TRUYỀN HÌNH TRỰC TUYẾN

http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/tuoi-tre_0.jpg
CM Tuổi trẻ Xứ Lạng ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM05_10_02 tuoi tre.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/dang-trong-cuoc-song_0.jpg
CM Đảng trong cuộc sống hôm nay ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM04_10_02 dang trong cuoc song.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/vi-chu-quyen.jpg
CM Vì chủ quyền an ninh biên giới ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM01_10_02 vi chu quyen.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/thoi-su_6.jpg
Chương trình Thời sự tổng hợp ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/thoi su_7.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/CM04_09_02-sua-truyen-hinh-.jpg
CM truyền hình nhân đạo Lạng Sơn ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM04_09_02 sua truyen hinh nhan dao.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/CM03_09_02-SUA-vi-mau-xanh.jpg
CM Vì màu xanh cuộc sống ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM03_09_02 SUA vi mau xanh.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/CM02_09_02-tra-loi.jpg
CM Trả lời bạn xem Truyền hình ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM02_09_02 tra loi.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/CM01_09_02-LAI-hoc-tap-HCM.jpg
CM Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM01_09_02 LAI hoc tap HCM.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/thoi-su_5.jpg
Chương trình Thời sự tổng hợp ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/thoi su_6.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/CM%20ATGT_08_02%20SUA.jpg
CM An toàn giao thông ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM ATGT_08_02 SUA.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/02/CM04_08_02%20sua.jpg
CM ống kính phóng viên ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM04_08_02 sua.flv

Chương trình Thời sự tổng hợp ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/thoi su_7.flv
Chương trình Thời sự tổng hợp ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/thoi su_6.flv
Chương trình thời sự tổng hợp ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/TSTH8_2.flv
Chương trình Thời sự tổng hợp ngày 7/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/thoi su_5.flv
Bản tin sáng ngày 30/1/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/BT SANG_07_02.flv
Bản tin Quốc tế sáng ngày 7/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/BT QUOC TE SANG_07_02.flv
Chương trình Thời sự tổng hợp ngày 6/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/thoi su_4.flv
Chương trình thời sự trưa ngày 06/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/BT TRUA_06_02.flv
Bản tin sáng ngày 06/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/BT SANG_06_02.flv
CM Tuổi trẻ Xứ Lạng ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM05_10_02 tuoi tre.flv
CM Đảng trong cuộc sống hôm nay ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM04_10_02 dang trong cuoc song.flv
CM Vì chủ quyền an ninh biên giới ngày 10/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM01_10_02 vi chu quyen.flv
CM truyền hình nhân đạo Lạng Sơn ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM04_09_02 sua truyen hinh nhan dao.flv
CM Vì màu xanh cuộc sống ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM03_09_02 SUA vi mau xanh.flv
CM Trả lời bạn xem Truyền hình ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM02_09_02 tra loi.flv
CM Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ngày 9/2/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM01_09_02 LAI hoc tap HCM.flv
CM An toàn giao thông ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM ATGT_08_02 SUA.flv
CM ống kính phóng viên ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/CM04_08_02 sua.flv
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/TIENGDAO_08_02.flv
Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 05/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/TIENGDAO_05_02.flv
Chương trình Truyền hình tiếng dao ngày 27/1/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/TIENGDAO_27_01.flv
Chương trình Truyền hình tiếng dao ngày 29/1/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/TIENGDAO_29_01_LAI.flv
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 25/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TIENGDAO_25_01_LAI.flv
Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 22/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TIENGDAO_22_01_LAI.flv
Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 15/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TIENGDAO_15_01LAI.flv
Chương trình Truyền hình tiếng dao ngày 11/1/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TIENG DAO_11_01LAI.flv
Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 08/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TIENGDAO_08_01LAI.flv
Việt Bắc quê em
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Viet Bac que em.flv
Về Lạng Sơn quê em
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Ve Lang Son que em.flv
Tiếng đàn quê hương
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Tieng dan que huong.flv
Suối rừng quê ta nhớ Bác
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Suoi rung que ta nho Bac.flv
Mùa hoa Lê
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Mua hoa Le.flv
Lạng Sơn quê Nọong
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Lang Son que noong.flv
Lạng Sơn anh dũng
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Lang Son anh dung.flv
Học tập làm theo Hồ Chí Minh
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Hoc tap lam theo Ho Chi Minh.flv
Mùa xuân em hát
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/mua xuan em hat.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/TRANG THCS_SO 36_0.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 05/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/TRANG THCS_SO 36.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 25/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TRANG THCS_SO 25.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 21/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TRANG THCS_SO 21.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 19/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TRANG THCS_SO 18_LAI.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 15/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TRANG THCS_SO 15.flv
Trang Truyền hình cơ sở ngày 11/1/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TRANG THCS_SO 11.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 08/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TRANG THCS_SO 08 LAI.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 07/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/TRANG THCS_SO 07.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 08/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/MOI NGAY 1 CUON SACH_36_02_2016 LAI.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 05/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/MOI NGAY 1 CUON SACH_34_01_2016_0.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 05/02/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/02/MOI NGAY 1 CUON SACH_34_01_2016.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 23/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/MOI NGAY 1 CUON SACH_24_01_2016.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 22/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/MOI NGAY 1 CUON SACH_22_01_2016.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 19/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/MOI NGAY 1 CUON SACH_20_01_2016.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 17/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/MOI NGAY 1 CUON SACH_17_01_2016.flv
CM Mỗi ngày một cuốn sách ngày 16/01/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/MOI NGAY 1 CUON SACH_16_01_2016_LAI.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 13/1/2016
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/01/MOI NGAY 1 CUON SACH_13_01_2016.flv

Thông tin thời tiết

Lạng Sơn17
Hà nội 19
Đà Nẵng26
Hồ Chí Minh28

CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 04/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/KINH 4-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 4/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/CT TAY 4-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 4/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/CT DAO 4-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 3/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/CT KINH TOI 3-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 3/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/CT TAY 3-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 3/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/CT DAO 3-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 2/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/KINH TOI 2-2_0.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 2/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/ct tay 2-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 2/2/2016
sites/default/files/audio/2016/02/ct dao 2-2.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 28/1/2016
sites/default/files/audio/2016/02/KINH TOI 28-1.mp3
Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 11/02/2016

 

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

          

6h02’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 36

  

6h06’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 38

   

6h10’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 133

   

6h20’: Chuyên mục  Vì chủ quyền an ninh biên giới

     

6h33’: Thơ  Thơ lộc biếc

  

6h52’: Ký sự  Đường lên Xứ Lạng  – Tập 8/10

  

7h05’: Phim hoạt hình  Sóc nâu kể chuyện  – Tập 52

   

7h13’: Phim khoa giáo  Những vương quốc bí ẩn – Tập 4

  

7h32’: Chuyên mục  Học tập và làm theo tấm gương ĐĐ HCM

  

7h43’: Chuyên mục  Trả lời bạn xem truyền hình

  

7h50’: Rada TV  Giáp chống đạn thần hộ mệnh của người lính

   

8h18’: Trái tim nhân ái  Kỳ 201 – Nguyễn Văn Huyết

  

8h37’: Ca nhạc Việt  Số 6

     

9h03’: Chuyên mục  Truyền hình nhân đạo

 

9h12’: Bản tin tiếng Trung ngày 10/2/2016

  

9h27’: TT thị trường vùng cao  Số 6

 

9h38’: Hành tinh thể thao ngày 11/2/2016

   

10h00’: Chương trình thời sự tổng hợp ngày 10/2/2016

   

10h20’: Trang THCS  Số 40

  

10h32’: Chuyên mục  Vì màu xanh cuộc sống

  

10h43’: Chuyên mục  Người cao tuổi

  

10h54’: Phim truyện  Con gái của bố - Tập 20/75 Phim HK

  

11h40’: Phim tài liệu  Hoàng Văn Thụ

   

12h00’: Phim truyện  Sui gia nan giải – Tập 11/23 Phim HQ

  

12h44’: Phim hoạt hình  Sóc nâu kể chuyện  – Tập 52

 

12h45’: Chương trình truyền hình tương tác Play Music

  

15h00’: Phim tài liệu  Hoàng Văn Thụ

   

15h19’: Phim truyện  Thật giả chuyện Phú ông – Tập 2/4 Phim VN

     

15h53’: Văn bản mới  Số 36

 

15h58’: Lạng Sơn trong tôi 

  

16h09’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 74

  

16h19’: Chuyên mục  Đảng trong cuộc sống hôm nay

      

16h30’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 10/2/2016

  

17h01’: Chuyên mục  Tuổi trẻ Xứ Lạng

     

17h13’: Trang THCS  Số 41

     

17h33’: Phim hoạt hình  Chiến binh Gormiti dũng cảm – Tập 18/52

  

17h45’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 38

  

17h48’: Phim hoạt hình  Sóc nâu kể chuyện  – Tập 53

   

18h03’: Phim truyện  Thật giả chuyện Phú ông – Tập 3/4  Phim VN

 

18h36’: Lạng Sơn trong tôi 

  

18h47’: Chuyên mục  An toàn giao thông

    

19h00': Chuyển tiếp chương trình thời sự VTV1

 

19h50': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 11/2/2016

 

20h11’: Bản tin trong nước ngày 11/2/2016

 

20h16’: Bản tin Quốc tế ngày 11/2/2016

 

20h21’: Bản tin thể thao ngày 11/2/2016

   

20h32’: Chuyên mục  Đại đoàn kết toàn dân

  

20h44’: Chuyên mục  Khoa học công nghệ và Đời sống

     

20h54’: Phim truyện  Con gái của bố – Tập 21/75 Phim HQ

   

21h43’: Phim truyện  Sui gia nan giải– Tập 12/23 Phim HQ

   

22h26’: Chuyên mục  Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay

 

22h37’: Bản tin tiếng Trung ngày 11/2/2016

       

22h52’: Nhìn ra tỉnh bạn  Một ngày săn Nhím biển

  

23h04’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 38

 

23h06’: Lạng Sơn trong tôi

  

23h27’: Văn hóa dân tộc  Số 43

  

23h33’: Ca nhạc  Xuân về trên Xứ Lạng

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 9 tháng 2 năm 2016

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Hậu trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những ai có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; người bị tạm giữ, tạm giam có quyền bầu cử không ?

 

Trả lời:

 

Điều 2 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử:

 

Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.

 

Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định 05 nguyên tắc lập danh sách cử tri sau:

 

1. Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này.

 

2. Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú.

 

3. Cử tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân.

 

4. Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú) hoặc bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nêu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

 

5. Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

 

Điều 30 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri như sau:

 

- Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.

 

- Người thuộc các trường hợp trên nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri theo quy định

 

-Trong thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những người thay đổi nơi thường trú ra ngoài đơn vị hành chính cấp xã nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi thường trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; những người chuyển đến tạm trú ở nơi khác với đơn vị hành chính cấp xã mà mình đã được ghi tên vào danh sách cử tri và có nguyện vọng tham gia bầu cử ở nơi tạm trú mới thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi tạm trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

 

- Cử tri được quy định tại khoản 5 Điều 29 của Luật này, nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ mà được trả tự do hoặc đã hết thời gian giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi có trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, được bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng ký thường trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã hoặc được bổ sung vào danh sách, cử tri tại nơi đăng ký tạm trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

 

- Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Tòa án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Ủy ban nhân dân cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.

 

Câu 2. Bà Lê Thị Na trú tại xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng hỏi: Điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 49 Luật Việc làm quy định: Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

 

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

 

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

 

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

 

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

 

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

 

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

 

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

 

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

 

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

 

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

 

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

 

e) Chết.

 

Mức hưởng (quy định tại Điều 50 Luật Việc làm):

 

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

 

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

 

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 2 tháng 2 năm 2016

 

Câu 1. Ông Lý Quốc Khánh trú tại xã Mai Sao, huyện Chi lăng hỏi: Tháng 9/2015 Anh trai tôi bị truy tố về tội cố ý gây thương tích và đến hôm xét xử sơ thẩm thì anh tôi đã bị tạm giam hai tháng. Tòa án tuyên anh trai tôi 24 tháng tù giam và cho hưởng án treo với thời hạn thử thách là 48 tháng. Tuy nhiên, trong bản án không nhắc đến việc trừ thời gian hai tháng mà anh tôi bị tạm giam. Có sự sai sót nào không trong bản án mà Tòa án đã tuyên với anh trai tôi không ?

Trả lời:

Trước ngày 25/12/2013 - ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao tại điểm b tiểu mục 6.4 quy định:

"Khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, trong mọi trường hợp Toà án phải ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm và phân biệt như sau:

b) Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng hai lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành, nhưng không được dưới một năm và không được quá năm năm".

Tuy nhiên, Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP không quy định trừ thời gian tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành và thời gian thử thách. Hơn nữa, tại khoản 2 Điều 8 của nghị quyết quy định: "Các hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về án treo trái với hướng dẫn của Nghị quyết này đều bãi bỏ"

Bộ luật Hình sự không có quy định về việc thời gian tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời gian thử thách mà chỉ quy định thời gian tạm giam, tạm giữ chỉ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù có thời hạn.

Như vậy, theo quy định Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì bản án mà Tòa án tuyên đối với anh trai ông không trừ thời gian đã bị tạm giam là đúng. Thời hạn tạm giam chỉ được trừ khi anh trai ông bị chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ.

Nếu trong thời gian thử thách mà anh trai ông phạm tội mới thì tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới đó và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 50, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nếu đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm mới cũng như thời gian bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm đã bị xét xử ở bản án trước mới được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Câu 2. Bà Hoàng Thị Vân trú tại xã Yên Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: Cách đây 01 tháng con tôi bị một nhóm thanh niên đánh làm con tôi bị chấn thương sọ não. Gia đình tôi đã báo công an, gửi đơn tố cáo, tuy nhiên sự việc xảy ra đã 01 tháng mà những kẻ đánh con tôi vẫn chưa bị xử lý. Vậy tôi xin hỏi:

1. Thời hạn giải quyết vụ việc của con tôi là bao nhiêu lâu?

2. Trường hợp của con tôi thì những người kia sẽ bị xử lý thế nào?

Trả lời:

1. Thời hạn giải quyết một vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

- Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự: Theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng.

- Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định như sau:

+ Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

+ Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

- Thời hạn truy tố: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây: (i) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; (ii) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; (iii) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Thời hạn xét xử:

+ Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày.

Theo quy định tại Điều 104 và Điều 8 của Bộ luật Hình sự thì tội phạm thuộc quy định tại khoản 1 Điều 104 là tội phạm ít nghiêm trọng; khoản 2 Điều 104 là tội phạm nghiêm trọng; khoản 3 Điều 104 là tội phạm rất nghiêm trọng; khoản 4 Điều 104 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Về hình phạt đối với người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Điều 104 của Bộ luật hình sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

- Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

- Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

- Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1.  Ông Lê Văn Hải trú tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng hỏi: Anh trai tôi có con ngoài giá thú nhưng chưa làm thủ tục nhận. Nay không may mẹ đứa trẻ qua đời, con còn nhỏ nên anh tôi có ý định đón về ở chung nhưng bị vợ phản đối. Xin hỏi mẹ đẻ của cháu đã chết, anh tôi có được nhận con nữa không? Nếu được, thủ tục như thế nào? Vợ anh tôi phản đối thì có ảnh hưởng đến việc nhận con không ?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền nhận con: “Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia”. Do đó, anh trai ông vẫn có quyền nhận con mà không cần phải có sự đồng ý của người vợ hiện tại.

