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo tại khu dân cư, nơi công cộng trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau;

    b) Không thực hiện các quy định về giữ yên tĩnh của bệnh viện, nhà điều dưỡng, trường học hoặc ở những nơi khác có quy định phải giữ yên tĩnh chung;

    c) Bán hàng ăn, uống, hàng giải khát quá giờ quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi: Dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền.

    3. Hình thức xử phạt bổ sung:

    Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi Dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền.

    Câu 3. ông Vi Văn Mạnh trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi:Người có hành vi cố ý trốn tránh việc khám tuyển nghĩa vụ quân sự sẽ bị xử lý như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Khoản 1 Điều 59 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định "Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

    Về xử phạt hành chính:

    Tại Điều 5, Nghị định số 120/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức xử phạt trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu như sau:

    1. Vi phạm quy định sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự

    -  Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung sơ tuyển ghi trong giấy gọi sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

    - Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện sơ tuyển nghĩa vụ quân sự theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự

    2. Vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự

    -  Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng. Biện pháp khắc phục là buộc thực hiện kiểm tra hoặc khám sức khỏe theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự

    - Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

    + Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự;

    + Đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;

    + Cán bộ, nhân viên y tế cố ý làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

    Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp mà cán bộ, nhân viên y tế có được; Buộc thực hiện lại việc khám sức khỏe đối với người được khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự

    3. Vi phạm quy định về nhập ngũ

    - Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.500.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng.

    -  Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc chấp hành lệnh gọi nhập ngũ

    Về xử lý hình sự: Điều 259 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

    quy định Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự như sau:

    1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:

    a. Tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của mình;

    b. Phạm tội trong thời chiến;

    c. Lôi kéo người khác phạm tội.

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Đơn kiến nghị của một số hộ dân trú tại thôn Pò Mỏ, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn thắc mắc việc nhà ông Héo trú cùng thôn đã hoạt động lò giết mổ gia súc nhiều năm nay gây ra tiếng ồn, mất trật tự cũng như gây mất vệ sinh môi trường trong thôn làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của các hộ dân cùng thôn.

     Đơn kiến nghị đã gửi đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ có trách nhiệm giải quyết vấn đề vi phạm vệ sinh môi trường theo đúng quy định của pháp luật.

    2. Đơn của Cử tri khối 2, Phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn phản ánh về việc hành vi lấn chiếm lòng đường, vỉa hè của các hộ gia đình đoạn đường từ chợ Đông Kinh đi đến ngã tư đường Lý Thái Tổ.

    Đài PTTH đã chuyển đến Ủy ban nhân dân phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.

    3. Đơn Tố cáo của bà Lý Thị Quý trú tại khối 8, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn về việc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa ruộng của gia đình bà.

    Đơn của bà đã gửi đến UBND huyện Tràng Định là cấp có thẩm quyền giải quyết.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI Thứ ba, ngày 11 tháng 4 năm 2017

    Câu 1. Ông Nguyễn Ngọc Minh trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động được hưởng những chế độ  phụ cấp lương nào?

    Theo quy định tại Thông tư số 17/2015/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 04 năm 2015 người lao động tùy vào tính chất công việc và điều kiện lao động làm việc sẽ được hưởng các phụ cấp sau:

    Thứ nhất: Chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

    - Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được áp dụng đối với người lao động làm nghề, công việc có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

    - Công ty rà soát phân loại điều kiện lao động, so sánh mức độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của nghề, công việc với điều kiện lao động bình thường để xác định mức phụ cấp, bảo đảm: Mức phụ cấp đối với nghề, công việc có điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thấp nhất bằng 5% và cao nhất bằng 10%; nghề, công việc có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thấp nhất bằng nhất 7% và cao nhất 15% so với mức lương của nghề hoặc công việc có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động bình thường.

    - Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được tính trả cùng kỳ trả lương hàng tháng theo thời gian thực tế làm công việc có điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Làm việc dưới 4 giờ trong ngày thì được tính bằng 1/2 ngày, làm việc từ 4 giờ trở lên thì được tính cả ngày.

    Thứ hai: Chế độ phụ cấp trách nhiệm

    - Phụ cấp trách nhiệm được áp dụng đối với người lao động làm một số công việc thuộc công tác quản lý (như tổ trưởng, tổ phó, đội trưởng, đội phó, quản đốc, đốc công, trưởng ca, phó trưởng ca, trưởng kíp, phó trưởng kíp và chức danh tương tự) hoặc công việc đòi hỏi trách nhiệm cao hơn so với trách nhiệm đã tính trong mức lương của thang lương, bảng lương (như thủ quỹ, thủ kho, kiểm ngân và chức danh tương tự).

    - Công ty rà soát, đánh giá yếu tố trách nhiệm đối với công việc để xác định mức phụ cấp trách nhiệm, bảo đảm mức phụ cấp cao nhất không vượt quá 10% mức lương của công việc hoặc chức danh trong thang lương, bảng lương.

    - Phụ cấp trách nhiệm được tính trả cùng kỳ trả lương hàng tháng. Khi không làm công việc được hưởng phụ cấp trách nhiệm từ 01 tháng trở lên thì không hưởng phụ cấp trách nhiệm.

    Thứ ba: Chế độ phụ cấp lưu động

    - Phụ cấp lưu động được áp dụng đối với người lao động làm nghề, công việc phải thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở, như thi công các công trình xây dựng; khảo sát, tìm kiếm, khoan thăm dò khoáng sản; khảo sát, đo đạc địa hình, địa chính, khảo sát xây dựng chuyên ngành, sửa chữa, duy tu đường bộ, đường sắt; nạo vét công trình đường thủy và công việc có điều kiện tương tự.

    - Công ty rà soát, đánh giá tính chất lưu động đối với công việc để xác định mức phụ cấp lưu động, bảo đảm mức phụ cấp cao nhất không vượt quá 10% mức lương của công việc hoặc chức danh trong thang lương, bảng lương.

    - Phụ cấp lưu động được tính trả cùng kỳ trả lương hàng tháng theo số ngày thực tế lưu động.

    Thứ tư: Chế độ phụ cấp thu hút

    - Phụ cấp thu hút được áp dụng đối với người lao động đến làm ở vùng kinh tế mới, vùng có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn, công trình cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện mà Nhà nước quy định có phụ cấp thu hút; nghề, công việc công ty cần thu hút lao động.

    - Công ty rà soát địa bàn, công trình, nghề, công việc cụ thể để xác định mức độ thu hút đối với người lao động và thiết kế mức phụ cấp, bảo đảm mức phụ cấp cao nhất không vượt quá 35% mức lương của chức danh hoặc công việc trong thang lương, bảng lương.

    - Phụ cấp thu hút được tính trả cùng kỳ trả lương hàng tháng. Thời gian thực hiện từ 3 đến 5 năm, tùy thuộc vào điều kiện của địa bàn làm việc hoặc nghề, công việc được áp dụng.