Thủ tục đăng ký nhận con được thực hiện theo các quy định của Luật Hộ tịch và Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp Quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:

Thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con (Điều 24 Luật Hộ tịch):

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con (Điều 25 Luật Hộ tịch):

1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

Tại Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Như vậy, nếu có đủ điều kiện để đăng ký nhận cha, con theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, anh trai ông có thể làm hồ sơ nộp lên UBND cấp xã nơi anh trai ông hoặc nơi người mà anh trai ông muốn nhận làm con đang cư trú để thực hiện thủ tục. Việc mẹ cháu bé đã mất sẽ không ảnh hưởng đến việc nhận con của anh trai ông.

Câu 2: Bà Hoàng Thị Mến trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Con tôi sau khi kết hôn, bị tâm thần, thường xuyên bị chồng đánh đập. Vậy  bố mẹ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn của con không? Luật hôn nhân và gia đình quy định vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo quy định trên, người được quyền yêu cầu ly hôn là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.

Tuy nhiên, khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền được yêu cầu ly hôn.

Cha, mẹ, người thân thích khác chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Khoản 9 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

Nếu cha, mẹ hay người thân thích của vợ hoặc chồng hoặc của cả 2 vợ chồng có ý cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn thì đây là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điểm e, Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Từ các quy đinh nêu trên, nếu vợ chồng hoàn toàn bình thường, không có ý muốn ly hôn thì việc bố mẹ của 1 trong 2 bên hoặc cả 2 bên vợ chồng ép buộc phải ly hôn là vi phạm pháp luật. Theo đó, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ.

"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác".

 

 

 
 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1. Bà Nguyễn Thị Tám trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Vài hôm trước, tôi mua một hộp thực phẩm đóng sẵn, khi mở ra phát hiện có dị vật (sản phẩm lúc mua nguyên vẹn, không có dấu hiệu tác động bên ngoài). Xin hỏi tôi phải làm gì để bảo về quyền của mình và cũng để những người khác không mua phải những sản phẩm kém chất lượng như thế nữa?

 

Tôi có thể kiện nhà sản xuất ra tòa để đòi bồi thường được không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:  Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.

 

Quyền của người tiêu dùng (quy định tại Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng):

 

1. Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

 

2. Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.

 

3. Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

 

4. Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

 

5. Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

 

6. Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.

 

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

8. Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.

 

Theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, bà phát hiện sản phẩm không đảm bảo chất lượng thì cần thông báo cho nhà sản xuất để họ có biện pháp giải quyết kịp thời nhằm đảm bảo sức khỏe cũng như quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.

 

Trong trường hợp bà đã thông báo nhưng họ không hợp tác và hành vi của họ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng thì bà có thể tự mình hoặc đề nghị tổ chức xã hội yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải quyết. Khi thông báo sự việc đến cơ quan có thẩm quyền, bà còn có nghĩa vụ cung cấp thông tin, bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (quy định tại Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng).

 

Về quyền khởi kiện của người tiêu dùng

 

Quyền khởi kiện của người tiêu dùng được quy định tại khoản 7, Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể sử dụng một trong 4 hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ như thương lượng; hòa giải; trọng tài; tòa án. Tuy nhiên, Luật cũng quy định không được thương lượng, hòa giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng.

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, người tiêu dùng có nghĩa vụ “thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan” được biết.

 

Tuy nhiên, cần lưu ý việc “thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan” không đồng nghĩa với việc lợi dụng sản phẩm không đảm bảo an toàn để có hành vi trục lợi, đe dọa, tống tiền.

 

Câu 2: Anh Hoàng Thế Trung trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi vi phạm Luật giao thông đường bộ và bị tạm giữ xe máy. Khi tạm giữ xe máy của tôi tại trụ sở Công an xe của tôi bị vỡ đèn xe và yếm, cho hỏi Tôi có được bồi thường thiệt hại không?

 

Trả lời:

 

Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 7 ngày trước khi ra quyết định xử phạt với những hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 75 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

 

Theo quy định tại khoản 5 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ; tịch thu theo thủ tục hành chính: Người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu. Trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định tạm giữ, tịch thu về việc quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện.

 

Theo Điều 10 Nghị định 115/2013/NĐ-CP, cơ quan, tổ chức, cá nhân có tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu có các quyền sau:

 

1. Khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của người có thẩm quyền tạm giữ, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

 

2. Kiểm tra trước khi nhận lại tang vật, phương tiện khi hết thời hạn bị tạm giữ.

 

3. Yêu cầu cán bộ quản lý lập biên bản về việc tài sản trong thời gian tạm giữ bị mất, đánh tráo, hư hỏng, thiếu hụt và yêu cầu cơ quan quản lý tang vật, phương tiện bồi thường theo quy định của pháp luật.

 

Với các quy định nêu trên, khi phát hiện phương tiện bị tạm giữ của mình bị hư hỏng, ông có quyền yêu cầu lập biên bản và yêu cầu được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1. Ông Trần Văn Mạnh trú tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Cháu tôi bị bắt vì tội trộm cắp tài sản nhưng cháu chưa đủ 16 tuổi nên bố cháu là người đại diện trong quá trình giải quyết vụ án. Do không hiểu biết nên gia đình đã không mời người bào chữa và cơ quan công an chỉ định người bào chữa cho cháu tôi. Tuy nhiên, hiện nay vụ án đang chuẩn bị xét xử gia đình muốn thay đổi người bào chữa cho cháu có được không ?

 

Trả lời:

 

Điều 57 Luật Tố tụng hình sự quy định:

 

1. Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn.

 

2. Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:

 

a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;

 

b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

 

Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

Do đó, trường hợp bị can chưa thành niên, người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự của bị can không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ. Tuy nhiên, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

 

Về việc thay đổi người bào chữa:

 

Tại điểm c, mục 3, phần II Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tóa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định như sau:

 


-        

Trước khi mở phiên tòa, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải làm văn bản, trong đó cần ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp họ trực tiếp đến Tòa án yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản ghi rõ lý do của yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa và người có yêu cầu phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản. Văn bản về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa phải được lưu vào hồ sơ vụ án.

 

Về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa được giải quyết như sau:

 


-        

Trường hợp yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 56 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hướng dẫn tại mục 1 Phần II của Nghị quyết này để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận. Nếu không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết trong đó cần nêu rõ căn cứ của việc không chấp nhận. Nếu chấp nhận thì yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người khác bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân khác bào chữa cho thành viên của tồ chức mình.

 

Câu 2. Ông Hứa Văn Hải trú tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: Con tôi là sinh viên đại học năm thứ nhất (hệ chính quy) và là con trai duy nhất trong nhà, xin hỏi theo quy định mới hiện nay, con tôi có được hoãn tham gia nghĩa vụ quân sự không?

 

Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 3 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 (có hiệu lực ngày 1/1/2016) quy định: “Đăng ký nghĩa vụ quân sự là việc lập hồ sơ về nghĩa vụ quân sự của công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

 

Theo Điều 12 Luật này, đối tượng đăng ký nghĩa vụ quân sự bao gồm:

 

- Công dân nam đủ 17 tuổi trở lên.

 

- Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân.

 

Điều 14 quy định: “Người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh tâm thần hoặc bệnh mãn tính theo quy định của pháp luật” thuộc đối tượng được miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự.

 

Độ tuổi gọi nhập ngũ:

 

Được quy định tại Điều 30, cụ thể như sau:

 

Công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

 

Tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ: (Được quy định tại Điều 41)

 

"1. Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

 

a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe;

 

b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận;

 

c) Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

 

d) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

 

đ) Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định;

 

e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

 

g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

 

2. Miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

 

a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một;

 

b) Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ;

 

c) Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên;

 

d) Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân;

 

đ) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

 

3. Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

 

Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu tình nguyện thì được xem xét tuyển chọn và gọi nhập ngũ.

 

4. Danh sách công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày”.

 

Theo các quy định nói trên, nếu con ông đang là sinh viên đại học năm thứ nhất (hệ chính quy) thì thuộc đối tượng được tạm hoãn gọi nhập ngũ. Sau khi tốt nghiệp đại học, tùy theo tình hình thực tế tại thời điểm đó, con ông có thể được gọi nhập ngũ.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1. Ông Hoàng Quốc Biên trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị mất cắp một chiếc máy tính. Công an đã thu hồi lại máy và đang làm hồ sơ xử lí. Hiện tại tôi đang có nhu cầu sử dụng máy tính, vậy tôi phải chờ bao lâu mới được trả lại? Tôi phải làm thủ tục gì ?

 

Trả lời:

Trong trường hợp này ông là người bị hại trong vụ việc. Nếu vụ việc được khởi tố vụ án hình sự khi đó ông sẽ tham gia vụ án với tư cách là người bị hại theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”.

Cũng theo quy định tại Điều 74, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 thì "Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội". Trong trường hợp này, máy tính là vật mang dấu vết phạm tội, là đối tượng của tội phạm có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội nên cơ quan điều tra giữ máy tính của ông để phục vụ việc điều tra.

Về thời gian tạm giữ tài sản:

Tại khoản 3, Điều 76, Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 có quy định: "Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.", do đó thời gian tạm giữ máy tính của ông sẽ do cơ quan điều tra xem xét và quyết định mà không có quy định cụ thể nào về thời gian tạm giữ tang vật trong các giai đoạn tố tụng.

Để có thể lấy lại tài sản, ông nên liên hệ trực tiếp với cơ quan công an để biết lý do giữ tài sản, ông làm đơn gửi cơ quan công an đề nghị trả lại tài sản cho ông; cơ quan công an sẽ xem xét và trả lại tài sản cho ông (nếu xét thấy không ảnh hưởng tới việc xử lý vụ án).

 

Câu 2. Ông Vy Văn Thủy trú tại xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng hỏi: Anh tôi đang bị tạm giam về hành vi vô ý làm chết người thì thời hạn bị tạm giam khoảng bao nhiêu tháng? Khi đưa ra xét xử Tòa án có báo gia đình để biết ngày xét xử không ?

 

Trả lời:

Thứ nhất, về thời gian tạm giam:

Theo thông tin ông cung cấp thì anh của ông bị tạm giam với tội vô ý làm chết người theo quy định tại khoản 1 điều 98 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “ Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự:

"3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình".

Như vậy đây là tội phạm nghiêm trọng nên theo quy định tại khoản 1, 2 điều 120 Bộ luật Tố tụng hình sự thì thời hạn tạm giam để điều tra đối với trường hợp anh của ông được xác định như sau:

Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra

“1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.”

Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra đối với trường hợp của anh của ông là không quá ba tháng, trường hợp cần thiết được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng, lần thứ hai không quá một tháng.

 

Thứ hai, về Thông báo xét xử: 

Khoản 1 Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về việc giao các quyết định của Toà án như sau: “Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên toà.

Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo”.

Như vậy, trước ngày mở phiên tòa ít nhất mười ngày, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho anh của ông sẽ nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử.

 

 Câu 3. Ông Nguyễn Mạnh Thắng trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi đi xe máy vi phạm quy định bị CSGT giữ Giấy phép lái xe, lập biên bản xử phạt, tuy nhiên, tôi đã làm mất biên bản vi phạm hành chính. Đề nghị cho biết, tôi phải làm thế nào để nộp phạt và xin lại giấy phép lái xe?

 

Trả lời:

Điều 57 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục. Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Tại khoản 3, Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.

Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.

Như vậy, khi lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính, biên bản này được lập thành ít nhất 02 bản, giao cho cá nhân vi phạm hành chính 01 bản và 01 bản sẽ được cơ quan có thẩm quyền lưu trữ. Ông tới nộp phạt kèm theo giấy tờ trình bày về việc mất biên bản thì có thể tiến hành nộp phạt và nhận lại giấy tờ xe.


 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 12 năm 2015

 
 

Câu 1. Anh Nguyễn Mạnh Cường trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thủ tục cấp bằng lái xe quốc tế như thế nào và tôi được sử dụng ở những đâu?

 

Trả lời:

Theo khoản 1, 2, Điều 3 Thông tư 29/2015/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải ngày 06/7/2015 quy định về cấp, sử dụng giấy phép lái xe quốc tế:

1. Giấy phép lái xe quốc tế là giấy phép lái xe do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước (bao gồm cả khu vực hành chính) tham gia Công ước Viên cấp theo một mẫu thống nhất.

2. Giấy phép lái xe quốc tế có tên tiếng Anh là International Driving Permit, sau đây gọi tt là IDP".

Đối tượng được cấp giấy phép lái xe quốc tế theo quy định tại Điều 6 Thông tư này bao gồm: “Người Việt Nam, người nước ngoài có thẻ thường trú tại Việt Nam, có giấy phép lái xe quốc gia do Việt Nam cấp bằng vật liệu PET, còn giá trị sử dụng”.

Thủ tục cấp giấy phép lái xe quốc tế được quy định tại Điều 8 của Thông tư này như sau:

"1. Cá nhân nộp đơn đề nghị cấp IDP theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này. Khi nộp đơn phải xuất trình bản chính giấy phép lái xe quốc gia do Việt Nam cấp, hộ chiếu, thẻ thường trú (đối với người nước ngoài) còn giá trị để kiểm tra, đối chiếu.

2. Trình tự cấp IDP

a) Cá nhân nộp đơn đề nghị cấp IDP theo quy định tại khoản 1 Điều này trực tiếp tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở Giao thông vận tải để thực hiện kiểm tra tính chính xác và hợp pháp của việc cấp IDP. Trường hợp đơn đề nghị không đúng theo quy định thì hướng dẫn thực hiện ngay khi tiếp nhận;

b) Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị cấp IDP, Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở Giao thông vận tải thực hiện việc cấp IDP cho cá nhân; trường hợp không cấp IDP thì phải trả lời và nêu rõ lý do.

3. Trường hợp IDP bị mất hoặc hư hỏng, cá nhân lập đơn đề nghị cấp lại theo quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Không cấp IDP đối với các trường hợp sau đây:

a) Giấy phép lái xe quốc gia bị tẩy xóa, hư hỏng không còn đủ các thông tin cần thiết hoặc có sự khác biệt về nhận dạng;

b) Giấy phép lái xe quốc gia không do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định.

5. Trường hợp phát hiện cá nhân có hành vi gian dối để được cấp IDP, tẩy xóa hoặc làm sai lệch thông tin trên IDP được cấp, ngoài việc bị cơ quan cấp IDP ra quyết định thu hồi IDP, cá nhân đó còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và không được cấp IDP trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bị phát hiện hành vi vi phạm".

Việc sử dụng giấy phép lái xe quốc tế tại Việt Nam:

Theo quy định tại Điều 10 Thông tư 29/2015/TT-BGTVT ngày 06/7/2015: “Người có IDP do Việt Nam cấp khi điều khiển phương tiện cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước tham gia Công ước Viên phải mang theo IDP và giấy phép lái xe quốc gia; tuân thủ pháp luật giao thông đường bộ của nước sở tại. IDP do Việt Nam cấp không có giá trị sử dụng trong lãnh thổ Việt Nam".

Như vậy, kể từ ngày 01/10/2015 Thông tư 29/2015/TT-BGTVT quy định về việc cấp, sử dụng giấy phép lái xe quốc tế chính thức có hiệu lực, người có nhu cầu nộp hồ sơ trực tiếp tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở Giao thông vận tải để được giải quyết. Tuy nhiên, cần lưu ý IDP do Việt Nam cấp không có giá trị sử dụng trong lãnh thổ Việt Nam; do đó, IDP không có giá trị thay thế giấy phép lái xe quốc gia.

 

Câu 2. Ông Lê Văn Hùng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thẻ căn cước công dân được cấp như thế nào từ năm 2016?

 

Trả lời:

Theo Luật Căn cước công dân có hiệu lực từ 01/01/2016, Công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên sẽ được cấp thẻ Căn cước công dân.

Giá trị sử dụng của thẻ Căn cước công dân (Quy định tại Điều 20 Luật Căn cước công dân):

"1. Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Thẻ Căn cước công dân được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin quy định tại Điều 18 của Luật này; được sử dụng số định danh cá nhân trên thẻ Căn cước công dân để kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.

4. Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định của pháp luật".

Thẻ căn cước công dân gồm 2 mặt: Mặt trước thẻ có hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc; dòng chữ “Căn cước công dân”; ảnh, số thẻ Căn cước công dân, họ, chữ đệm và tên khai sinh, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, nơi thường trú; ngày, tháng, năm hết hạn;

Mặt sau thẻ có bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa; vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ; ngày, tháng, năm cấp thẻ; họ, chữ đệm và tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ và dấu có hình Quốc huy của cơ quan cấp thẻ.

Số thẻ căn cước công dân là số định danh cá nhân của từng người. Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ và được đổi khi đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

Công dân có thể lựa chọn một trong các nơi sau đây để làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân:

1. Tại cơ quan quản lý căn cước công dân của Bộ Công an;

2. Tại cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

3. Tại cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương;

Luật cũng quy định về Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp:

"1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016

2. Chứng minh nhân dân đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ Căn cước công dân.

3. Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân vẫn nguyên hiệu lực pháp luật.

Các loại biểu mẫu đã phát hành có quy định sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2019.

4. Địa phương chưa có điều kiện về cơ sở hạ tầng thông tin, vật chất, kỹ thuật và người quản lý căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu căn cước công dân để triển khai thi hành theo Luật này thì công tác quản lý công dân vẫn thực hiện theo các quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực; chậm nhất từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 phải thực hiện thống nhất theo quy định của Luật này".

 

 
 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 12 năm 2015

 

Câu1. Ông Hoàng Văn Trung trú tại xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia hỏi: Tôi có người thân đang thụ án tại Trại giam, cho tôi hỏi các quy định của pháp luật về đặc xá hiện nay như thế nào?

 

Trả lời:

 

Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.

 

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 76/2008/NĐ-CP ngày 04/7/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đặc xá:

 

1. Nhân dịp sự kiện trọng đại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội có ý nghĩa lớn về đối nội, đối ngoại đối với sự phát triển của đất nước; ngày lễ Quốc khánh 2/9 hoặc các ngày lễ khác gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước; xét thấy cần thiết, Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định về đặc xá.

 

2. Khi Chủ tịch nước có yêu cầu về đặc xá hoặc đề nghị của Chính phủ về đặc xá được Chủ tịch nước chấp nhận, Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức liên quan giúp Chính phủ nghiên cứu, xây dựng tờ trình của Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, ban hành Quyết định về đặc xá và Quyết định thành lập Hội đồng Tư vấn đặc xá.

 

3. Tờ trình của Chính phủ phải nêu rõ sự cần thiết của việc đặc xá, dự kiến thời điểm đặc xá, đối tượng được đề nghị đặc xá, điều kiện của người được đề nghị đặc xá, các trường hợp không đề nghị đặc xá; thành phần Hội đồng Tư vấn đặc xá; tổ chức thực hiện đặc xá và những nội dung khác liên quan đến hoạt động đặc xá.”

 

Điều 10 Luật Đặc xá 2007 có quy định về điều kiện được đề nghị đặc xá như sau:

 

1. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

b) Đã chấp hành hình phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù; ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân;

 

c) Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác.

 

 2. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành hình phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

 

a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;

 

b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;

 

c) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;

 

d) Khi phạm tội là người chưa thành niên;

 

đ) Là người từ 70 tuổi trở lên;

 

e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú;

 

g) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.

 

3. Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc áp dụng điều kiện của người được đề nghị đặc xá theo Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước.

 

Đồng thời Điều 11 Luật Đặc xá 2007 có quy định về Các trường hợp không đề nghị đặc xá:

 

Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 10 của Luật này không được đề nghị đặc xá trong các trường hợp sau đây:

 

1. Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

 

2. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác;

 

3. Trước đó đã được đặc xá;

 

4. Có từ hai tiền án trở lên;

 

5. Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.

 

Sau khi có Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước, Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, thống nhất với Bộ Quốc phòng, phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan, tổ chức liên quan giúp Chính phủ tổ chức triển khai thực hiện Quyết định này.

 

Câu 2: Bà Nguyễn Thị Hà trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hai mẹ con tôi đang cư trú tại Lạng Sơn. Mẹ tôi có nhà đất ở Bắc Ninh. Nay mẹ tôi có thể lập và yêu cầu công chứng di chúc tài sản là nhà đất ở Bắc Ninh tại  phòng công chứng số 1 tỉnh Lạng Sơn được không?

 

Trả lời:

 

Điều 42 Luật Công chứng quy định Phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản như sau:

 

Công chứng viên của tổ chức hành, nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản.

 

Như vậy, mẹ của bà có thể yêu cầu công chứng di chúc liên quan đến nhà đất ở Bắc Ninh tại bất kỳ tổ chức công chứng nào trong cả nước, trong đó có các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 12 năm 2015

 

Câu 1. Bà Nguyễn Thị Vân Anh trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: pháp luật quy định như thế nào về bồi thường oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự?

 

Trả lời:

 

Đề giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể như sau:

 

Điều 26. Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

 

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

 

1. Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

 

2. Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

 

3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

 

4. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

 

5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;

 

6. Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

 

7. Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường.

 

Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 27):

 

1. Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

2. Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm.

 

3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này.

 

4. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm.

 

5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Tại Điều 34 quy định  về hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan tiến hành tố tụng hình sự

 

1. Khi nhận được bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định sau đây:

 

a) Người bị thiệt hại do quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 30 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can;

 

b) Người bị thiệt hại do quyết định của Viện kiểm sát quy định tại Điều 31 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Viện kiểm sát đã ra quyết định đó;

 

c) Người bị thiệt hại do bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 32 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Toà án đã ra bản án, quyết định đó.

 

2. Đơn yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự quy định tại khoản 1 Điều này có các nội dung chính sau đây:

 

a) Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;

 

b) Lý do yêu cầu bồi thường;

 

c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.

 

3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có bản án, quyết định xác định người đó thuộc một trong các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.

 

Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận, nếu có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện theo quy định của luật tố tụng dân sự.

 

Câu 2: Bà Hoàng Thị Minh trú tại xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc hỏi: Con tôi đang chấp hành án tại Trại giam, cho tôi hỏi Chế độ thăm gặp thân nhân của phạm nhân được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

 Chế độ thăm gặp thân nhân của phạm nhân được quy định tại Điều 3 Thông tư 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 của Bộ Công an, cụ thể như sau:

 

1. Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng (trừ trường hợp vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đang bị giam tại buồng kỷ luật), mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện) cho phép kéo dài thời gian nhưng không quá 03 giờ. Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 01 tháng. Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng trong nhà thăm gặp không quá 24 giờ.

 

2. Phạm nhân là người chưa thành niên được gặp thân nhân không quá 03 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 03 giờ; nếu chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 24 giờ.

 

3. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức cho phạm nhân được gặp thân nhân theo chế độ gặp vào tất cả các ngày trong tuần, ngày nghỉ, ngày lễ, Tết theo quy định. Thời gian thăm gặp trong ngày buổi sáng từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ, buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ 30 phút.

 

Thông tư cũng quy định về đối tượng được thăm gặp phạm nhân tại Điều 4 như sau:

 

1. Những người là thân nhân phạm nhân được thăm gặp phạm nhân gồm: ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột.

 

2. Đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị thăm gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết nếu xét thấy phù hợp với lợi ích chính đáng của phạm nhân và yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.

 

 

Khi gặp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền mặt, đồ vật (trừ đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ) và được sử dụng theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án hình sự và quy định tại Thông tư này.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 08 tháng 12 năm 2015

 

Câu 1. Ông Lê Văn Hòa trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Gia đình tôi có 3 anh chị em. Bố mẹ tôi mất năm 2002 để lại một căn nhà trên đất khoảng 500m2 cho 3 anh chị em tôi, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ tôi . Đến nay chị gái tôi đã đi lấy chồng, 2 anh em tôi cũng đã lấy vợ và lập gia đình riêng. Chúng tôi muốn chia di sản bố mẹ nhưng không thỏa thuận với nhau được, mà thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết. Vậy chúng tôi phải làm thế nào?

Trả lời:

Ðiều 645 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Như vậy, với trường hợp của ông thì Bố mẹ ông mất từ năm 2002, như vậy đến nay là đã hết thời hiệu khởi kiện. Có nghĩa là không còn quyền khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác;

Tuy nhiên, để giải quyết những vướng mắc về thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 và hướng dẫn như sau:

"Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế:

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản".

Đối chiếu với quy định nêu trên thì nếu các đồng thừa kế gửi đơn khởi kiện đến tòa án mà nội dung khởi kiện là khởi kiện về thừa kế (như chia di sản thừa kế, xác định quyền thừa kế …) thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện do đã hết thời hiệu khởi kiện.

Do vậy, khi làm đơn khởi kiện ông cần ghi nội dung khởi kiện là yêu cầu giải quyết việc chia tài sản chung của các đồng thừa kế thì tòa án sẽ thụ lý đơn; trong trường hợp này, tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

 

Câu 2: Bà Nguyễn Thị Hợp trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hai vợ chống bà có một căn nhà trên mảnh đất 300 m2. Cách đây 02 năm, chồng của bà chết không để lại di chúc. Vợ chồng bà chỉ có 1 con gái duy nhất và bố mẹ chồng vẫn còn sống ở quê. Hiện nay bên nhà chồng đòi chia di sản thừa kế, trường hợp này phân chia di sản như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết:

"2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự".

Theo Điều 675 Bộ luật Dân sự, trong trường hợp người để lại di sản thừa kế mất mà không để lại di chúc, việc chia di sản cho những người thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 676 Bộ luật Dân sự quy định về những người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật như sau:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau".

Theo các quy định trên thì Tài sản chung của vợ chồng bà sẽ được chia đôi, bà hưởng một nửa, một nửa còn lại là di sản của chồng. Gia đình chồng muốn chia tài sản thừa kế thì pháp luật quy định trường hợp này chia thừa kế theo pháp luật (do chồng của bà chết không để lại di chúc) quy định tại Điều 675 của Bộ luật Dân sự 2005.

Trong trường hợp này, những người thừa kế sẽ bao gồm:

- Bố chồng; mẹ chồng; bà, con gái của bà. (Mỗi người được nhận 1/4 đi sản thừa kế của chồng bà để lại).

Tuy nhiên trong trường hợp mà việc chia di sản (ở đây là mảnh đất và căn nhà) ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bà và gia đình thì bà có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế. (Theo quy định tại Điều 686 Bộ luật Dân sự).

 

 


 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 01 tháng 12 năm 2015

 

Câu 1. Ông Lê Mạnh Hùng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi bán 1 mảnh đất, có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên mua. Hợp đồng đã được công chứng nhưng chưa làm thủ tục đăng ký sang tên. Hiện tôi không muốn bán đất nữa có được không?

 

Trả lời:

 

Sau khi đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ toàn bộ nội dung hợp đồng, theo các nguyên tắc quy định tại Điều 412 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp sau khi đã công chứng hợp đồng nhưng chưa đăng ký sang tên quyền sử dụng đất, nếu ông (với tư cách là bên chuyển nhượng) không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nữa thì ông phải trao đổi, thỏa thuận lại với bên nhận chuyển nhượng.

 

Trường hợp thứ nhất: Bên nhận chuyển nhượng đồng ý hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đã giao kết: Nếu các bên thống nhất hủy bỏ giao dịch thì hai bên tiến hành công chứng việc hủy bỏ hợp đồng. Thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 51 Luật công chứng, cụ thể như sau:

 

- Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó.

 

- Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.

 

- Thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương này.

Như vậy, nếu ông không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nữa thì ông và bên nhận chuyển nhượng phải tới tổ chức hành nghề công chứng (nơi đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng) để hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đã ký.

 

Trường hợp thứ hai: Bên nhận chuyển nhượng không đồng ý hủy bỏ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên không thống nhất được việc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết:

 

Như trên đã nêu, sau khi đã giao kết hợp đồng, các bên đều có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ toàn bộ các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hơn nữa, Điều 5 Luật công chứng đã quy định: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”.

 

Do đó, ông và bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ thi hành hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng; trong trường hợp ông không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đó thì bên nhận chuyển nhượng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

Tuy nhiên, cũng theo quy định nêu trên, hợp đồng công chứng có thể bị tòa án tuyên bố là vô hiệu khi có đầy đủ các căn cứ quy định của pháp luật. Căn cứ để tòa án tuyên bố hợp hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Bộ luật Dân sự, gồm các trường hợp như sau:

 

- Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu (Điều 127 Bộ luật Dân sự).

 

Điều 122 Bộ luật Dân sự quy định:

 

+ Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

 

+ Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

 

+ Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

 

+ Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 128 Bộ luật Dân sự).

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129 Bộ luật Dân sự).

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130 Bộ luật Dân sự).

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131 Bộ luật Dân sự)

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132 Bộ luật Dân sự)

 

-Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133 Bộ luật Dân sự)

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134 Bộ luật Dân sự)

 

Vậy, nếu vi phạm một trong một các quy định nêu trên thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể bị tòa án tuyên bố là vô hiệu. Nếu có căn cứ cho rằng hợp đồng giữa ông và bên nhận chuyển nhượng vi phạm các quy định đó thì ông có thể gửi đơn khởi kiện để tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

 

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự:

 

- Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

 

- Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

 

Câu 2. Ông Hoàng Việt Dũng trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Anh trai tôi đang chấp hành án treo về tội trộm cắp tài sản, với thời gian thử thách là 24 tháng, còn 4 tháng nữa là kết thúc thì anh trai tôi đánh nhau với người khác và bị khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích. Với hành vi như vậy, anh trai tôi sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự, đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

 

Điều 6 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 14/10/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể quy định trên như sau:

 

Trường hợp người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật hình sự; nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian họ đã bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm bị đưa ra xét xử lần này cũng như thời gian tạm giam, tạm giữ về tội phạm đã bị xét xử ở bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

 

Tại Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự quy định: Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

 

 

Như vậy, đối với trường hợp anh của ông là người đang trong thời gian thử thách, được hưởng án treo, nay lại bị khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích thì khi hành vi này được kết án bằng một bản án của Tòa án thì Tòa án quyết định anh của ông phải chấp hành hình phạt tổng hợp của tội trộm cắp tài sản mà anh của ông đã thực hiện trước đó cộng với hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích và không cho phép anh của ông được tiếp tục hưởng án treo.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 24 tháng 11 năm 2015

 

Câu1. Chị Lê Thị Thắm trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi muốn nhận cháu gái con Chị gái tôi năm nay 8 tuổi làm con nuôi. Vậy xin hỏi điều kiện và thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định pháp luật hiện nay như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 8 và Điều 14 Luật Nuôi con nuôi quy định như sau:

 

Người được nhận làm con nuôi đáp ứng các điều kiện sau:

 

- Trẻ em dưới 16 tuổi

 

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

 

- Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

 

-                    

Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.

 

Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

 

- Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

 

- Có tư cách đạo đức tốt.

 

Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định “Hơn con nuôi 20 tuổi trở lên” và  “Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”.

 

Những người sau đây không được nhận con nuôi:

 

- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

 

- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

 

- Đang chấp hành hình phạt tù;

 


-        

Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

Thủ tục, hồ sơ nhận nuôi con nuôi như sau:

 

Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm:

 

- Đơn xin nhận con nuôi (theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định).

 

- Bản sao Hộ chiếu, Giấy CMND hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

 

- Phiếu lý lịch tư pháp.

 

- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

 


-        

Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp và văn bản xác nhận về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do UBND cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp (trừ trường hợp người xin nhận con nuôi thuộc diện được miễn các điều kiện này theo quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi).