    Thứ năm: Chế độ phụ cấp khu vực

    - Phụ cấp khu vực được áp dụng đối với người lao động làm việc ở địa bàn mà Nhà nước quy định cán bộ, công chức làm việc ở địa bàn này được hưởng phụ cấp khu vực. Danh mục địa bàn hưởng phụ cấp khu vực được thực hiện theo Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 11/2005/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BTC-UBDT ngày 05 tháng 01 năm 2005.

    - Mức phụ cấp do công ty quyết định tối đa bằng mức tiền tuyệt đối mà cán bộ, công chức trên địa bàn đang hưởng.

    - Phụ cấp khu vực được xác định theo nơi làm việc của người lao động và tính trả cùng kỳ trả lương hàng tháng. Khi không làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực từ 01 tháng trở lên thì không hưởng phụ cấp khu vực.

    Thứ sáu: Chế độ phụ cấp chức vụ

    - Phụ cấp chức vụ được áp dụng đối với Trưởng phòng, Phó trưởng phòng (ban) trong trường hợp công ty quy định Trưởng phòng, Phó trưởng phòng (ban) hưởng lương chuyên môn, cộng phụ cấp chức vụ.

    - Công ty đánh giá yếu tố phức tạp công việc của chức danh Trưởng phòng, Phó trưởng phòng theo Phụ lục số I ban hành kèm theo Thông tư này, so sánh tương quan với công việc chuyên môn, nghiệp vụ để xác định mức phụ cấp, bảo đảm cao nhất không vượt quá 15% mức lương chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất trong bảng lương của lao động chuyên môn, nghiệp vụ.

    - Phụ cấp chức vụ được tính trả cùng kỳ trả lương hàng tháng. Khi thôi không giữ chức vụ từ 01 tháng trở lên thì không hưởng phụ cấp chức vụ.

    Như vậy, có 6 phụ cấp chính cho người lao động, mức phụ cấp cho người lao động cụ thể có sự thay đổi giữa các lĩnh vực khác nhau.

    Câu 2. Bà Lý Thị Mai trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Đối tượng nào được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh? Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh theo quy định pháp luật?

    Trả lời: Theo căn cứ tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, các đối tượng được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

    - Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; trẻ em dưới 6 tuổi; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ.

    - Người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh khi điều trị vết thương, bệnh tật tái phát.

    - Khi khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã.

    - Khi chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở.

    - Khi chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục tính từ thời điểm người đó tham gia bảo hiểm y tế đến thời điểm đi khám bệnh, chữa bệnh và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh lũy kế trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, tính từ thời điểm tham gia bảo hiểm y tế đủ 5 năm liên tục, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến.

    Ngoài ra, tại Điểm c Khoản 3 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế 2014 sửa đổi, bổ sung, kể từ ngày 1/1/2016, người thuộc đối tượng được quỹ bảo hiểm y tế chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến tại bệnh viện tuyến huyện vẫn được thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh.

    Theo đó, người tham gia bảo hiểm y tế khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh; trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó; đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế.

    Trường hợp cấp cứu, người tham gia bảo hiểm y tế được khám bệnh, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào và phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh, giấy tờ chứng minh về nhân thân, còn đối với trẻ em dưới 6 tuổi phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế trước khi ra viện.

    Trường hợp chuyển tuyến điều trị, người tham gia bảo hiểm y tế phải có hồ sơ chuyển viện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị, người tham gia bảo hiểm y tế phải có giấy hẹn khám lại của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của Ông Hà Văn Thái trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi về việc ông muốn giải quyết vướng mắc khi không được thanh toán đầy đủ số tiền công thợ xây đối với khối lượng công việc thực tế và khối lượng công việc phát sinh sau khi ông xây nhà cho ông Lành Văn Bảo trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình.

    Với vấn đề của ông hỏi, thì ông có quyền làm đơn khởi kiện dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI Thứ ba, ngày 04 tháng 4 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Vi Văn Đông trú tại xã Bằng Khánh, huyện Lộc Bình hỏi: việc xử phạt người điều khiển xe thô sơ khi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ được quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo Điều 8, Nghị định 46/1016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ như sau:

    1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

    - Không đi bên phải theo chiều đi của mình, đi không đúng phần đường quy định;

    - Dừng xe đột ngột; chuyển hướng không báo hiệu trước;

    - Không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường trừ một số trường hợp;

    - Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;

    - Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

    - Chạy trong hầm đường bộ không có đèn hoặc vật phát sáng báo hiệu; dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;

    - Điều khiển xe đạp, xe đạp máy đi dàn hàng ngang từ 03 (ba) xe trở lên, xe thô sơ khác đi dàn hàng ngang từ 02 (hai) xe trở lên;

    - Người điều khiển xe đạp, xe đạp máy sử dụng ô (dù), điện thoại di động; người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy sử dụng ô (dù);

    - Điều khiển xe thô sơ đi ban đêm không có báo hiệu bằng đèn hoặc vật phản quang.

    2. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

    - Để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật; đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông, đỗ xe trên đường xe điện, đỗ xe trên cầu gây cản trở giao thông;

    - Không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt

    - Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn hoặc gây cản trở đối với xe cơ giới xin vượt, gây cản trở xe ưu tiên;

    - Dùng xe đẩy làm quầy hàng lưu động trên đường, gây cản trở giao thông;

    - Không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

    - Xe đạp, xe đạp máy, xe xích lô chở quá số người quy định, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu;

    - Xếp hàng hóa vượt quá giới hạn quy định, không bảo đảm an toàn, gây trở ngại giao thông, che khuất tầm nhìn của người điều khiển;

    - Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.

    3. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

    - Điều khiển xe đạp, xe đạp máy buông cả hai tay; chuyển hướng đột ngột trước đầu xe cơ giới đang chạy; dùng chân điều khiển xe đạp, xe đạp máy;

    - Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông;

    - Người điều khiển hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, mang vác vật cồng kềnh; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác.

    4. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

    - Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; đuổi nhau trên đường;

    - Đi xe bằng một bánh đối với xe đạp, xe đạp máy; đi xe bằng hai bánh đối với xe xích lô;

    - Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

    - Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều đường của đường một chiều, đường có biển “Cấm đi ngược chiều”.

    5. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ phương tiện phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc.

    Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu phương tiện.

     

    Câu 2. Chị Hoàng Thị Phương trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những trường hợp nào sẽ được miễn giấy phép xây dựng?