 

Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi gồm:

 

- Bản sao Giấy khai sinh;

 

- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở  lên cấp;

 

- Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng không chụp quá 6 tháng;

 

Tùy từng trường hợp cụ thể mà phải có giấy tờ sau:

 

+ Biên bản do UBND xã hoặc Công an xã lập đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi;

 

+ Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em đã chết đối với trẻ em mồ côi;

 

+ Quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em bị mất tích đối với trường hợp trẻ em có cha, mẹ đẻ bị mất tích hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố  cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em bị mất năng lực hành vi dân sự đối với trường hợp trẻ em có cha đẻ, mẹ đẻ bị mất năng lực hành vi dân sự;

 

+ Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

 

Nộp hồ sơ, thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi:

 

- Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.

 


-        

Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

 

Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi là 400.000 đồng/trường hợp.

 

Miễn lệ phí đăng ký nuôi con nuôi trong nước đối với trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi; Nhận trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo làm con nuôi và việc nuôi con nuôi ở vùng sâu, vùng xa.

 

Câu 2: Ông Nguyễn Minh Đức trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi bị mất giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vậy có xin cấp lại được không? Hồ sơ xin cấp lại gồm những giấy tờ gì?

 

Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 28 Luật doanh nghiệp 2014 quy định:

 

Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, doanh nghiệp được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và phải trả lệ phí theo quy định pháp luật về phí và lệ phí.

 

Điều 58 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp quy định về việc cấp lại giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp như sau:

 

1. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do bị mất, cháy, rách, nát hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, doanh nghiệp gửi Giấy đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.

 

Phòng Đăng ký kinh doanh nhận Giấy đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và xem xét cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Giấy đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

 

2. Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp không đúng hồ sơ, trình tự, thủ tục theo quy định, Phòng Đăng ký kinh doanh gửi thông báo yêu cầu doanh nghiệp hoàn chỉnh và nộp hồ sơ hợp lệ theo quy định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi thông báo để được xem xét cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp.

 

3. Trường hợp thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là không trung thực, không chính xác thì Phòng Đăng ký kinh doanh thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Phòng Đăng ký kinh doanh yêu cầu doanh nghiệp làm lại hồ sơ để cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và thực hiện cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp.

 

4. Trường hợp doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới thì Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của các lần trước đó không còn hiệu lực.

 

- Thành phần hồ sơ gồm có:

 

1. Giấy đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh.

 

2- Tờ khai thông tin người nộp hồ sơ.

 

Nhắn tin:

 

Chúng tôi đã chuyển đơn của bà Nông Thị Bông trú tại thôn Hà Quảng, xã Hòa Bình, huyện Văn Quan đến Chủ tịch UBND xã Hòa Bình, huyện Văn Quan để xem xét, giải quyết.

 

 

Đơn của tập thể một số hộ dân tại thôn Trà Ký, Bó Pằm, Nà Mìu, xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình chúng tôi đã chuyển đến Chủ tịch UBND huyện Lộc Bình để xem xét, giải quyết.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 17 tháng 11 năm 2015

 

Câu 1. Bà Lê Thị Nguyệt trú tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi:

 

Trong giờ ra chơi khi đang đá cầu tại sân trường, con trai 12 tuổi của tôi bị một bạn cùng chơi đẩy ngã làm gãy chân. Nhà trường hay cha mẹ bé này phải bồi thường chi phí điều trị cho con tôi?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đủ 4 yếu tố sau: Phải có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần; Phải có hành vi trái pháp luật; Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.

 

Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.

 

Trong trường hợp này, việc một học sinh đẩyl àm con bà bị ngã gãy chân đã đủ yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

 

Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định cụ thể về trường hợp bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý. Khoản 1 Điều này quy định: “Người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra”. Tuy nhiên, nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường (theo quy định tại khoản 3, Điều 621 Bộ luật Dân sự).

 

Với những thông tin bà cung cấp, con của bà đang học tại trường, cho dù trong thời gian ra chơi thì nhà trường vẫn phải có trách nhiệm giám sát và bảo đảm quản lý được hoạt động của các em. Việc các em đá cầu không phải là điều Nhà trường cấm nên việc con bà bị gẫy chân có phần lỗi của nhà trường, do đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về nhà trường (trừ trường hợp nhà trường chứng minh được đã nhắc nhở, ngăn cấm đá cầu trong sân trường trong giờ ra chơi nhưng các em học sinh vẫn cố tình thực hiện).

 

Về các khoản thiệt hại được bồi thường: Theo quy định tại mục 1 phần II, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

 

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

 

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

 

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

 

d) Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

 

đ) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

 

Để biết được cụ thể các khoản được bồi thường thiệt hại, số tiền được bồi thường, gia đình bà cần phải cung cấp các giấy tờ cần thiết để chứng minh như: giấy nhập viện, giấy xuất viện, các khoản viện phí, hoá đơn tiền thuốc,….để nhà trường có cơ sở bồi thường thiệt hại.

 

Câu 2: Ông Vũ Văn Tân trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi và anh trai tôi cùng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do bố mẹ tôi để lại (bố mẹ tôi đã mất). Nay anh trai tôi muốn bán căn nhà đi nhưng tôi thì không muốn bán. Nếu tôi không đồng ý bán thì anh trai tôi có quyền bán căn nhà không?

 

Trả lời: Trường hợp này là sở hữu tài sản chung theo phần do được thừa kế chung. Do đó, về nguyên tắc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung theo phần phải được sự đồng thuận của tất cả các đồng sở hữu chung.

 

Nếu không đạt được đồng thuận thì phải tuân theo qui định của điều 223 Bộ luật Dân sự 2005 về định đoạt tài sản chung như sau:

 

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

 

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

 

3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.

 

Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

 

 

Như vậy, nếu anh của ông muốn định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu chung theo phần là căn nhà thừa kế trên, ông có quyền ưu tiên mua trong thời hạn theo quy định trên kể từ ngày nhận được thông báo, nếu ông không mua thì anh của được quyền bán phần sở hữu của mình cho người khác. Trong trường hợp ông không đồng ý tiếp tục là sở hữu chung với anh của ông hoặc với người mà anh của ông bán, ông có thể khởi kiện ra tòa án yêu cầu phân chia tài sản chung và ông nhận lấy phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ông bằng hiện vật (nếu nhà chia được) hoặc bằng tiền (nếu nhà quá nhỏ không thể chia được).

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 10 tháng 11 năm 2015

 

Câu 1. Chị Lê Thị Tâm trú tại thị trấn Hữu Lũng hỏi: Chị gái tôi kết hôn được 5 năm mà chưa có con. Đã đi khám nhiều nơi và được kết luận không thể mang thai. Được biết hiện nay pháp luật cho phép mang thai hộ. Tôi chưa lập gia đình vậy tôi có thể mang thai hộ chị tôi được không? Cho tôi xin hỏi hồ sơ, thủ tục như thế nào.

Trả lời:

Vấn đề mang thai hộ đã được pháp luật cho phép kể từ khi Luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực vào ngày 01/01/2015. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản có công chứng.

Khi chị gái của chị đã có xác nhận của tổ chức y tế là không thể mang thai ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì có quyền nhờ người khác mang thai hộ.

Theo khoản 3 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

- Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

- Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

- Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

- Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Theo Nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, tại Khoản 7 Điều 2 quy định về người thân thích như sau: "Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ".

Căn cứ vào những quy định trên thì chị thuộc trường hợp người thân thích với người nhờ mang thai hộ tuy nhiên chị là người chưa lập gia đình, chưa từng sinh con nên chị chưa đủ điều kiện để mang thai hộ chị gái. Vợ chồng chị gái chị nên tìm người khác có đủ các điều kiện nêu trên để nhờ mang thai hộ.

Trong trường hợp vợ chồng chị gái của chị tìm được người đáp ứng đủ điều kiện mang thai hộ thì thủ tục nhờ mang thai hộ như sau:

Trước hết, vợ chồng chị gái chị làm hồ sơ theo hướng dẫn tại Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và gửi đến một trong những cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật này, hồ sơ gồm:

- Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định này;

- Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị định này;

- Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào;

- Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do UBND cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;

- Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

- Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Nghị định này và từng sinh con;

- Bản xác nhận của UBND cấp xã hoặc người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ tự mình chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng hàng trên cơ sở các giấy tờ hộ tịch có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các giấy tờ này;

- Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ.

- Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;

- Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;

- Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;

- Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo quy định tại Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định này.

Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

Hiện nay theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì các Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện thực hiện ngay kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo gồm:

- Bệnh viện Phụ sản trung ương;

- Bệnh viện Đa khoa trung ương Huế;

- Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh.

Nếu hồ sơ đầy đủ các giấy tờ nêu trên, xét thấy cả hai bên đáp ứng được các điều kiện về pháp lý và y học, một trong các cơ sở y tế trên sẽ thực hiện các thủ tục cho mang thai hộ theo quy định của pháp luật.

Câu 2: Hỏi: Anh Hoàng Văn Hùng trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi đến xin việc tại Công ty, Công ty đồng ý nhận tôi vào làm việc nhưng yêu cầu tôi nộp bản chính Bằng tốt nghiệp đại học và khi nào chấm dứt hợp đồng lao động sẽ trả lại. Như vậy có đúng quy định của pháp luật không?

Trả lời:

Điều 20 Bộ Luật Lao động 2012 quy định: “Những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động: Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động; Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động”.

Trong trường hợp này Công ty đó đã vi phạm quy định tại Điều 20 Bộ luật Lao động. Công ty đó có thể bị xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đng, cụ thể như sau:

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

- Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động;

- Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền, pháp luật còn buộc họ phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả:

- Buộc trả lại bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ đã giữ của người lao động;

- Buộc trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt.

Như vậy, việc công ty muốn giữ bằng gốc của ông là trái với quy định của pháp luật.

 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 3 tháng 11 năm 2015

 

Câu 1. Bà Nông Thị Nhất trú tại thôn Bản Trại, xã Kháng Chiến, huyện Tràng Định hỏi : Chông tôi là cán bộ quân đội về nghỉ hưu đang hưởng lương hưu thì mất, vậy tôi được hưởng chế độ gì không và mức hưởng là bao nhiêu?

Trả lời:

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành (Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006) và Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 Hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, chế độ tử tuất được quy định như sau:

1.Trợ cấp mai táng:

1.1 Điều kiện hưởng :

Người lo mai táng cho một trong những đối tượng nêu dưới đây chết:

- Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội.

- Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

- Người đang hưởng lương hưu; Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc.

1.2 Mức trợ cấp mai táng: Người lo mai táng được hưởng trợ cấp mai táng do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả bằng 10 tháng lương tối thiểu chung.

2. Trợ cấp tuất hàng tháng:

2.1 Điều kiện hưởng:

a) Điều kiện về đối tượng: Các đối tượng dưới đây khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng do quỹ BHXH chi trả:

- Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần;

- Người đang hưởng lương hưu;

- Người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu);

- Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

b. Đối tượng hưởng:

- Con chưa đủ 15 tuổi (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết người vợ đang mang thai); con chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học; con từ đủ 15 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

- Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới 55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ 60 tuổi đối với nam, từ đủ 55 tuổi đối với nữ hoặc nam dưới 60 tuổi, nữ dưới 55 tuổi mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

 Điều kiện về thu nhập: Những thân nhân nêu trên (trừ thân nhân là con) phải  không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

c. Mức hưởng:

- Mức trợ cấp bằng 50% mức lương tối thiểu chung (trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung).

- Số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng không quá 4 người đối với 1 người chết; trường hợp có từ 2 người chết trở lên thì thân nhân của những người này được hưởng 2 lần mức trợ cấp.

d. Thời điểm hưởng:

Từ tháng liền kề sau tháng mà người lao động, người hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chết.

3. Trường hợp hưởng tuất 1 lần:

a. Điều kiện hưởng:

- Người chết không đủ kiều kiện để thân nhân hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

- Người chết  đủ điều kiện để thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nhưng không có thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

b. Mức hưởng:

- Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội hoặc người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội; mức thấp nhất bằng 3 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

- Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 1 tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu đang hưởng; mức thấp nhất bằng 3 tháng lương hưu đang hưởng trước khi chết.

Căn cứ vào các quy định chúng tôi vừa viện dẫn ở trên, đề nghị bà liên hệ trực tiếp với Bảo hiểm xã hội huyện Tràng Định để được xem xét, giải quyết.

Câu 2. Ông Nguyễn Văn Tuân trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi: Công ty tôi có một số công nhân đang làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) xác định thời hạn, nộp đơn đề nghị chấm dứt HĐLĐ với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng Giám đốc Công ty không đồng ý. Họ vẫn gửi đơn và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vậy Công ty chúng tôi có phải trả tiền trợ cấp thôi việc không và mức chi trả như thế nào?

Trả lời:

Điều 48 Bộ luật Lao động quy định:

"1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

Trường hợp người lao động làm việc tại Công ty ông có đơn đề nghị chấm dứt Hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 36, điểm d khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động. Do vậy công ty ông có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động khi người lao động thôi việc đúng quy định và khi người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 27 tháng 10 năm 2015

 

Câu1. bà Nông Thị Tâm trú tại xã Tri Phương, huyện Tràng Định hỏi: Người tham gia dân công hỏa tuyến phục vụ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc có được hưởng chế độ, chính sách gì không ?

 

Trả lời:

Ngày 14/10/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg Về một số chế độ, chính sách đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.

 

Đối tượng và điều kiện áp dụng

1. Đối tượng: Dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tquốc và làm nhiệm vụ quốc tế.

2. Điều kiện: Người được y ban hành chính hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trở lên hoặc cơ quan, đơn vị có thẩm quyền huy động, quản lý tập trung, được giao làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu cho các đơn vị Quân đội hoặc phục vụ các chiến trường, trong thời gian và địa bàn như sau:

a) Dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp từ tháng 9 năm 1945 đến ngày 20 tháng 7 năm 1954; tham gia kháng chiến chng Mỹ từ sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Địa bàn thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi cả nước và ở Lào, Campuchia.

b) Dân công hỏa tuyến tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 07 tháng 01 năm 1979, ở biên gii phía Bắc từ tháng 02 năm 1979 đến tháng 12 năm 1988, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 31 tháng 12 năm 1988, ở Campuchia từ tháng 01 năm 1979 đến ngày 31 tháng 8 năm 1989. Địa bàn thực hiện nhiệm vụ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là các huyện biên giới, các huyện tiếp giáp với huyện biên giới có yêu cầu phục vụ, bảo đảm cho nhiệm vụ chiến đấu.

c) Đối với một số địa bàn đặc biệt, thời gian tham gia của dân công hỏa tuyến có thể được tính sớm hơn hoặc muộn hơn so với thời gian nêu trên do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

 

Đi tưng không áp dụng

Đối tượng quy định tại Điều 2 Quyết định này thuộc một trong các trường hợp sau đây, không thuộc đối tượng áp dụng:

1. Hiện đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độ bệnh binh, chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học hằng tháng hoặc đang công tác trong cơ quan Nhà nước, làm việc trong doanh nghiệp nhà nước hưởng lương từ ngân sách nhà nước có tham gia bảo hiểm xã hội bt buộc.

2. Đã từ trần nhưng không còn vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp.

3. Đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân; hoặc người bị kết án vmột trong những tội về xâm phạm đến an ninh quốc gia.

4. Xuất cảnh trái phép, đang định cư ở nước ngoài bất hợp pháp hoặc btòa án tuyên bố là mất tích; hoặc thoái thác nhiệm vụ, đầu hàng, phản bội, chiêu hồi.

 

Chế độ, chính sách được hưởng

Đi tượng có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Quyết định này đưc hưởng chế độ, chính sách sau đây:

1. Chế độ trợ cấp một lần

Mức trợ cấp một ln được ấn định theo các mốc thi gian thực tế trực tiếp tham gia dân công hỏa tuyến (trường hợp có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến các đợt khác nhau hoặc có gián đoạn thì được cộng dồn), cụ thể như sau:

a) Dưới 01 năm, mức trợ cấp bằng 2.000.000 đồng;

b) Đủ 01 năm đến dưới 02 năm, mức trợ cấp bằng 2.700.000 đồng;

c) Từ đủ 02 năm trở lên, mức trợ cấp bằng 3.500.000 đồng.

Người đã từ trần, một trong những thân nhân sau đây của người từ trn được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo mức thống nhất tương ứng nêu trên: Vhoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp.

2. Chế độ bảo hiểm y tế

Người chưa được hưởng chế độ bảo hiểm y tế thì được hưng chế độ bảo hiểm y tế tương tự như đối tượng quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

2. Chế độ trợ cấp mai táng phí

Khi từ trn, người lo mai táng được hưởng trợ cấp mai táng phí theo mức quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

4. Ghi nhận thời gian tham gia dân công hỏa tuyến

Được cấp “Giấy chứng nhận” tham gia dân công hỏa tuyến.

Các chế độ, chính sách quy định tại Quyết định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.

Bà đối chiếu trường hợp của mình với các quy định chúng tôi viện dẫn ở trên, nếu đủ điều kiện đề nghị bà liên hệ với UBND xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để được hướng dẫn.

Câu 2: Anh Hoàng Văn Thanh trú tại xã Mai Sao, huyện Chi Lăng hỏi:

 

Tôi tham gia lực lượng Dân quân tự vệ tại địa phương trong thời gian 4 năm và đã có Giấy chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ do Ủy ban nhân dân xã cấp. Vậy tôi có được xem là người hoàn thành nghĩa vụ quân sự để được xét đối tượng ưu tiên trong thi tuyển hoặc xét tuyển công chức theo khoản 1 Ðiều 5 Nghị định 24/2010/NÐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ không?

Trả lời:

Điều 3 Luật dân quân tự vệ năm 2009 quy định dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh.

Vấn đề ưu tiên trong tuyển dụng công chức được quy định tại Điều 5 Nghị định 24/2010/NÐ-CP như sau:

“1. Đối tượng và điểm ưu tiên trong thi tuyển hoặc xét tuyển công chức:

a) Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh: được cộng 30 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển;

b) Người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách như thương binh, con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động: được cộng 20 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển;

c) Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ: được cộng 10 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển.”

Như vậy, trường hợp của ông không thuộc đối tượng ưu tiên khi được xét tuyển công chức theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 5 Nghị định 24/2010/NÐ-CP.


 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 20 tháng 10 năm 2015

 

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Nhạ trú tại xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc hỏi: Điều kiện và thủ tục để được hưởng chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học?

 

Trả lời:

Các điều kiện và thủ tục để được hưởng chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được quy định Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Cụ thể như sau:

Đối tượng xác nhận: (quy định tại điều 38, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ).

1. Cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam.

2. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc lực lượng Công an nhân dân.

3. Cán bộ, công nhân viên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.

4. Thanh niên xung phong tập trung.

5. Công an xã; dân quân; du kích; tự vệ; dân công; cán bộ thôn, ấp, xã, phường.

Điều kiện xác nhận: (quy định tại điều 39, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ)

1. Đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ ngày 01 tháng 8 năm 1961 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học ở chiến trường B, C, K (kể cả 10 xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Tân, Vĩnh Thành, Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà, Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn và Vĩnh Thủy thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị).

2. Do nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trường hợp bệnh tật sau:

 

a) Mắc bệnh theo danh mục bệnh tật do Bộ Y tế quy định làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; (Danh mục bệnh tật được quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 18/11/2013 của Liên Bộ Y tế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn khám giám định bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ).

b) Vô sinh;

c) Sinh con dị dạng, dị tật theo danh mục dị dạng, dị tật do Bộ Y tế quy định.

Hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

1. Giấy tờ chứng minh có thời gian tham gia kháng chiến ở vùng quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học.

2. Bản sao bệnh án điều trị tại cơ sở y tế có thẩm quyền do Bộ Y tế quy định.

3. Biên bản giám định của Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền.

4. Giấy chứng nhận bệnh tật; dị dạng, dị tật do nhiễm chất độc hóa học của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đối với các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 38 của Nghị định này hoặc của Giám đốc Sở Y tế đối với các trường hợp quy định tại Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5 Điều 38 của Nghị định này.

5. Quyết định trợ cấp, phụ cấp của cơ quan có thẩm quyền.

Đối chiếu với các quy định chúng tôi viện dẫn ở trên, nếu ông thấy mình có đủ điều kiện thì trực tiếp liên hệ với UBND cấp xã nơi ông cư trú để được hướng dẫn.

 

Câu 2: Ông Đàm Văn Hồng trú tại thôn Pò Chạng, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định hỏi: Đối tượng và điều kiện được hưởng chế độ theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ?

 

Trả lời:

Thi hành Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 144/2008/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BTC ngày 27/11/2008 hướng dẫn thực hiện như sau:

1. Đối tượng và điều kiện áp dụng

Quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhập ngũ từ ngày 30/4/1975 trở về trước, có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a. Đã phục viên, xuất ngũ về địa phương;

b. Đã chuyển ngành rồi thôi việc;

c. Đã phục viên, xuất ngũ một thời gian rồi tiếp tục công tác (tái ngũ; làm việc ở cơ quan, đơn vị, tổ chức ngoài quân đội), sau đó lại phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

2. Đối tượng không áp dụng

a. Những người thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 nêu trên nhưng hiện đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng; hoặc hiện đang công tác hưởng lương từ ngân sách Nhà nước có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;

b. Người những phản bội, đầu hàng địch; người vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân; người tính đến ngày Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành mà đang chấp hành án tù chung thân hoặc bị kết án một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia mà chưa được xóa án tích;

c. Người xuất cảnh ra nước ngoài bất hợp pháp; người xuất cảnh và ở lại nước ngoài bất hợp pháp (bao gồm cả người đi lao động hợp tác quốc tế);

d. Người đã hưởng chế độ trợ cấp một lần quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005; khoản 2 Điều 1 Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ thì không được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo hướng dẫn tại khoản 3, 4 Mục II Thông tư này;

đ. Người đã từ trần nhưng không còn vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp.

3. Chế độ được hưởng:

3.1. Cách tính thời gian hưởng:

a. Thời gian tính hưởng chế độ là thời gian công tác thực tế trong quân đội từ khi nhập ngũ đến khi phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành.

Đối với các trường hợp chuyển ngành rồi thôi việc; hoặc đã phục viên, xuất ngũ một thời gian rồi tiếp tục công tác (như: tái ngũ; làm việc ở cơ quan, đơn vị, tổ chức ngoài quân đội), sau đó lại phục viên, xuất ngũ, thôi việc, thì thời gian chuyển ngành và thời gian làm việc ngoài quân đội không được tính hưởng chế độ.

b. Thời gian công tác thực tế trong quân đội nếu gián đoạn được cộng dồn để tính hưởng chế độ.

c. Thời gian hưởng chế độ trợ cấp một lần, nếu có tháng lẻ thì đủ 6 tháng trở lên được tính là một năm, dưới 6 tháng được tính là nửa năm (1/2 năm).

3.2. Chế độ trợ cấp hàng tháng

- Đối tượng quy định tại khoản 1 Mục I Thông tư này, có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác trong quân đội, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng, tính theo số năm công tác thực tế.

- Người được hưởng trợ cấp hàng tháng từ trần thì thôi hưởng từ tháng tiếp theo; người tổ chức lễ mai táng được hưởng trợ cấp một lần bằng 3 tháng trợ cấp hiện hưởng của người từ trần.

3.3. Chế độ trợ cấp một lần

Đối tượng quy định tại khoản 1 Mục I Thông tư này, có dưới 15 năm công tác trong quân đội, được hưởng chế độ trợ cấp một lần, tính theo số năm công tác thực tế, cụ thể như sau:

a. Đối tượng có thời gian công tác thực tế trong quân đội từ đủ 2 năm trở xuống mức hưởng trợ cấp một lần bằng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

b. Đối tượng có thời gian công tác thực tế trong quân đội trên 2 năm, thì từ năm thứ 3 trở đi cứ mỗi năm được cộng thêm 600.000 đồng.

Mức trợ cấp một lần được tính theo công thức sau:

Mức hưởng = 2.000.000 đồng + [(số năm được tính hưởng - 2 năm) x 600.000 đồng].

4. Đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng nếu đã từ trần trước ngày 01 tháng 01 năm 2009; đối tượng hưởng trợ cấp một lần nêu trên nếu đã từ trần trước ngày Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành, bao gồm cả trường hợp từ trần khi tại ngũ báo tử là tử sĩ, thì một trong những người sau đây: vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của người từ trần được hưởng chế độ trợ cấp một lần bằng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Căn cứ vào các quy định chúng tôi viện dẫn ở trên, đề nghị ông liên hệ với UBND xã Quốc khánh để được xem xét, giải quyết.

 

Nhắn tin:

Chúng tôi đã nhận được đơn của ông Lành Văn Khánh, Hoàng Văn Viên trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Qua nội dung đơn, chúng tôi đề nghị các ông liên hệ trực tiếp với Công ty cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông Lạng Sơn theo như thông báo số 400, 401/TB-QLXDGT-TCHC ngày 20/7/2015 của Công ty, nếu không thỏa thuận giải quyết được các ông có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để được giải quyết.

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 13 tháng 10 năm 2015

 

 

Câu 1. Bà Chu Thị Hằng trú tại xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn hỏi: Bố tôi được công nhận là Người có công với cách mạng nhưng bố tôi đã mất, nay gia đình tôi được hưởng trợ cấp 50 triệu đồng. Cho tôi hỏi những ai trong gia đình tôi được hưởng số tiền trên?

Trả lời:

Theo khoản 2 điều 10 Nghị định 31/2013/NĐ-CP này 09/4/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng quy định:

Người hoạt động cách mạng chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Pháp lệnh thì đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần mức 50 triệu đồng.

Trường hợp không còn thân nhân thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp một lần mức 10 triệu đồng.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 31/2013/NĐ-CP: Thân nhân người có công là cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con (con đẻ, con nuôi).

Như vậy, căn cứ vào các quy định thì chỉ có thân nhân bố của bà được hưởng số tiền trợ cấp 50 triệu đồng.

Câu 2: Anh Nguyễn Minh Tâm trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các dự án, công trình nào phải được cơ quan cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy?

 Trả lời:

Thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy là việc kiểm tra, đối chiếu các giải pháp, nội dung thiết kế dự án, công trình, phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến phòng cháy và chữa cháy, tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn quốc tế về phòng cháy và chữa cháy được phép áp dụng tại Việt Nam.

Theo quy định tại Phụ lục IV Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy thì các dự án, công trình phải được cơ quan cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy bao gồm:

1. Dự án quy hoạch xây dựng mới hoặc cải tạo đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; dự án xây dựng mới hoặc cải tạo công trình hạ tầng kỹ thuật có liên quan đến phòng cháy và chữa cháy của đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao thuộc thẩm quyền phê duyệt của cấp huyện trở lên.

2. Học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường dạy nghề, trường phổ thông và các loại trường khác có khối lớp học có khối tích từ 5.000 m3 trở lên; nhà trẻ, trường mẫu giáo có từ 100 cháu trở lên.

3. Bệnh viện cấp huyện trở lên; nhà điều dưỡng và các cơ sở y tế khám bệnh, chữa bệnh khác có quy mô từ 21 giường trở lên.

4. Trung tâm hội nghị, nhà hát, nhà văn hóa, rạp chiếu phim, rạp xiếc có sức chứa từ 300 chỗ ngồi trở lên; nhà thi đấu thể thao trong nhà có sức chứa từ 200 chỗ ngồi trở lên; sân vận động ngoài trời có sức chứa từ 5.000 chỗ ngồi trở lên; vũ trường, cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí đông người có khối tích từ 1.500 m3 trở lên; công trình công cộng khác có khối tích từ 1.000 m3 trở lên.

5. Bảo tàng, thư viện, triển lãm, nhà lưu trữ cấp tỉnh trở lên; nhà hội chợ, di tích lịch sử, công trình văn hóa khác cấp tỉnh hoặc thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

6. Chợ kiên cố cấp huyện trở lên; chợ khác, trung tâm thương mại, siêu thị có tổng diện tích gian hàng từ 300 m2 trở lên hoặc có khối tích từ 1.000 m3 trở lên.

7. Công trình phát thanh, truyền hình, bưu chính viễn thông cấp huyện trở lên.

8. Trung tâm chỉ huy, điều độ, điều hành, điều khiển quy mô khu vực và cấp tỉnh trở lên thuộc mọi lĩnh vực.

9. Cảng hàng không; cảng biển, cảng đường thủy nội địa từ cấp IV trở lên; bến xe ô tô cấp huyện trở lên; nhà ga đường sắt có tổng diện tích sàn từ 500 m2 trở lên.

10. Nhà chung cư cao 05 tầng trở lên; nhà đa năng, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ cao từ 05 tầng trở lên hoặc có khối tích từ 5.000 m3 trở lên.

11. Trụ sở cơ quan hành chính nhà nước cấp xã trở lên; trụ sở làm việc của các cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức khác cao từ 05 tầng trở lên hoặc có khối tích từ 5.000 m3 trở lên.

12. Công trình thuộc cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ cao từ 05 tầng trở lên hoặc có khối tích từ 5.000 m3 trở lên.

13. Công trình tàu điện ngầm; hầm đường sắt có chiều dài từ 2.000 m trở lên; hầm đường bộ có chiều dài từ 100 m trở lên; gara ô tô có sức chứa từ 05 chỗ trở lên; công trình trong hang hầm có hoạt động sản xuất, bảo quản, sử dụng chất cháy, nổ và có khối tích từ 1.000 m3 trở lên.

14. Kho vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; công trình xuất nhập, chế biến, bảo quản, vận chuyển dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, khí đốt, vật liệu nổ công nghiệp.

15. Công trình sản xuất công nghiệp có hạng nguy hiểm cháy, nổ A, B, C, D, E thuộc dây chuyền công nghệ sản xuất chính có khối tích từ 1.000 m3 trở lên.

16. Cửa hàng kinh doanh xăng dầu có từ 01 cột bơm trở lên; cửa hàng kinh doanh khí đốt có tổng lượng khí tồn chứa từ 70 kg trở lên.

17. Nhà máy điện (hạt nhân, nhiệt điện, thủy điện, phong điện...) trạm biến áp có điện áp từ 110 KV trở lên.

18. Nhà máy đóng tàu, sửa chữa tàu; nhà máy sửa chữa, bảo dưỡng máy bay.

19. Nhà kho hàng hóa, vật tư cháy được hoặc có bao bì cháy được có khối tích từ 1.000 m3 trở lên.

20. Công trình an ninh, quốc phòng có nguy hiểm về cháy, nổ hoặc có yêu cầu bảo vệ đặc biệt.

Về xử phạt vi phạm hành chính: Theo quy định tại khoản 5 Điều 36 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình:

"Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tổ chức thi công, xây dựng công trình thuộc diện phải thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy khi chưa có giấy chứng nhận thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy;

b) Chế tạo mới hoặc hoán cải phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy mà chưa được cơ quan có thẩm quyền thẩm duyệt".

 

Nhắn tin:

1. Chúng tôi đã nhận được đơn của Trần Thị Phằng, trú tại thôn Pắc Mạ, xã Yên Khoái, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Qua nội dung đơn của bà, chúng tôi đề nghị bà làm đơn tố cáo về hành vi hủy hoại tài sản gửi đến Công an huyện Lộc Bình để được xem xét, giải quyết.