     Trả lời: Theo khoản 1, Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014, trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 89, cụ thể những công trình sau được miễn giấy phép xây dựng:

    - Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;

    - Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;

    - Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính;

    - Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về hướng tuyến công trình;

    - Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật này;

    - Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

    - Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình;

    - Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc;

    - Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt;

    - Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa;

    - Chủ đầu tư xây dựng công trình được miễn giấy phép xây dựng  có trách nhiệm thông báo thời điểm khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ thiết kế xây dựng đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để theo dõi, lưu hồ sơ…

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Hoàng Thị Hồ trú tại thôn Nam Tiến, xã Hồng Thái, huyện Bình Gia hỏi về việc giải quyết tranh chấp đất giữa gia đình bà và ông Hoàng Văn Trình trú cùng thôn: Với việc tranh chấp đất đai của gia đình bà với ông Trình đã được UBND xã Hồng Thái hòa giải, nay bà không đồng ý với việc hòa giải của UBND xã, bà có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Bình Gia để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI : Thứ ba, ngày 28 tháng 3 năm 2017

     

    Câu 1: Ông Nông Văn Việt trú tại xã Bắc Xa, huyện Đình Lập hỏi: Tôi được Ủy ban nhân dân xã xác nhận là người khuyết tật, tôi muốn hỏi về việc làm hồ sơ, thủ tục để người khuyết tật được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội và người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội được hưởng những chính sách gì?

     

    Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Người khuyết tật 2010 thì đối tượng được nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội là: “Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội” để được nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội ông phải đáp ứng được các điều kiện sau:

     

    Thứ nhất, ông phải thuộc diện khuyết tật đặc biệt nặng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 28/2012/NĐ-CP có quy định: “ Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.”

     

    Thứ hai, ông phải không có nơi nương tựa hoặc không tự lo cuộc sống được cho mình.

     

    Nếu đáp ứng được hai điều kiện trên ông sẽ được nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội.

     

    * Hồ sơ tiếp nhận người khuyết tật đặc biệt nặng vào nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội gồm:

     

    - Đơn đề nghị của người khuyết tật hoặc gia đình, người thân, người giám hộ người khuyết tật;

     

    - Sơ yếu lý lịch của người khuyết tật có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã;

     

    - Bản sao giấy xác nhận khuyết tật;

     

    - Biên bản của hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội cấp xã và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

     

    - Văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi cơ quan quản lý cơ sở bảo trợ xã hội;

     

    - Quyết định tiếp nhận của thủ trưởng cơ quan quản lý hoặc hợp đồng;

     

    - Các văn bản, giấy tờ có liên quan khác.

     

    * Thủ tục tiếp nhận người khuyết tật đặc biệt nặng vào nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội gồm:

     

    - Người khuyết tật (hoặc thân nhân) phải làm đơn xin vào cơ sở bảo trợ xã hội kèm theo sơ yếu lý lịch có xác nhận và đề nghị của uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người khuyết tật đăng ký nhân khẩu thường trú; nếu là người tâm thần mãn tính phải kèm hồ sơ bệnh án, kết luận giám định của cơ sở y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên. 

    - Trường hợp khẩn cấp phải có biên bản xác nhận của cơ sở bảo trợ xã hội.

     

    - Trường hợp người khuyết tật tự nguyện thì có hợp đồng thoả thuận giữa giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội với người khuyết tật hoặc người đại diện của người khuyết tật.

     

    Theo khoản 2, điều 45 Luật người khuyết tật, nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật cho các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm:

    - Trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng;

    - Mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày;

    - Mua thẻ bảo hiểm y tế;

    - Mua thuốc chữa bệnh thông thường;

    - Mua dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng;

    - Mai táng khi chết;

    - Vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với người khuyết tật là nữ.

     

    Câu 2: Bà Hoàng Thị Ban trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi muốn hỏi về quy định xử phạt người có hành vi, vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình?

     

    Trả lời: theo Điều 42, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, quy định xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

     

    1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

     

    2. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.

     

    3. Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.

     

    Theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

     

    1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

     

    2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    - Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

     

    -  Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

     

    * Biện pháp khắc phục hậu quả:

     

    Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu

     

    3. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    - Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

     

    - Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ.

     

    * Biện pháp khắc phục hậu quả:

     

    Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu

     

    4. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

     

    5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    - Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

     

    - Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

     

    - Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

     

    * Biện pháp khắc phục hậu quả:

     

    - Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu

     

    - Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

     

    6. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    - Cấm thành viên gia đình ra khỏi nhà, ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, bạn bè hoặc có các mối quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh nhằm mục đích cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên đó;

     

    - Không cho thành viên gia đình thực hiện quyền làm việc;

     

    - Không cho thành viên gia đình tham gia các hoạt động xã hội hợp pháp, lành mạnh.

     

    7. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi buộc thành viên gia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực đối với người, con vật.

     

    8. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    - Cưỡng ép thành viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích dục;

     

    - Có hành vi kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng.

     

    * Biện pháp khắc phục hậu quả:

     

    Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu.

      

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được thư của ông La văn Lê trú tại thôn Cò Vài, xã Kim Đồng, huyện Tràng Định hỏi: ông làm công an viên đã được 15 năm, trong thời gian làm việc ông không vi phạm cũng như bị kỷ luật lần nào vậy ông có được Kỷ niệm chương " Bảo vệ an ninh tổ quốc" không? với vấn đề của ông hỏi đề nghị ông liên hệ với Công an huyện Tràng Định để được trả lời việc ông có đủ điều kiện để xét tặng kỷ niệm chương hay không.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI : Thứ ba, ngày 21 tháng 3 năm 2017

     Câu 1. Ông Hứa Minh Đức trú tại xã Vân Mộng, huyện Văn Quan hỏi: Năm 2015 tôi có mua 1 mảnh đất vườn diện tích 70m2.  Nay, tôi muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất vườn sang đất ở thì cần làm những thủ tục gì?

    Trả lời: Về nguyên tắc, người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất căn cứ vào mục đích sử dụng đất của họ. Vì vậy, khi mục đích sử dụng đất thay đổi, gia đình bạn phải làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất với cơ quan có thẩm quyền.

    Theo quy định tại Điều 57 Luật đất đai năm 2013, các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan có thẩm quyền bao gồm:

    - Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

    - Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

    - Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

    - Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

    - Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

    - Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

    - Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

    Theo đó, người sử dụng đất phải nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường.

    Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.

    Đối với trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Sau đó, người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

     Về trình tự, thủ tục

    Điều 69 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất như sau:

    Người sử dụng đất nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường.

    Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình UBND cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính. Người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. 

    Câu 2: Ông Nguyễn Minh Tú trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: thời gian gần đây việc xử lý hành vi lấn chiếm vỉa hè, lòng đường đang là vấn đề nóng tạo nhiều dư luận trong xã hội, tôi muốn hỏi việc xử phạt đối với các hành vi lấn chiếm vỉa hè, lòng đường  được quy định như thế nào?

    Những hành vi lấn chiếm lòng đường, vỉa hè bị xem là vi phạm hành chính và theo Nghị định 46/2016/NĐ- CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì mức xử phạt hành chính đối với các hành vi lấn chiếm vỉa hè cụ thể như sau:

              1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân và từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi sau:

              Bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng;

              Phơi thóc, lúa, rơm, rạ, nông, lâm, hải sản trên đường bộ; đặt máy tuốt lúa trên đường bộ.