 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 6 tháng 10 năm 2015


 

Câu 1. Ông Hoàng Công Chức trú tại thôn Hang Riềng, xã Song Giáp, huyện Cao Lộc hỏi : Việc vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội đối với hộ nghèo hiện nay như thế nào? Việc hỗ trợ gạo cho hộ nghèo lúc giáp hạt, các chế độ hỗ trợ đối với học sinh là con của hộ nghèo được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Về việc vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội:

Theo quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 Về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, việc vay vốn của hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện như sau:

 

Những trường họp không được vay vốn

 

- Những hộ không còn sức lao động, những hộ độc thân đang trong thời gian thi hành án hoặc những hộ nghèo được chính quyền địa phương xác nhận loại ra khỏi danh sách vay vốn vì mắc tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, lười biếng không chịu lao động.

 

- Những hộ nghèo thuộc diện chính sách xã hội như: già cả neo đơn, khuyết tật, thiếu ăn do ngân sách nhà nước trợ cấp.

 

Điều kiện để được vay vốn

 

- Hộ nghèo có hộ khẩu thường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài hạn tại địa phương nơi cho vay.

 

- Có tên trong danh sách hộ nghèo ở xã, phường, thị trấn sở tại theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố theo từng thời kỳ.

 

- Hộ vay không phải thế chấp tài sản và được miễn lệ phí làm thủ tục vay vốn nhưng phải là thành viên của Tổ tiết kiệm và vay vốn, được Tổ bình xét, lập thành danh sách đề nghị vay vốn có xác nhận của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã.

 

- Chủ hộ hoặc người thừa kế được ủy quyền giao dịch là người đại diện hộ gia đình chịu trách nhiệm trong mọi quan hệ với Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH), là người trực tiếp ký nhận nợ và chịu trách nhiệm trả nợ Ngân hàng.

 

Nguyên tắc vay vốn

 

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích xin vay.

 

- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn thỏa thuận.

 

Mục đích vay vốn

 

Cho vay để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:

 

- Mua sắm các loại vật tư, thiết bị; giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, gia cầm... phục vụ cho các ngành trồng trọt, chăn nuôi;

 

- Mua sắm các công cụ lao động nhỏ như: cày, bừa, cuốc, thuổng, bình phun thuốc trừ sâu...;

 

- Các chi phí thuê làm đất, bơm nước, dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật...;

 

- Đầu tư làm các nghề thủ công trong hộ gia đình như: mua nguyên vật liệu sản xuất, công cụ lao động thủ công, máy móc nhỏ...;

 

- Chi phí nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản như: đào đắp ao hồ, mua sắm các phương tiện ngư lưới cụ...;

 

- Góp vốn thực hiện dự án sản xuất kinh doanh do cộng đồng người lao động sáng lập và được chính quyền địa phương cho phép thực hiện.

 

Cho vay để làm mới, sửa chữa nhà ở:

 

- Cho vay làm mới nhà ở thực hiện theo từng chương tình, dự án của Chính phủ.

 

- Cho vay sửa chữa nhà ở bị hư hại, dột nát: mua nguyên vật liệu xây dựng, chi trả tiền công lao động phải thuê ngoài.

 

Cho vay điện sinh hoạt:

 

- Chi phí láp đặt đường dây dân điện từ mạng chung của thôn, xã tới hộ vay như: cột, dây dẫn, các thiết bị thắp sáng...;

 

- Cho vay góp vốn xây dựng thủy điện nhỏ, các dự án điện dùng sức gió, năng lượng mặt trời; máy phát điện cho một nhóm hộ gia đình ở nơi chưa có điện lưới quốc gia.

 

            Cho vay nước sạch:

 

- Góp vốn xây dựng dự án cung ứng nước sạch đến từng hộ;

 

- Những nơi chưa có dự án tổng thể phát triển nước sạch thì cho vay làm giếng khơi; giếng khoan; xây bể lọc nước, chứa nước...

 

Cho vay để trả các chi phí học tập như: học phí, mua sắm các thiết bị phục vụ học tập (sách, vở, bút mực.) của con em hộ nghèo đang theo học tại các trường phổ thông.

 

Quy trình, thủ tục vay vốn

 

Bước 1: Tự nguyện gia nhập tổ tiết kiệm và vay vốn, hộ vay viết Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và Khế ước nhận nợ (theo mẫu in sẵn do Ngân hàng CSXH cấp) gửi cho Tổ tiết kiệm và vay vốn. Khi giao dịch với Ngân hàng, người vay hoặc người thừa kế hợp pháp phải có Chứng minh nhân dân, nếu không có Chứng minh nhân dân thì phải có Giấy xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

 

Bước 2: Tổ tiết kiệm và vay vốn tổ chức họp để bình xét những hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn, lập danh sách kèm giấy đề nghị vay vốn trình UBND cáp xã để xác nhận và phê duyệt danh sách người vay.

 

Bước 3: Tổ tiết kiệm và vay vốn gửi hồ sơ vay vốn tới Ngân hàng.

 

Bước 4: Ngân hàng phê duyệt cho vay và thông báo tới UBND cấp xã.

 

Bước 5: UBND cấp xã thông báo cho tổ chức chính trị - xã hội cấp xã.

 

Bước 6: Tổ chức chính trị - xã hội cấp xã thông báo cho Tổ tiết kiệm và vay vốn.

 

Bước 7: Tổ tiết kiệm và vay vốn thông báo cho tổ viên/hộ gia đình vay vốn biết danh sách hộ được vay, thời gian và địa điểm giải ngân.

 

Bước 8: Ngân hàng chuyển trả tiền vay đến người vay tại trụ sở ngân hàng hoặc tại xã, phường, thị trấn.

 

Trên cơ sở những quy định nêu trên ông đối chiếu với trường hợp cụ thể của gia đình ông có đủ điều kiện để được vay vốn hay không. Mọi thắc mắc ông liên hệ với điểm giao địch của Ngân hàng CSXH đặt tại trụ sở UBND xã để được hướng dẫn, giải quyết.

 

Về việc hỗ trợ gạo cứu đói giáp hạt: Tùy theo tình hình thực tế hàng năm của từng địa phương, các cơ quan chức năng sẽ xem xét, cấp phát gạo hỗ trợ cứu đói giáp hạt cho các đối tượng thực sụ khó khăn. Như vậy việc quyết định hỗ trợ hay không còn tùy thuộc vào tình hình cụ thể và các đối tượng thuộc diện thực sự khó khăn được xét duyệt mới được cấp gạo hỗ trợ cứu đói giáp hạt.

 

Về chế độ hỗ trợ đối với học sinh là con của hộ nghèo:

Theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hiện nay (Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh THPT ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg ngày 18/6/2013 về chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...), các chế độ hỗ trợ gạo, tiền ăn đối với:

1. Học sinh tiểu học và trung học cơ sở đang học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú; học sinh bán trú đang học tại các trường tiểu học và trung học cơ sở công lập ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

2. Học sinh là người dân tộc thiểu số có bố, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp có hộ khẩu thường trú tại xã, thôn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không hưởng chế độ nội trú, có nhà ở xa trường hoặc địa hình cách trở không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày đang học tại các trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học công lập.

Trường hợp các con của ông đang sinh sống, học tập ở ngoài thành phố Lạng Sơn có hộ khẩu tại xã Song Giáp, huyện Văn Quan (tuy nhiên xã Song Giáp, huyện Văn Quan hiện nay không phải xã thuộc khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn – theo Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ) nên không thuộc đối tượng được hưởng các chế độ trợ cấp nêu trên.

Các thắc mắc của ông về việc không được Ngân hàng chính sách xã hội huyện Cao Lộc cho vay vốn sản xuất; Con đi học không được hưởng chế độ nội trú và không được hỗ trợ gạo cứu đói giáp lúc giáp hạt, đã được Ban Tiếp công dân Văn phòng UBND tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận và chuyển đơn đến UBND huyện Cao lộc xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 9 năm 2015

 

Câu1. Ông Nguyễn Văn Long trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện khấu trừ thuế VAT đầu vào theo quy định mới hiện nay như thế nào:

 

Trả lời:

Ngày 27/02/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 26/2015/TT-BTC quy định cụ thể những điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng (VAT) đầu vào.

VAT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu VAT được khấu trừ toàn bộ nếu thỏa mãn các điều kiện về khấu trừ theo quy định của pháp luật như sau:

Về hóa đơn VAT

Doanh nghiệp phải có hóa đơn VAT hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào.

 

Trong trường hợp không có hóa đơn, lưu ý doanh nghiệp phải có chứng từ nộp VAT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp VAT thay cho phía nước ngoài theo quy định áp dụng đối với trường hợp tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. 

Về chứng từ thanh toán

Doanh nghiệp phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, kể cả hàng hóa nhập khẩu từ 20 triệu đồng trở lên.

Doanh nghiệp cần lưu ý đối với các trường hợp như sau thì không phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt:

- Hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng;

- Hàng hóa dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 20 triệu đồng theo giá đã có VAT;

- Cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài. Đây cũng là một điểm mới của Thông tư 26/2015/TT-BTC so với văn bản hướng dẫn trước đó.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác. Trong đó chứng từ thanh toán qua ngân hàng là chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán. Các tài khoản này phải là tài khoản đã được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế.

 

Thông tư này cũng đưa ra hướng dẫn rằng bên mua không cần thông báo hoặc đăng ký với cơ quan thuế nếu tài khoản đó là tài khoản tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho bên bán. 

Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp căn cứ vào hợp đồng bằng văn bản, hoá đơn VAT và chứng từ thanh toán qua ngân hàng để kê khai, khấu trừ VAT đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì vẫn được kê khai, khấu trừ thuế VAT đầu vào.

Các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế VAT đầu vào gồm:

- Thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào và giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa 2 bên. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ giữa 3 bên.

- Bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản giữa các bên đối với khoản vay bằng tiền.

- Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được uỷ quyền thanh toán cho bên thứ ba qua ngân hàng thì việc ủy quyền thanh toán này phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản. Trong đó, bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thì cũng được khấu trừ VAT đầu vào.

- Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới 20 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng 1 ngày có tổng giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

Nếu doanh nghiệp có các cửa hàng là các đơn vị phụ thuộc sử dụng chung mã số thuế và mẫu hóa đơn thì trên hóa đơn phải có tiêu thức “Cửa hàng số” và đóng dấu treo của từng cửa hàng.

Một số trường hợp không được khấu trừ VAT đầu vào:

- Chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định sẽ không đủ điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế VAT đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên.

- Hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên đã có VAT nhưng không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

- Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, trường hợp khi thanh toán, nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế VAT đã được khấu trừ đối với phần giá trị không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt.

 

Câu 2. Anh Lê Hồng Nam trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Viên chức xin thôi việc có được hưởng trợ cấp thôi việc không?

Theo quy định điểm a, khoản 1 và điểm a, điểm b khoản 3 Điều 38 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, thì viên chức được giải quyết thôi việc khi có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản.

Thủ tục giải quyết thôi việc được thực hiện như sau:

Viên chức có nguyện vọng thôi việc có văn bản gửi người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.

- Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu đồng ý cho viên chức thôi việc thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ra quyết định chấm dứt hợp đồng làm việc; nếu không đồng ý cho viên chức thôi việc thì trả lời viên chức bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Điều 39 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP quy định về trợ cấp thôi việc cụ thể như sau:

1. Trợ cấp thôi việc đối với thời gian công tác của viên chức từ ngày 31 tháng 12 năm 2008 trở về trước được tính như sau:

a) Cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 (một phần hai) tháng lương hiện hưởng, gồm: Mức lương theo chức danh nghề nghiệp, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có);

b) Mức trợ cấp thấp nhất bằng 01 (một) tháng lương hiện hưởng;

c) Trường hợp viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2003, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008.

d) Trường hợp viên chức được tuyển dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 trở về sau, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc theo hợp đồng làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008.

2. Trợ cấp thôi việc đối với thời gian công tác của viên chức từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 đến nay được thực hiện theo quy định của pháp luật về trợ cấp thất nghiệp.

3. Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc được lấy từ nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

4. Viên chức thôi việc được hưởng trợ cấp thôi việc quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này và được xác nhận thời gian có đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

 

 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 9 năm 2015


Câu1. Chị Nông Thị Nguyệt trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Người sử dụng lao động điều động một lao động nữ hiện đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi đi công tác xa có vi phạm quy định lao động không? Và nếu vi phạm thì sẽ bị xử lý thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Lao động quy định:

 

1. Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:

 

a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

 

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

 

Mức phạt đối với vi phạm quy định về lao động nữ được quy định tại Điều 18 Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

 

Điều 18. Vi phạm quy định về lao động nữ

 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

 

a) Không tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của lao động nữ;

 

b) Không cho lao động nữ nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh.

 

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

 

a) Sử dụng lao động nữ làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa thuộc một trong các trường hợp: Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

 

b) Không thực hiện việc chuyển công việc hoặc giảm giờ làm đối với lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 đang làm công việc nặng nhọc theo quy định tại Khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Lao động;

 

c) Không cho lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi nghỉ 60 phút mỗi ngày;

 

d) Không bảo đảm việc làm cũ khi lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 157 của Bộ luật Lao động;

 

đ) Xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

 

e) Sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

 

g) Sử dụng lao động nữ làm công việc không được sử dụng lao động nữ theo quy định tại Điều 160 của Bộ luật Lao động.

 

Như vậy, nếu người sử dụng lao động điều động lao động nữ hiện đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi đi công tác xa thì sẽ vi phạm quy định pháp luật về lao động, và sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

 

Câu 2: Bà Lý Thị Huệ trú tại xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng hỏi: Các đối tượng nào được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế, hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế? Mức kinh phí hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế?

 

Trả lời:

 

Các đối tượng được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế bao gồm:

 

a) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;

 

b) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;

 

c) Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;

 

d) Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;

 

đ) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm;

 

e) Trẻ em dưới 6 tuổi;

 

g) Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;

 

h) Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;

 

i) Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;

 

k) Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này;

 

l) Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;

 

m) Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;

 

n) Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam.

 

Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng (quy định tại khoản 4 điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế), bao gồm:

 

a) Người thuộc hộ gia đình cận nghèo;

 

b) Học sinh, sinh viên.

 

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014 trong nhóm này còn thêm một số đối tượng bao gồm: Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình tham gia bảo hiểm y tế.

 

Mức kinh phí từ ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho một số đối tượng (Điều 3 Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ):

 

1. Mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo theo quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế được quy định như sau:

 

a) Hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo mới thoát nghèo, thời gian hỗ trợ 05 năm sau khi thoát nghèo. Trường hợp người thuộc hộ cận nghèo đã thoát nghèo trước ngày 01 tháng 01 năm 2015 nhưng thời gian thoát nghèo tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 chưa đủ 05 năm thì thời gian còn lại được hỗ trợ thấp nhất là 01 năm;

 

b) Hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo đang sinh sống tại các huyện nghèo theo quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo và các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ;

 

c) Hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo còn lại.

 

2. Hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng bảo hiểm y tế đối với đối tượng học sinh, sinh viên theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế.

 

3. Hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình theo Quyết định số 32/2014/QĐ-TTg ngày 27 tháng 5 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ, quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định 105/2014/NĐ-CP.

 

4. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ khả năng ngân sách địa phương và các nguồn hợp pháp khác, kể cả 20% số kinh phí dành cho khám bệnh, chữa bệnh chưa sử dụng hết trong năm theo quy định tại Khoản 3 Điều 35 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế (nếu có) xây dựng và trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cao hơn cho đối tượng quy định tại Điểm c Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 105/2014/NĐ-CP.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 9 năm 2015

 

Câu 1. Ông Lộc Minh Thu trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định hỏi: Tôi muốn lập di chúc cho con gái thừa kế mảnh đất tôi đang ở. Tuy nhiên, mảnh đất này chưa có sổ đỏ. Vậy di chúc của tôi có được pháp luật thừa nhận không?