              2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân và từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi sau:

              Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp ảnh hưởng đến an toàn công trình đường bộ và an toàn giao thông;

              Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông;

               Chiếm dụng dải phân cách giữa của đường đôi làm nơi: Bày, bán hàng hóa; để vật liệu xây dựng;

              Họp chợ, mua, bán hàng hóa trong phạm vi đất của đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

               Đổ rác, xả nước ra đường bộ không đúng nơi quy định;

              3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 1.000.000 đồng đến  2.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi sau:

              Sử dụng đường bộ trái quy định để tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội;

    Dựng cổng chào hoặc các vật che chắn khác trái quy định trong phạm vi đất dành cho đường bộ gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ;

              Treo băng rôn, biểu ngữ trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ;

               Đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo trên đất của đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị

               Chiếm dụng dải phân cách giữa của đường đôi làm nơi để xe, trông, giữ xe;

               Sử dụng trái phép đất của đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị làm nơi sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị; rửa xe, bơm nước mui xe gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ.

              4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến  3.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi sau:

              Dựng rạp, lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ;

              Sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố để: Họp chợ; kinh doanh dịch vụ ăn uống; bày, bán hàng hóa; sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị; rửa xe; đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo; xây, đặt bục bệ; làm mái che hoặc thực hiện các hoạt động khác gây cản trở giao thông;

              Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 5m2 làm nơi trông, giữ xe;

              Chiếm dụng phần đường xe chạy hoặc lề đường của đường ngoài đô thị dưới 20m2làm nơi trông, giữ xe.

               5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi sau:

              Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ;

              Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong: Hành lang an toàn đường bộ, phần đất dọc hai bên đường bộ dùng để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ;

              Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

              Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

               Dựng rạp, lều quán, công trình tạm thời khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ, gầm cầu vượt;

              Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

              Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ  5m2 đến dưới 10m2 làm nơi trông, giữ xe;

              Xả nước thải xây dựng từ các công trình xây dựng ra đường phố;

              Chiếm dụng phần đường xe chạy hoặc lề đường của đường ngoài đô thị từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe.

               6. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10m2 đến dưới 20m2 làm nơi trông, giữ xe.

              7. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:

              Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

    Dựng biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ khi chưa được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản hoặc dựng biển quảng cáo trên phần đất dọc hai bên đường bộ dùng để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ.

              8. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 30.000.000 đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:

              Xây dựng nhà ở, công trình kiên cố khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ;

              Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

              Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt tiền nêu trên, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng trái phép, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn rác, vật tư, vật liệu, chất phế thải, hàng hóa, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI : Thứ ba, ngày 14 tháng 3 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Chung trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc tự ý đổi màu sơn xe máy có vi phạm quy định của pháp luật không? nếu vi phạm bị xử phạt như thế nào?

     

    Trả lời: Theo Khoản 1 Điều 30 Nghị định 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định: Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    Tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe;

     

    Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.

     

    Khoản 2 điều này quy định phạt tiền từ 300.000 đến 400.000 đồng với cá nhân, từ 600.000 đến 800.000 đồng với tổ chức là chủ ôtô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ôtô tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe; lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn.

     

    Theo khoản 4 điều 30, phạt tiền từ 800.000 đến 1.000.000 đồng với cá nhân, từ 1.600.000 đến 2.000.000 đồng với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô nếu tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy; tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe; giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ.

     

    Qua quy định xử phạt như vậy, có thể thấy màu sơn là một trong những đặc điểm đã được lưu trong hồ sơ đăng ký xe và việc tự ý thay đổi màu sơn là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như Nghị định nêu trên.

     

    Câu 2. Ông Trần Minh Tâm trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Bố mẹ tôi ly hôn cách đây 20 năm. Tôi sống với mẹ. Bố tôi không hề nuôi dưỡng, chăm sóc tôi. Hiện giờ vì 1 số lý do tôi muốn làm lại giấy khai sinh bỏ hoàn toàn phần tên bố trong giấy khai sinh?

     

    Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Việc thay đổi, cải chính những nội dung trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh phải tuân thủ quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục. Điều 36 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 06/2012/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch đã quy định:

     

    Phạm vi thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch theo quy định bao gồm:

     

    1. Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

     

    2. Cải chính những nội dung đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng có sai sót trong khi đăng ký.

     

    3. Xác định lại dân tộc của người con theo dân tộc của người cha hoặc dân tộc của người mẹ theo quy định của Bộ luật Dân sự.

     

    4. Xác định lại giới tính của một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính.

     

    5. Bổ sung những nội dung chưa được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.

     

    6. Điều chỉnh những nội dung trong sổ đăng ký hộ tịch và các giấy tờ hộ tịch khác, không phải Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.

     

    Theo đó thì việc thay đổi, cải chính không bao gồm nội dung xóa tên của người cha trong giấy khai sinh. Trong những quy định văn bản khác có liên quan thì nội dung xóa tên người cha trên giấy khai sinh cũng không được đề cập. Chính vì vậy yêu cầu của ông không có cơ sở để thực hiện.

     

    Câu 3. Ông Hoàng Mạnh Tuấn trú tại Phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: đơn khởi kiện vụ án hành chính bao gồm những nội dung gì?

     

      Trả lời: Khởi kiện vụ án hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, khi quyền lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm. Để khởi kiện vụ án hành chính, công dân phải làm đơn khởi kiện, kèm theo đơn là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

     

    Khi thực hiện khởi kiện vụ án hành chính, cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng các yêu cầu về hình thức và trình tự của việc khởi kiện. Đơn khởi kiện là thủ tục bắt buộc đối với mọi trường hợp khởi kiện.

     

     Hình thức và nội dung đơn khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án hành chính vì nó vừa là căn cứ làm phát sinh vụ án hành chính, vừa là cơ sở đầu tiên để Tòa án xác định nội dung yêu cầu của đương sự trong việc giải quyết vụ án hành chính.

     

     Theo quy định tại Điều 118  Luật Tố tụng hành chính đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

     

    a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

     

    b) Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;

     

    c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

     

    d) Nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;

     

    đ) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có);

     

    e) Yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết;

     

    g) Cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

     

    Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

     

    Nhắn tin: Trong tuần qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Nông Văn Bạch trú tại thôn Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình thắc mắc về việc gia đình ông không được làm ruộng trên diện tích đất gần Lâm trường? Như đơn ông trình bày thì diện tích đất ông xây dựng là đất thuộc Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Lộc Bình, nên ông không được cho xây dựng là đúng.

     

    2. Ông Hà Văn Vỵ trú tại tổ 4, khối 9, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi về việc tranh chấp đất giữa gia đình ông và ông Năm cùng trú tại thị trấn Cao Lộc? Như đơn ông trình bày thì vụ việc của ông đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Cao Lộc hòa giải. Nếu ông không đồng ý với kết quả hòa giải ông có thể làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc để được giải quyết theo quy định của pháp luật.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI
     : Thứ ba, ngày 07 tháng 3 năm 2017

     

    Câu 1: Anh Hứa Văn Năm trú tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: hiện nay tình hình dịch bệnh ở động vật đang diễn ra hết sức phức tạp gây khó khăn cho công tác kiểm soát, kiểm dịch. Tôi muốn biết hành vi nào là hành vi phạm pháp luật về phòng chống dịch bệnh ở động vật?

     

    Trả lời: Theo Điều 6, Nghị định 119/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi thì những hành vi sau là hành vi phạm pháp luật về phòng chống dịch bệnh ở động vật:

     

    1. Không thực hiện việc cách ly động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh dịch trong thời gian có dịch;

     

     2. Chăn thả động vật mắc bệnh dịch ở các bãi chăn chung;

     

     3. Không thực hiện các biện pháp vệ sinh, khử trùng tiêu độc chuồng nuôi, môi trường; xử lý xác, chất thải của động vật mắc bệnh dịch tại vùng có dịch;

     

     4. Không chấp hành việc sử dụng vắc xin hoặc các biện pháp phòng, chống dịch bắt buộc khác tại vùng có dịch.

     

     5. Mang ra khỏi vùng có dịch các loại thức ăn chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi, chất thải của động vật có khả năng làm lây lan dịch bệnh;

     

     6. Vận chuyển động vật mắc bệnh dịch phải giết mổ bắt buộc hoặc tiêu hủy đến nơi giết mổ, tiêu hủy không theo đúng hướng dẫn của cơ quan thú y;

     

    7. Giết mổ, lưu thông, mua bán động vật, sản phẩm của động vật dễ nhiễm bệnh dịch đã công bố trong vùng có dịch không theo hướng dẫn của cơ quan thú y.

    8. Đưa động vật, sản phẩm động vật dễ nhiễm bệnh dịch đã công bố từ vùng bị dịch uy hiếp ra vùng đệm hoặc vùng an toàn mà không có giấy chứng nhận kiểm dịch;

     9. Vận chuyển qua vùng có dịch động vật dễ nhiễm bệnh dịch đã được công bố tại vùng đó mà không được phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dịch;

     10. Cố ý dừng phương tiện vận chuyển động vật hoặc thả động vật xuống vùng đã công bố có dịch trong khi chỉ được phép đi qua;

      11. Không thực hiện việc khử trùng, tiêu độc đối với phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, chất thải động vật, thức ăn chăn nuôi, các vật dụng khác liên quan đến động vật sau khi qua vùng có dịch. 

      12. Sử dụng phương tiện vận chuyển động vật đi giết mổ bắt buộc không đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y;

     13. Giết mổ, xử lý động vật, xác động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, sản phẩm động vật mang mầm bệnh thuộc Danh mục các bệnh phải công bố dịch không theo hướng dẫn của cơ quan thú y.

    14. Vận chuyển, kinh doanh động vật, sản phẩm của động vật bị nhiễm bệnh dịch trong vùng bị dịch uy hiếp, vùng đệm;

    15. Vận chuyển động vật mắc bệnh, sản phẩm động vật mang mầm bệnh thuộc Danh mục các bệnh phải công bố dịch ra khỏi vùng có dịch đã được công bố hoặc ra khỏi vùng đã bị buộc hạn chế lưu thông;

    16. Chăn nuôi hoặc xuất bán động vật mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khi cơ quan thú y có thẩm quyền đã yêu cầu phải giết mổ bắt buộc hoặc tiêu hủy.

     17. Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm  nguy hiểm cho người.

     18. Làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động, thực vật

     Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 6.000.000 đồng, đối với cá nhân. Đối với tổ chức vi phạm số tiền phạt gấp 2 lần. Cùng với đó, người vị phạm còn bị buộc tiêu hủy động vật, sản phẩm động vật, thức ăn chăn nuôi, chất thải động vật đối với hành vi vi phạm. Đối với các hành vi vi phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tiền đến 200 triệu đồng hoặc bị phạt tù đến 12 năm.

    Câu 2: Anh Nông Hồng Vy trú tại xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn hỏi: Nguyên tắc bồi thường bảo hiểm cho người lao động bị tai nạn trên công trường như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định hiện hành khi xảy ra sự cố công trình xây dựng, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải phối hợp giải quyết bồi thường bảo hiểm như sau:

     Trường hợp người lao động bị chết hoặc suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên: 100 triệu đồng/người/vụ. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn dưới 81%, sẽ được chi trả theo Bảng trả tiền bồi thường kèm theo Thông tư số 329/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 119/2015/NĐ-CP ngày 13/11/2015 của Chính phủ quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng.

     Phụ cấp nghỉ việc trong thời gian điều trị được tính bằng 0,2% số tiền bảo hiểm/người/ngày nghỉ việc theo chỉ định của bác sĩ điều trị, nhưng không vượt quá 6 tháng trong mỗi vụ việc.

    Chi phí y tế thực tế bao gồm: chi phí cấp cứu, chi phí điều trị nội, ngoại trú cần thiết và hợp lý nhưng không vượt quá số tiền bảo hiểm.

    Tổng số tiền bồi thường không vượt quá 100 triệu đồng/người/vụ.

     Nếu người lao động có thương tật hoặc bệnh tật tồn tại trước hoặc sau tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm trầm trọng thêm mức độ suy giảm khả năng lao động của người lao động thì Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm về sự trầm trọng thêm đó.

    Riêng đối với trường hợp bồi thường thanh toán các chi phí y tế thực tế, nếu có bảo hiểm trùng, Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng mà người được bảo hiểm đã giao kết.         

    Câu 3: Bà Hoàng Thị Tý, trú tại thôn Khun Lùng, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi có 02 con sinh năm 2014 và 2016, cả hai con đều mắc bệnh tan máu bẩm sinh (thiếu máu huyết tán), hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, theo quy định của pháp luật, con tôi có phải là người khuyết tật không? Nếu không thì có thuộc diện được nhà nước hỗ trợ, trợ cấp không?

     Trả Lời: 

     1.  Theo Khoản 1, Điều 2 Luật người khuyết tật năm 2010 quy đinh:  Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.

    Theo quy định trên, 02 con bà bị bệnh tan máu bẩm sinh là bệnh nhân, không phải là người khuyết tật.

     2. Về vấn đề trợ cấp xã hội.

     3. Theo đơn bà trình bày, hiện nay hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, để được nhà nước hỗ trợ, đề nghị bà liên hệ trực tiếp với Công chức Văn hóa-Xã hội của UBND xã Tân Mỹ để hướng dẫn lập hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội theo quy định của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP  ngày 21/10/2013 của Chính phủ Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Hồ sơ đề nghị gửi Chủ tịch UBND xã, để trình Hội đồng xét duyết của xã xem xét, quyết định.