 

Trả lời:

 

Theo quyền thừa kế được quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

 

Nếu tài sản để thừa kế là quyền sử dụng đất thì người lập di chúc bên cạnh việc phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai.

 

Cụ thể, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014) cho phép người sử dụng đất được để lại thừa kế quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời thửa đất đó cũng phải đáp ứng các điều kiện sau:

 

- Đất không có tranh chấp;

 

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án;

 

- Trong thời hạn sử dụng đất.

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, người đang sử dụng đất đất ổn định, không có tranh chấp và có một trong các giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận):

 

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

 

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

 

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

 

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 được UBND cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993;

 

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

 

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

 

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định của Chính phủ.

 

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì người sử dụng đất có các giấy tờ sau đây mà không có tranh chấp thì cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

 

Các giấy tờ khác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm:

 

1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18/12/1980.

 

2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

 

a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

 

b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do UBND cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

 

c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này.

 

3. Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

 

4. Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

 

5. Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

 

6. Giấy tờ tạm giao đất của UBND cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được UBND cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 1/7/1980 hoặc được UBND cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

 

7. Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng.

 

8. Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này có xác nhận của UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.

 

Như vậy, với những quy nêu trên, nếu ông có một trong các giấy tờ đã được viện dẫn và đất đó không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, trong thời hạn sử dụng đất thì ông có quyền lập di chúc để định đoạt thửa đất đó cho người thừa kế.

 

Câu 2. Bà Lê Thị Na trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Mức xử phạt đối với người điều khiển ô tô khi lái xe vào làn đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ ?

 

Trả lời:

 

Luật Giao thông đường bộ quy định người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

 

Theo đó, khi người điều khiển ô tô đi vào làn đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ, tức là đã đi không đúng làn đường quy định và sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định 171/2013/NĐ-CP (Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 01/01/2014; đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 107/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014).

 

Cụ thể tại Điểm c, Khoản 4, Điều 5 quy định phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”. Ngoài ra, với vi phạm này, theo Điểm b, Khoản 11, Điều 5, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.

 

Như vậy, người điều khiển ô tô khi đi sai làn đường quy định sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 9 năm 2015

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Thái trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Hiện nay pháp luật quy định việc hoãn chấp hành hình phạt tù và giảm thời gian chấp hành hình phạt tù như thế nào?

Trả lời:

1. Về hoãn chấp hành hình phạt tù

Theo quy định tại khoản 1 Điều 61 của Bộ luật Hình sự: Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

- Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;

- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

- Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến một năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;

- Bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến một năm.

Thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật thi hành án hình sự, cụ thể như sau:

- Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người phải chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người phải chấp hành án làm việc ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có liên quan.

- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định.

 

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án đã ra quyết định hoãn phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau: Người chấp hành án; Viện kiểm sát cùng cấp; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hoãn thi hành án đang cư trú; Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

2. Về giảm mức hình phạt tù đã tuyên

Theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự thì người bị kết án phạt tù, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù, Toà án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, mười hai năm đối với tù chung thân. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên. Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống ba mươi năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là hai mươi năm.

Trong trường hợp đặc biệt, Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Toà án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 58 của Bộ luật này.

Thủ tục giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, Điều 33 Luật thi hành án hình sự quy định như sau:

- Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là Trại giam; trại tạm giam thuộc Bộ Công an; trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

- Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án xem xét, quyết định. Hồ sơ đề nghị gồm có: (1) Bản sao bản án; trường hợp xét giảm án từ lần hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án; (2) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; (3) Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù hàng tháng, quý, 06 tháng, năm; quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập công; (4) Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh tật đối với trường hợp phạm nhân mắc bệnh hiểm nghèo; (5) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với trường hợp đã được giảm.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải mở phiên họp xét giảm và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát phải cử Kiểm sát viên tham gia phiên họp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người được giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trụ sở.

Câu 2: Anh Hoàng Đức Cường trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi có cho một người bạn vay 300 triệu để sử dụng vào mục đích kinh doanh như đã thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền, nhưng sau đó người này dùng số tiền vay đó sử dụng vào mục đích bất hợp pháp khác,  hiện nay đã đến hạn nhưng không có khả năng trả nợ. Vậy tôi có quyền kiện người đó không?

 Trả lời:

Khi giao kết hợp đồng vay tiền, người vay có nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự. Bên có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nếu bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên với tư cách là bên có quyền (theo Điều 302 Bộ luật Dân sự). Khi người vay cố tình không trả lại số tiền đã vay, nếu không thể tự thương lượng, thỏa thuận được thì ông có quyền gửi đơn đến tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, hành vi của người vay tiền của ông có dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự, cụ thể như sau: Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Hành vi của người vay tiền có dấu hiệu tại điểm b nêu trên, người đó đã sử dụng tiền vay vào mục đích không đúng với thỏa thuận của các bên và bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả nợ. Hành vi chiếm đoạt tài sản của người vay tiền còn có thêm tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật Hình sự (Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng). Do vậy, ông có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố hành vi của người vay tiền khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.

 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 9 năm 2015

 


Câu 1. Ông Hoàng Văn Nam trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi : Theo quy định hiện nay thì trường hợp nào được xét cấp lại giấy phép lái xe ô tô bị mất mà không phải dự thi sát hạch?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 52 Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT ngày 7/11/2012 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại thông tư số 38/2013/TT-BGTVT ngày 24/10/2013) của Bộ Giao thông vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ thì người bị mất giấy phép lái xe được cấp lại trong các trường hợp sau:

- Người có giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất, còn thời hạn sử dụng hoặc quá thời hạn sử dụng dưới 03 tháng, còn hồ sơ gốc, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Cơ sở dữ liệu quản lý giấy phép lái xe thống nhất toàn quốc, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định, được xét cấp lại giấy phép lái xe.

- Người có giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất, còn thời hạn sử dụng hoặc quá thời hạn sử dụng dưới 03 tháng, không còn hồ sơ gốc, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Cơ sở dữ liệu quản lý giấy phép lái xe thống nhất toàn quốc, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định, được xét cấp lại giấy phép lái xe.

- Người có giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất, quá thời hạn sử dụng từ 03 tháng đến dưới 01 năm, còn hồ sơ gốc, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Cơ sở dữ liệu quản lý giấy phép lái xe thống nhất toàn quốc, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định, phải dự sát hạch lại lý thuyết để cấp lại giấy phép lái xe;

- Người có giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất, quá thời hạn sử dụng từ 03 tháng đến dưới 01 năm, không còn hồ sơ gốc, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Cơ sở dữ liệu quản lý giấy phép lái xe thống nhất toàn quốc, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, phải dự sát hạch lại lý thuyết để cấp lại giấy phép lái xe;

- Người có giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất, quá thời hạn sử dụng từ 01 năm trở lên, còn hồ sơ gốc hoặc không còn hồ sơ gốc, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Cơ sở dữ liệu quản lý giấy phép lái xe thống nhất toàn quốc, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định, phải sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để cấp lại giấy phép lái xe.

- Người có giấy phép lái xe bị mất lần thứ hai trong thời hạn 02 năm kể từ ngày cấp lại cho giấy phép lái xe bị mất lần thứ nhất, nếu có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Cơ sở dữ liệu quản lý giấy phép lái xe thống nhất toàn quốc, không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, phải sát hạch lại lý thuyết để cấp lại giấy phép lái xe;

- Người có giấy phép lái xe bị mất từ lần thứ ba trở lên trong thời hạn 02 năm kể từ ngày cấp lại cho giấy phép lái xe bị mất lần thứ hai, nếu có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, khi tra cứu vi phạm của người lái xe trong Cơ sở dữ liệu quản lý giấy phép lái xe thống nhất toàn quốc, không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định, phải sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để cấp lại giấy phép lái xe.

 

Câu 2. Ông Lê Văn Thắng trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi : Trình tự khám xét chỗ ở của công dân được quy định như thế nào?

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở là một trong các quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định. Theo quy định tại Điều 22 của Hiến pháp thì mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý; việc khám xét chỗ ở do luật định.

Theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã.

Việc khám chỗ ở phải tuân thủ quy định tại Điều 141, Điều 142 và Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền ra lệnh khám xét và thủ tục khám xét, cụ thể như sau:

1. Về thẩm quyền ra lệnh khám xét

Các chủ thể sau đây có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp:

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Ngoài ra, trong trường hợp không thể trì hoãn, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Về thủ tục khám xét chỗ ở

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm được tiến hành theo quy định tại các điều 140, 141 và 142 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, khi bắt đầu khám, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ. Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám.

- Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến.

- Không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

- Khi khám chỗ làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

 

Việc khám chỗ làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến.

- Khi tiến hành khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xong.

 
 
 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 25 tháng 8 năm 2015

 

 


1. Bà Phùng Thị Chi, trú tại thôn Nà Pàn, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Gia đình tôi có mảnh đất đồi 200m tại Pác Khuổi, Cầu Ngầm, phường Tam Thanh, hiện nay có người chiếm đất của gia đình tôi để bán cho người khác. Xin hỏi theo quy định hiện hành thì UBND phường có thẩm quyền thu hồi đất đồi rừng hay không? Tranh chấp đất đồi rừng thì cơ quan nào giải quyết. Khi tranh chấp người có hành cố tình xây dựng trên đất đang tranh chấp, có hành vi lăng mạ, côn đồ, gây thương tích cho người khác thị bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời

 

Về thẩm quyền thu hồi đất theo quy định tại Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

 

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

 

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

 

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

 

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

 

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

 

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Như vậy việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện, UBND xã, phường, thị trấn không có quyền thu hồi đất.

 

Về giải quyết tranh chấp đất đai tại Điều 202, 203 Luật Đất đai quy định:

 

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

 

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

 

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

 

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức là: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

 

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

 

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

 

Như vậy đất của gia đình bà có tranh chấp mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc về UBND thành phố Lạng Sơn.

 

Trong quá trình tranh chấp xảy ra xô sát, tùy từng tính chất, mức độ mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu TNHS. Nếu gây thương tích cho người khác thì sẽ bị xử lý về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

 

Về việc đang tranh chấp mà một bên cố tình xây dựng công trình mồ mả trên đất tranh chấp theo đơn bà trình bày thì bà có thể làm đơn gửi UBND cấp xã nơi có đất để kịp thời ngăn chặn, tại khoản 2 Điều 208 Luật Đất đai quy định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn, chiếm, đất sử dụng không đúng mục đích ở địa phương và buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm.

 

2. Bà Tô Thị Thanh Hà, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định hiện hành thì Trường Mầm non tư thục phải được tổ chức và hoạt động như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 13/2015/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 06 năm 2015 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục thì nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục là cơ sở giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động là nguồn ngoài ngân sách nhà nước. Nhà trường, nhà trẻ tư thục có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản riêng.

 

Về Nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục

 

Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều lệ trường mầm non và các quy định tại Quy chế này.

 

Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội.

 

Có trách nhiệm báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định và yêu cầu của các cơ quan có liên quan.

 

Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

 

Về Chính sách ưu đãi đối với nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục

 

Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao, được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và chính sách khác theo quy định của pháp luật.

 

Cơ cấu tổ chức nhà trường, nhà trẻ tư thục

 

Nhà trường, nhà trẻ tư thục có cơ cấu tổ chức đảm bảo các yêu cầu về cơ cấu tổ chức quy định tại Điều lệ trường mầm non và phù hợp với điều kiện, quy mô của trường, bao gồm: Hội đồng quản trị (nếu có); Ban kiểm soát; Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng; Tổ chuyên môn; Tổ văn phòng; Tổ chức đoàn thể; Các nhóm, lớp.

 

Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên, nhân viên

 

Về tiêu chuẩn, giáo viên trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục phải có đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và sức khỏe theo quy định của Luật Giáo dục, Điều lệ trường mầm non.

 

Về nhiệm vụ và quyền hạn của giáo viên, nhân viên: Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo hợp đồng lao động đã ký với Chủ tịch Hội đồng quản trị, chủ đầu tư hoặc chủ nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục; có nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Luật Giáo dục, Điều lệ trường mầm non; Được hưởng chế độ tiền công, tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; có quyền tham gia các tổ chức xã hội, đoàn thể và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật; Được khen thưởng khi có thành tích theo quy định của các cấp quản lý giáo dục, nếu có đủ các tiêu chuẩn thì được xét phong tặng các danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân và kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục.

 

Cơ sở vật chất

 

Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập thuộc loại hình tư thục có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo quy định của Điều lệ trường mầm non và các quy định về thiết bị, đồ dùng, đồ chơi do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Khuyến khích cơ sở giáo dục mầm non tư thục đầu tư trang thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 18 tháng 8 năm 2015

 

1. Bà Nguyễn Thị Lan, trú tại xã Tân Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi ký hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng và đã làm việc được 18 tháng. Nay vì lý do cá nhân, tôi không thể tiếp tục làm làm việc được, tôi làm đơn xin nghỉ việc trước thời hạn thì tôi có được nhận bảo hiểm thất nghiệp hay không?

 

Trả lời

 

Theo quy định tại Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định Người lao động sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi đáp ứng được các điều kiện sau:

 

1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp;

 

2. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

 

3. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này.

 

Ở đây bạn cũng cần lưu ý rằng, nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; hoặc là đối tượng đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp (Điều 43 Luật Việc làm).

 

Ngoài ra, nếu công ty đóng bảo hiểm thất nghiệp cho bạn đủ 12 tháng trở lên và đã đăng ký với tổ chức bảo hiểm xã hội, đồng thời bạn đang thất nghiệp thì bạn thuộc diện được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

 

Trường hợp bạn tham gia bảo hiểm thất nghiệp đủ 16 tháng làm việc thì sẽ được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Mức hưởng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

 

Như vậy, căn cứ vào quy định đã nêu ở trên, thì dù bạn nghỉ việc trước thời hạn ghi trong hợp đồng nhưng bạn đáp ứng đủ các điều kiện trên thì bạn sẽ vẫn được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

 

2. Ông Nguyễn Văn Thảo, trú tại Thôn Quảng Trung, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người tham gia BHYT, nhiễm HIV có được quỹ BHYT chi trả hay không?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 15/2015/TT-BYT ngày 26/6/2015 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với người nhiễm HIV và người sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS.

 

 Théo đó 04 nhóm đối tượng chịu sự điều chỉnh của Thông tư là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT); cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT điều trị bằng thuốc kháng HIV (thuốc ARV) cho người nhiễm HIV; cơ sở điều trị bằng thuốc ARV theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế; người tham gia BHYT nhiễm HIV, người tham gia BHYT sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS. Thông tư này không điều chỉnh đối với người tham gia BHYT nhiễm HIV đang được quản lý tại trạm giam, trại tạm giam, cơ sở tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở bảo trợ xã hội.