    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của các ông (bà) có tên sau:

     1. Bà Nông Thị Kim, trú tại xã Vân Thủy, huyện Chi Lăng thắc mắc về việc Công ty TNHH Chương Dương bồi thường và hỗ trợ chưa thỏa đáng khi lấy đất của bà? Như đơn trình bày thì trường hợp của bà không thuộc diện nhà nước thu hồi đất, do vậy việc bồi thường về đất và hỗ trợ do bà và công ty tự thỏa thuận.

    2. Đơn của bà Lý Thị Xanh, trú tại thông Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình thắc mắc về việc không được xây dựng chuồng trại? Như đơn bà trình bày, diện tích đất bà xây dựng là đất thuộc Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Lộc Bình, nên bà không được cho xây dựng là đúng.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI : Thứ ba, ngày 21 tháng 2 năm 2017

     

      Câu 1. Ông Nông Văn Báo trú tại xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng hỏi: Tôi có nhu cầu phải đến tỉnh khác lao động, vậy thủ tục khai báo tạm vắng được thực hiện như thế nào, cơ quan tiếp nhận và cấp phiếu khai báo tạm vắng là cơ quan nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 3 và 4 Điều 32 Luật cư trú và Điều 22 Thông tư số 35/2014/TT-BCA, thì thủ tục khai báo tạm vắng được thực hiện như sau:

    1. Người khai báo tạm vắng phải đến trụ sở Công an xã, phường, thị trấn nơi cư trú để làm thủ tục khai báo tạm vắng. Khi đến khai báo tạm vắng phải xuất trình chứng minh nhân dân và ghi vào phiếu khai báo tạm vắng.

    2. Đối với bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi khai báo tạm vắng phải có sự đồng ý bằng văn bản của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền giám sát, quản lý của người đó

    Đối với trường hợp người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú thì thời hạn tạm vắng do người đó tự quyết định

    3. Công an xã, phường, thị trấn (cán bộ tiếp dân tại các điểm đăng ký tạm trú) có trách nhiệm hướng dẫn khai báo đầy đủ các nội dung trong phiếu khai báo tạm vắng, kiểm tra nội dung khai báo, ký xác nhận vào phần phiếu cấp cho người khai báo tạm vắng, giao phần phiếu còn lại cho Công an xã, phường, thị trấn lưu

    4. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của công dân, Công an xã, phường, thị trấn nơi công dân cư trú phải cấp phiếu khai báo tạm vắng cho công dân (trường hợp đặc biệt thì được phép kéo dài thời gian giải quyết, nhưng tối đa không quá 02 ngày làm việc)

     Câu 2: Ông Lộc Đức Thắng trú tại xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi làngười lao động, tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, nay đã đến tuổi nghỉ hưu, tôi xin hỏi để được hưởng lương hưu thì hồ sơ của tôi phải có các loại giấy tờ gì?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 108 mục II Chương VII Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì hồ sơ hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm các giấy tờ sau đây:

    1. Hồ sơ hưởng lương hưu đối với người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:

    a) Sổ bảo hiểm xã hội;

    b) Quyết định nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hoặc văn bản chấm dứt hợp đồng lao động hưởng chế độ hưu trí;

    c) Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa đối với người nghỉ hưu theo quy định về điều kiện hưởng lương hưu tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc giấy chứng nhận bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp đối với trường hợp người lao động được hưởng lương hưu theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội

    2. Hồ sơ hưởng lương hưu đối với người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội gồm cả người đang chấp hành hình phạt tù bao gồm:

    a) Sổ bảo hiểm xã hội;

    b) Đơn đề nghị hưởng lương hưu;

    c) Giấy ủy quyền làm thủ tục giải quyết chế độ hưu trí và nhận lương hưu đối với người đang chấp hành hình phạt tù; 

    d) Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trở về nước định cư hợp pháp đối với trường hợp xuất cảnh trái phép;

    đ) Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với trường hợp người mất tích trở về.

    Câu 3: Anh Lý Đức Anh trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những đối tượng nào thuộc diện tạm hoãn hoặc miễn gọi nhập ngũ?

    Trả lời: Theo điều 41, Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ

    Việc tạm hoãn gọi nhập ngũ áp dụng đối với những công dân sau đây:

    a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe;

    b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận;

    c) Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

    d) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

    đ) Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định;

    e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

    g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

    Việc miễn gọi nhập ngũ áp dụng đối với những công dân sau đây:

    a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một;

    b) Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ;

    c) Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

    d) Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân;

    đ) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

    Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

    Danh sách công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày”.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI : Thứ ba, ngày 14 tháng 2 năm 2017

     Câu 1: Ông Dương Trung Phú trú tại thôn Quang Khao, xã Ái Quốc, huyện Lộc Bình hỏi: Việc xác định ranh giới giữa hai thửa đất và phản ánh việc bị ông Hoàng Phúc Vượng tranh chấp quyền sử dụng đất.

    Trả lời: 

    1. Về việc xác định ranh giới giữa hai thửa đất:

    Theo quy định tại Điều 175, Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ranh giới giữa các bất động sản được xác định như sau:

    1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

    Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

    2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

    Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    2. Việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất.

    Để giải quyết việc tranh chấp đất giữa hai gia đình, ông có thể làm đơn gửi UBND xã Ái Quốc để được hòa giải theo quy định của pháp luật. Nếu việc hòa giải không thành, ông có thể làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình để được xem xét giải quyết. Nếu cần tư vấn pháp luật, đề nghị ông liên hệ với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn để được tư vấn pháp luật. 

    Câu 2. Anh Vi Văn Lượng trú tại xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia hỏi: Vợ chồng tôi kết hôn năm 2010, có 1 con chung được 4 tuổi, nay Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn nhau, vợ tôi được trực tiếp chăm sóc, nuôi con đến đủ 18 tuổi. Vậy tôi xin hỏi, từ nay tôi có quyền yêu cầu thay đổi, để trực tiếp được chăm sóc, nuôi con nữa không?   

    Trả lời: Điều 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn như sau:

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thay đổi quyền trực tiếp nuôi con thi khấy người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì  Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

    - Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

    - Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    - Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

    - Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

    Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì trên cơ sở lợi ích của con các cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

    - Người thân thích;

    - Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

    - Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

    - Hội liên hiệp phụ nữ."

    Theo quy định trên, thì sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật anh vẫn có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Nếu hai bên không thỏa thuận được thì anh có thể gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện  Bình Gia để được giải quyết. 

     Câu 3:  Chị Nông Thị Lý trú tại xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi: Tôi là người lao động theo hợp đồng dài hạn tại công ty TNHH. Tôi xin hỏi hằng năm tôi có được hưởng tiền thưởng cuối năm không? Công ty có bắt buộc phải chi trả tiền thưởng cho tôi  không?

     Trả lời: Theo Điều 103, Bộ Luật Lao động năm 2012  quy định về Tiền thưởng:

    Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

    Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

    Theo đó, tiền thưởng không phải là khoản bắt buộc mà người sử dụng lao động phải chi trả cho người lao động. Việc có được thưởng hay không sẽ phụ thuộc vào quy chế thưởng của đơn vị, chị có thể tham khảo quy chế của đơn vị để biết được trường hợp của mình có được thưởng tết hay không.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI
     : Thứ ba, ngày 7 tháng 2 năm 2017 

     

    Câu 1. Bà Nông Thị Xuân trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong dịp trước và sau tết Nguyên đán năm 2017 tôi thấy thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, thực phẩm không được đảm bảo vệ sinh được bày bán tràn lan ngoại chợ điều này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng, vậy tôi xin hỏi việc xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm được quy định như thế nào?

    Trả lời: Việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn cho sức khỏe, tính mạng con người là hành vi vi phạm pháp luật. Tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi vi phạm quy định an toàn thực phẩm tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý hành chính theo quy định của Nghị định 178/2013/NĐ-CP ngày14/11/2013 của Chính phủ hoặc bị xử lý hình sự theo Khoản 1, 2 Điều 317 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( áp dụng theo Nghị quyết 144/2016/QH13) và Khoản 3, 4 Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định xử phạt như sau:

      1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: 

    a) Sử dụng chất cấm trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm hoặc bán, cung cấp thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm có sử dụng chất cấm;

     b) Sử dụng hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối tạo ra dư lượng vượt ngưỡng cho phép trong sản phẩm;

    c) Sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, chất xử lý cải tạo môi trường ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc không đúng quy định trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối tạo ra dư lượng vượt ngưỡng cho phép trong sản phẩm hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi tại điểm này hoặc điểm a khoản này mà còn vi phạm; 

    d) Chế biến, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm; sử dụng hóa chất, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến ngoài danh mụcđược phép sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm:gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. 

     2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù 03 năm đến 07 năm: 

    a) Phạm tội có tổ chức;                                                                   

    b) Làm chết 01 người hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

    d) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

    đ) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;  

    e) Phạm tội 02 lần trở lên; 

    g) Tái phạm nguy hiểm.”3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm

    4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công  việc nhất định từ một năm đến năm năm.

     

    Câu 2: Ông Hoàng Văn Chiến, trú tại xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi:Nhà nước đã nghiêm cấm hành vi đốt pháo nổ và hằng năm người dân đều kí cam kết không đốt pháo nổ nhưng vẫn còn có hiện tượng đốt pháo trong dịp tết, vậy người có hành vi đốt pháo trái phép sẽ bị xử lý như thế nào?

    Trả lời:  Đốt pháo nổ là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

    1.  Về hành chính: Trường hợp sử dụng các loại pháo mà không được phép sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, bị tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm theo quy định tại Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

     2.  Về hình sự: Hành vi đốt pháo nổ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội “gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự (BLHS) mức hình phạt  đến 02 năm tù nếu:

    - Đốt pháo nổ ở nơi công cộng, những nơi đang diễn ra các cuộc họp, những nơi tập trung đông người;

    - Đốt pháo nổ ném ra đường, ném vào người khác, ném vào phương tiện khác đang lưu thông, ném từ trên cao xuống, đốt pháo nổ mang theo xe đang chạy; 

    - Đốt pháo nổ gây thiệt hại sức khỏe, tài sản của người khác nhưng mức độ thiệt hại chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội khác; 

    - Đốt pháo nổ với số lượng tương đương từ 1 kg đến dưới 5kg đối với pháo thành phẩm hoặc tương đương từ 0,1 kg đến dưới 0,5 kg đối với thuốc pháo; 

    - Đốt pháo nổ với số lượng dưới 1kg pháo thành phẩm hoặc dưới 0,1kg đối với thuốc pháo và đã bị xử lý hành chính về hành vi đốt pháo nổ hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    Nếu vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây thì sẽ bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 245 Bộ Luật Hình Sự với mức hình phạt đến 07 năm tù:

    - Đã bị kết án về tội “gây rối trật tự công cộng”.

    - Lôi kéo, kích động trẻ em hoặc lôi kéo, kích động nhiều người cùng đốt pháo; 

    - Cản trở, hành hung người can ngăn (gồm người thi hành công vụ, người bảo vệ trật tự công cộng hoặc người khác ngăn chặn không cho đốt pháo nổ);

    - Đốt pháo nổ với số lượng tương đương từ 5kg trở lên đối với pháo thành phẩm hoặc tương đương từ 0,5 kg thuốc pháo trở lên. 

    Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị truy cứu TNHS về các tội danh khác quy định trong Bộ Luật Hình Sự tương xứng với hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác do hành vi đốt pháo nổ gây ra.

    Nhắn tin: Trong tuần qua chúng tối cũng nhận được đơn thư của ông Dương Trung Phú trú tại thôn Quang Khao, xã Ái Quốc, huyện Lộc Bình hỏi về việc tranh chấp đất giữa gia đình ông với ông Hoàng Phúc Vượng. Đơn thư của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Ái Quốc, huyện Lộc Bình để được xem xét giải quyết.

     
    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI
     
    : Thứ ba, ngày 24 tháng 1 năm 2017 

    Câu 1. Bà Nguyễn Thị Huyền, Trú tại xã Nhượng Bạn, huyện Lộc Bình hỏi:Những hành vi nào bị coi là vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình, tôi muốn được giải thích rõ từng hành vi bị coi là vi phạm Luật Hôn nhân và gia đìnnh?

     Trả lời: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 thì các hành vi sau đây bị cấm thực hiện:

    1. Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo. Trong đó, kết hôn giả tạo được hiểu là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

    2. Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.

    Tảo hôn được hiểu là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định (nam chưa đủ 20 tuổi trở lên, nữ chưa đủ 18 tuổi trở lên).

    Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn.

    Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

    3. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Trong đó, chung sống như vợ chồng được hiểu là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

    4. Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.  

    Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau (cha, mẹ với con; ông, bà với cháu nội, cháu ngoại).

     Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

    5. Yêu sách của cải trong kết hôn.

    Tùy theo tính chất, mức độ, người có hành vi vi phạm đều có thể bị xử hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.  

    Câu 2. Ông Đỗ Anh Tuấn, trú tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng hỏi: Tôi có 01 xe mô tô cho em trai mới ra ở riêng khác hộ khẩu gia đình mượn sử dụng, như vậy em tôi có vi phạm quy định về sử dụng xe không chính chủ không?. 

    Trả lời: Tại Điểm b Khoản 1 Điều 30 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, từ ngày 01/8/2016 thì cá nhân, tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô có hành vi: "Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 400.000 đồng.

     

    Theo quy định trên, thì việc em trai ông mượn xe mô tô của ông để sử dụng, tham gia giao thông thì không thuộc đối tượng bị xử lý theo quy định trên.

     
    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI
     
    : Thứ ba, ngày 17 tháng 1 năm 2017

     Câu 1. Bà Hoàng Thúy Hạnh, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Năm 2015, vợ chồng tôi đã được Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn giải quyết cho thuận tình ly hôn, giao tôi trực tiếp nuôi con 01 tuổi và buộc ông Hiếu phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000,đ. Nhưng từ đó đến nay ông Hiếu không thực hiện, vậy tôi phải đề nghị cơ quan nào giải quyết? 

    Trả lời: Vấn đề bà Hạnh hỏi, chúng tôi xin trả lời như sau: 

      Theo Điều 78 Luật Thi hành án dân sự quy định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án như sau: 

            1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.

            2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

           a) Theo thỏa thuận của đương sự;

     

           b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

           c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

           3. Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. 

    4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

           Theo quy định trên thì Chấp hành viên được ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác. 

    Để được thi hành án khoản tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, bà có thể làm đơn yêu cầu thi hành án, gửi Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn để được giải quyết theo thẩm quyền. 

    Câu 2. Đơn của ông Lương Văn Thắng, trú tại xã Đồng ý, huyện Bắc Sơn hỏi: Trường hợp hai bên gia đình tổ chức lễ cưới cho bên nam 21 tuổi, bên nữ 15 tuổi 7 tháng, vì bên nữ đã có thai, thì theo quy định của pháp luật thì sẽ bị xử lý như thế nào? 

    Trả lời: Vấn đề của ông hỏi chúng tôi xin trả lời như sau: theo Điều 115 Bộ luật hình sự quy định tội giao cấu với trẻ em như sau: 

    1.  Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. 

    2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: 

    a) Phạm tội nhiều lần; 

    b) Đối với nhiều người; 

    c) Có tính chất loạn luân; 

    d) Làm nạn nhân có thai;           

    đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%. 

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: 

    a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; 

    b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội. 

    Theo các quy định trên của Bộ luật hình sự, trường hợp như ông hỏi là đã có dấu hiệu phạm tội hình sự nghiêm trọng, phải được xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. 

    Nhắn tin: Trong tuần qua, Đài chúng tôi đã nhận được đơn thư của các ông (bà) có tên sau: 

    Thư của ông Lộc Giáo Phương trú tại thôn Chè Lân, xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn phản ánh về việc mẹ ông là Bà Nông Thị Eng có hai con trai là liệt sỹ mà chưa được truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng. 

    Thư của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND huyện Cao Lộc để được xem xét giải quyết.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI : Thứ ba, ngày 10 tháng 1 năm 2017

     

     Câu 1. Thư của Ông Hoàng Xuân Thái, Trú tại xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi: Tháng 10/2016, tôi bị người hàng xóm hành hung đánh gẫy tay, phải điều trị tại bệnh viện 5 ngày. Tôi đã được Công an huyện giới thiệu đi giám định thương tích. Vậy thời gian giải quyết vụ án là bao lâu? Tôi cần làm gì để vụ án được giải quyết?  

     Trả lời: 

     1. Theo quy định của pháp luật, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tùy tính chất, mức độ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999, hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

    Cụ thể:

    - Trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 của Bộ luật tố tụng hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

    - Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc quy định tại khoản 2 Điều 104 thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm; thuộc khoản 3 Điều 104 thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm và thuộc khoản 4 Điều 104 thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

     - Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, theo đó sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

    2. Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính vụ việc như trên: Điều 23 của Bộ luật hình sự quy định là 05 năm và Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính quy định là 1 năm, như vậy vụ việc của ông vẫn đang trong thời hiệu xử lý.

      3. Về thủ tục pháp lý: Theo quy định của pháp luật thì những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hạiDo vậy, cần căn cứ vào kết quả giám định và hướng dẫn của cơ quan Công an, trường hợp thương tích mà người hàng xóm gây ra choông đủ mức để truy cứu trách nhiệm hình sự và thuộc khoản 1 Điều 104 Bộ Luật hình sự thì ông cần làm đơn yêu cầu khởi tố để làm căn cứ cho Cơ quan điều tra tiến hành khởi tố vụ án.

       Nhắn tin:  Trong tuần qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn, thư của các ông bà có tên sau:  

    1. Thư của bà Bà Vi Thị Thế trú tại thôn Cốt Cối, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: không đồng ý với việc hòa giải tranh chấp kinh doanh rừng chồi với Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc. 

    Thư của bà trình bày không rõ vụ việc, vì vậy chúng tôi không có cơ sở để trả lời, đề nghị bà liên hệ trực tiếp với Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 1, huyện Hữu Lũng để được hướng dẫn cụ thể.  

    2. Bà Tô Thị viên, trú tại thôn Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, thắc mắc về việc: gia đình hoàn cảnh khó khăn, nhưng không được xét là hộ nghèo.

     Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Tú Mịch để xem xét giải quyết.

     3. Đơn của bà Lộc Thị Tầu, trú tại thôn Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, thắc mắc về việc: gia đình bà là hộ nghèo không được Ngân hành chính sách xã hội huyện Lộc Bình cho vay vốn hỗ trợ sản xuất.

     Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Ngân hàng chính sách xã hội huyện Lộc Bình để xem xét giải quyết.

       
    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI 
    : Thứ ba, ngày 3 tháng 1 năm 2017

      

    Câu 1. Ông Trần Văn Cường, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Khi xử phạt vi phạm hành chính đối với người vi phạm luật giao thông đường bộ, có một số trường hợp cảnh sát giao thông không lập biên bản, mà chỉ giao phiếu phạt cho người vi phạm và thu tiền. Xin hỏi, việc xử phạt như vậy có đúng quy định không? 

    Trả lời: 

    Trong một số trường hợp pháp luật cho phép việc xử phạt vi phạm hành chính không cần lập biên bản, đó là tính chất vi phạm ít nghiêm trọng, mức tiền phạt không cao thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không cần lập biên bản vi phạm. 

    Cụ thể, Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ. 

    Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản. 

    Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt

     Như vậy, cảnh sát giao thông đang thi hành công vụ có quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm luật giao thông mà không cần lập biên bản đối với các trường hợp bằng mắt thường nhìn thấy (như người tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ, đi sai làn đường, chở quá số người quy định…), tuy nhiên vẫn phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ, đưa phiếu phạt cho người vi phạm và thu tiền phạt. 

    Còn các trường hợp vi phạm phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ (như camera giám sát, máy bắn tốc độ, máy đo nồng độ cồn…) thì khi xử phạt phải lập biên bản.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Văn Dũng, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Trong phiên tòa, đương sự gây mất trật tự, vi phạm nội quy phòng xử án. Xin hỏi trong trường hợp này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền được ra quyết định xử phạt hành chính, đối với đương sự về hành vi vi phạm nội quy phiên tòa không?

    Trả lời: 

    Theo quy định tại Điều 48 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì Thẩm phán chủ tọa phiên toà có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 1.000.000 đồng và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt này. 

    Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực có quyền: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 7.500.000 đồng và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt này. 

    Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao có quyền: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền và tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. 

Hiện có 70 khách đang truy cập website