 

Người tham gia BHYT nhiễm HIV và người tham gia BHYT khi sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS được quỹ BHYT chi trả: Thuốc, hóa chất, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật thuộc phạm vi chi trả của quỹ BHYT; xét nghiệm HIV đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai và khi sinh con theo yêu cầu chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh nếu không được các nguồn kinh phí khác chi trả; kỹ thuật đình chỉ thai nghén ở phụ nữ mang thai nhiễm HIV; khám bệnh, xét nghiệm HIV, thuốc ARV và các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh HIV/AIDS khác đối với trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV; xét nghiệm HIV theo yêu cầu chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh trừ chi phí xét nghiệm HIV đối với người hiến bộ phận cơ thể người, người cho tinh trùng, noãn; xét nghiệm HIV, điều trị bằng thuốc kháng HIV đối với người phơi nhiễm HIV, người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro (trừ trường hợp tai nạn nghề nghiệp); điều trị dự phòng cơ hội.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 11 tháng 8 năm 2015

 

1. Ông Hoàng Thắng Tăng, trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Ngày 12/3/2015, tôi và bạn tôi làm hợp đồng mua bán xe máy viết tay, có chữa ký của 2 bên, giá bán xe 30 triệu nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đến giữa tháng 5 thì bạn tôi đòi lại xe máy để cho vợ bạn tôi đi và đồng ý trả lại tôi 30 triệu tiền bán xe. Bạn tôi nói: xe chưa đăng kí sang tên thì vẫn là của bạn tôi, bạn tôi có quyền đòi lại và trả lại tiền mua bán xe. Hỏi: bạn tôi làm vậy có đúng không?

Trả lời

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Sau khi giao kết hợp đồng mua bán xe, bạn của bạn có nghĩa vụ giao xe máy cho bạn và bạn có nghĩa vụ trả tiền đồng thời phải tiến hành thủ tục đăng ký sang tên theo quy định của pháp luật. Cả hai bên đều phải “thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau” (theo Khoản 2 Điều 412 Bộ luật dân sự). Việc người bán đòi lại xe của bạn sau khi đã nhận tiền bán xe là không phù hợp với nguyên tắc thực hiện hợp đồng này.

Tuy nhiên, theo những thông tin bạn cung cấp, hợp đồng mua bán xe ký tay giữa hai bạn có thể vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng giao dịch. Cụ thể như sau:

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Khi giao kết hợp đồng, các bên phải tuân thủ quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự quy định giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Khoản 2 này cũng quy định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

Đối chiếu với quy định nêu trên, khi mua xe, bạn phải tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan về nội dung và hình thức hợp đồng mua bán xe. Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04 tháng 4 năm 2014của Bộ công an quy định về đăng ký xe: Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thựcBạn mua xe có lập hợp đồng mua bán xe và có chữ ký của hai bên nhưng không được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nên đã vi phạm pháp luật về hình thức hợp đồng.

Do vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên giao dịch mua bán xe của bạn có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu (theo Điều 127 Bộ luật dân sự). Điều 134 Bộ luật dân sự quy định về trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.

Như vậy, trong trường hợp bên bán khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán xe vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức của giao dịch thì tòa án sẽ ra quyết định buộc hai bên phải thực hiện đúng quy định này, nghĩa là hai bên sẽ phải tiến hành thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán xe theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực. Nếu bạn và bên bán xe không thể thỏa thuận được về việc công chứng, chứng thực hợp đồng thì hợp đồng mua bán xe sẽ vô hiệu.

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự như sau:

- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Trong trường hợp này, bên bán xe cho bạn có quyền đòi lại chiếc xe đã bán và phải trả lại cho bạn số tiền bán xe.

 

2. Bà Hoàng Hải Yến, trú tại xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc hỏi: Khi đào được hũ kim loại quý bị chôn dưới đất tôi có được sở hữu không?

Trả lời:

Khi phát hiện tài sản bị bị chôn giấu, người phát hiện phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật (Ðiều 187 Bộ luật dân sự). Theo đó, khi đào được kim loại quý mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì bạn phải có trách nhiệm thông báo cho UBND cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền; trong thời gian thông báo, bạn có thể tạm thời chiếm giữ hũ kim loại quý đó.

Việc xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy được quy định tại Ðiều 240 Bộ luật dân sự: Vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với vật đó được xác định như sau:

- Vật được tìm thấy là di tích lịch sử, văn hóa thì thuộc Nhà nước; người tìm thấy vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;

- Vật được tìm thấy không phải là di tích lịch sử, văn hóa, mà có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu vật tìm thấy có giá trị lớn hơn 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc Nhà nước.

 

3. Nhắn tin:

Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của bà Mông Thị Mậu, trú tại thôn Mạy Sao, xã Gia Miễn, huyện Văn Lãng. Trong đơn bà yêu cầu giải quyết tranh chấp đất ruộng của gia đình bà đã được nhà nước giao cho người khác sử dụng. Đề nghị bà làm đơn gửi UBND xã nơi có đất tranh chấp để tiến hành hòa giải, nếu việc hòa giải không thành, bà có thể khởi kiện đến TAND huyện để được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật./.

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 4 tháng 8 năm 2015

 

 

1. Ông Hà Văn Quang, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi được thuê xây dựng cho một công trình. Nay công trình đã hoàn thành nhưng chủ thầu không trả tiền công đúng hẹn. Khi gọi điện cho chủ thầu thì chủ thầu tắt máy. Số tiền của 4 người khoảng 20 triệu đồng. Vậy tôi có thể nhờ pháp luật can thiệp giúp chúng tôi không?

Trả lời

Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”. Do vậy, khi có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, bạn và ba người chú của mình có quyền khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, yêu cầu chủ thầu trả lại tiền công mà mình được hưởng.

Khi khởi kiện, bạn phải làm đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính theo quy định tại Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự:

- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

- Tên, địa chỉ của người bị kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Bạn có thể gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

- Nộp trực tiếp tại Toà án;

- Gửi đến Toà án qua bưu điện.

 

2. Bố mẹ tôi sinh được 4 người con và đã chia đất cho 4 người bằng nhau. Nhưng khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chia ra cho từng người thì bố mẹ tôi chỉ làm cho 3 người. Riêng mảnh đất tôi đang ở, bố mẹ tôi chỉ cho ở chứ chưa làm giấy chứng nhận và tách sổ cho tôi. Vậy sau này nếu bố mẹ tôi chết mà vẫn không làm giấy tách quyền sở hữu cho tôi thì mảnh đất tôi đang ở có bị chia đều cho các anh em không?

 

Trả lời:

Ðiều 168 Bộ luật dân sự quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như sau:

- Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Theo quy định trên, bạn được bố mẹ cho một phần thửa đất nhưng chưa tiến hành thủ tục tách thửa và sang tên quyền sử dụng theo quy định của pháp luật thì bạn chưa phải là chủ sử dụng thửa đất. Hiện tại, bố mẹ bạn vẫn là chủ sử dụng của thửa đất đó.

Đến thời điểm bố mẹ bạn mất, nếu thửa đất chưa được sang tên cho bạn thì thửa đất được coi là di sản do bố mẹ bạn để lại và được chia thừa kế. Nếu bố mẹ bạn lập di chúc thì thửa đất được chia cho những người thừa kế theo di chúc. Nếu không để lại di chúc thì di sản được chia cho những người thừa kế theo pháp luật, theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản./.

 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 28 tháng 7 năm 2015

 

1. Bà Hà Thị Bông, trú tại huyện thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Trước đây, khi đăng ký khai sinh cho con vợ chồng tôi thỏa thuận lấy dân tộc của con mang dân tộc của chồng tôi là dân tộc Kinh. Nay con tôi đã 15 tuổi, để thuận tiện cho cháu trong việc học tập, vợ chồng tôi muốn đổi dân tộc cho cháu sang dân tộc Nùng của tôi có được không, thủ tục như thế nào?

 

Trả lời

 

Về quyền xác định lại dân tộc: Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 28 Bộ luật Dân sự thì người đã thành niên, cha đẻ và mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ, nếu cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau. Theo quy định thì điều kiện để có thể xem xét giải quyết việc xác định lại dân tộc cho một người là: 

 

- Người đó có cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; 

 

- Người đó đã từng được xác định dân tộc lần đầu theo dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ; 

 

- Nếu là người đã thành niên, thì người đó có quyền trực tiếp yêu cầu xác định lại dân tộc. Nếu là người chưa thành niên thì việc xác định lại dân tộc được thực hiện theo yêu cầu thống nhất của cha đẻ và mẹ đẻ hoặc của người giám hộ. Tuy nhiên, nếu đó là người chưa thành niên nhưng đã đủ 15 tuổi trở lên thì việc xác định lại dân tộc còn phải được sự đồng ý của chính người đó. 

 

Như vậy, việc xác định lại dân tộc cho con bạn là xuất phát từ quyền lợi của con bạn, và phù hợp với quy định của pháp luật.

 

Về thẩm quyền giải quyết : Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 và khoản 2 Điều 37 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thì thẩm quyền giải quyết việc xác định lại dân tộc là thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện (nộp tại Phòng Tư pháp) nơi mà trong địa hạt huyện đó người thay đổi dân tộc đã được đăng ký khai sinh.

 

Về thủ tục giải quyết: Theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, thì hồ sơ, giấy tờ bao bao gồm: 

 

- Tờ khai xác định lại dân tộc theo mẫu quy định; 

 

- Văn bản thể hiện sự đồng ý của bản thân về việc xác định lại dân tộc cho mình hoặc của cha đẻ, mẹ đẻ, người giám hộ.

 

- Bản chính Giấy khai sinh của người được thay đổi

 

- Sổ hộ khẩu gia đình; 

 

- Các giấy tờ chứng minh về dân tộc của cha và mẹ (Giấy khai sinh hoặc Chứng minh nhân dân của cha và mẹ).

 

2. Ông Hà Văn Quang, trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có bạn sinh năm 1989. Sau khi đi nghĩa vụ quân sự về, vì bị bạn bè xấu rủ rê nên sử dụng ma túy, kết quả xét nghiệm có dương tính với ma túy. Vậy xin hỏi khi nào thì bạn tôi bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc? Nếu bạn tôi chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì có đúng không, bạn tôi phải làm gì?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 95 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính thì:

 

- Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

 


-        

Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng.

 

Theo các thông tin mà bạn cung cấp thì nếu bạn của bạn đã được xác định là nghiện ma túy, nhưng chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Điều 90 để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng) mà Công an đã bắt áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là không đúng với quy định của pháp luật.

 

Theo quy định tại Điều 7 Luật khiếu nại thì khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính./.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 21 tháng 7 năm 2015

 

1. Bà Nguyễn Mai Hoa, trú tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng hỏi: Thủ tục cấp giấy phép quá cảnh hàng hóa từ Trung Quốc qua Việt Nam được quy định như thế nào?

 

Trả lời

 

Căn cứ Thông tư số 11/2015/TT-BCT ngày 04 tháng 06 năm 2015 Của Bộ Công thương quy định về quá cảnh hàng hóa của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa qua lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép quá cảnh đối với hàng hóa quy định tại Thông tư này gồm: 01 bản chính Đơn đề nghị cấp giấy phép quá cảnh hàng hóa (theo mẫu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này) và 01 bản sao Hợp đồng vận chuyển hàng quá cảnh (có ký xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của chủ hàng).

 

Việc vận chuyển hàng hóa quá cảnh của chủ hàng do người chuyên chở là thương nhân Việt Nam thực hiện theo quy định pháp luật. Trường hợp hàng hóa quá cảnh là phương tiện vận chuyển tự hành thì phương tiện vận chuyển đó phải có biển số đăng ký tạm thời do Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có cửa khẩu nhập khẩu hàng hóa cấp và có giấy chứng nhận về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường do ngành Giao thông vận tải cấp trước khi được tự hành quá cảnh lãnh thổ Việt Nam. Riêng ô tô các loại chở người từ 09 (chín) chỗ ngồi trở xuống không được phép tự hành quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.

 

Giám sát hàng hóa quá cảnh lãnh thổ Việt Nam: Hàng hóa quá cảnh chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan trong toàn bộ thời gian lưu chuyển trên lãnh thổ Việt Nam; vào và ra khỏi Việt Nam theo đúng cửa khẩu, tuyến đường quy định; lượng hàng xuất ra phải đúng bằng lượng hàng nhập vào, nguyên đai, nguyên kiện; Thủ tục lưu kho, lưu bãi, chia tách lô hàng quá cảnh; thủ tục sang mạn, thay đổi phương tiện vận chuyển hàng hóa quá cảnh được thực hiện theo quy định pháp luật về hải quan; Trong quá trình vận chuyển, lưu kho trên lãnh thổ Việt Nam, nếu hàng hóa quá cảnh có sự cố, tổn thất (như đổ vỡ, hư hỏng, mất mát,...) thì chủ hàng hoặc người chuyên chở phải kịp thời thông báo cho cơ quan Hải quan nơi xảy ra sự cố để lập biên bản xác nhận tình trạng hàng hóa và xử lý theo quy định pháp luật. Trường hợp không thể thông báo ngay với cơ quan Hải quan thì tùy theo địa bàn thích hợp, chủ hàng hoặc người chuyên chở thông báo với cơ quan công an hoặc bộ đội biên phòng hoặc cảnh sát biển để xác nhận.

 

Hàng hóa quá cảnh được phép lưu lại trên lãnh thổ Việt Nam trong thời gian tối đa là 30 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập khẩu, trừ trường hợp được gia hạn thời gian quá cảnh theo quy định tại Thông tư này.

 

Việc gia hạn thời gian quá cảnh hàng hóa do cơ quan cấp giấy phép quá cảnh xem xét, giải quyết. Mỗi lần gia hạn không quá 30 ngày và tối đa không quá 03 lần gia hạn.

 

Hồ sơ đề nghị gia hạn thời gian quá cảnh hàng hóa gồm: 01 bản chính Văn bản đề nghị gia hạn thời gian quá cảnh hàng hóa của chủ hàng; 01 bản sao Giấy phép quá cảnh hàng hóa đã được cấp (có ký xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của chủ hàng); 01 bản chính Văn bản xác nhận của cơ quan Hải quan về tình trạng lô hàng quá cảnh và 01 bản sao Tờ khai Hải quan của lô hàng quá cảnh (có ký xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của chủ hàng).

 

2. Ông Hà Văn Thành, trú tại thôn Quảng Trung, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Nhà nước đã có quy định về nghỉ hưu trước tuổi đối với cán bộ công chức có sức khỏe yếu, làm công việc nặng nhọc, độc hại. Tuy nhiên, đối với cán bộ công chức sức khỏe tốt, có nguyện vọng tiếp tục công tác có được không?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29/05/2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức theo quy định tại Khoản 3 Điều 187 của Bộ luật Lao động.

 

Theo đó, có 04 Nguyên tắc thực hiện việc nghỉ hưu ở tuổi cao hơn gồm:

 

1- Bảo đảm khách quan, công bằng, công khai và đúng quy định.

2- Cơ quan có thẩm quyền quyết định nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức theo quy định tại Khoản 3 Điều 187 Bộ luật Lao động, nhưng phải bảo đảm tuổi nghỉ hưu đối với các trường hợp này không vượt quá 65 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ.

 

3- Cán bộ, công chức tại Khoản 1, Điều 2 Nghị định này khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định nghỉ hưu ở tuổi cao hơn vẫn tiếp tục giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

 

4- Trong thời gian thực hiện chính sách nghỉ hưu ở tuổi cao hơn, nếu cán bộ, công chức có nguyện vọng nghỉ làm việc thì được giải quyết chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật.

 

Điều kiện để nghỉ hưu ở tuổi cao

 

Cán bộ, công chức thuộc đối tượng nghỉ hưu ở tuổi cao hơn quy định tại Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện sau:

 

1- Có sức khỏe để thực hiện chức trách, nhiệm vụ;

 

2- Không đang trong thời gian bị xem xét xử lý kỷ luật, bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành kỷ luật về đảng, chính quyền.

 

Thời gian công tác khi nghỉ hưu ở tuổi cao hơn

 

Nghị định này cũng quy định thời gian công tác khi nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức tối đa là 05 năm nhưng không vượt quá 60 tuổi đối với các trường hợp là cán bộ, công chức quy định tại Khoản 1, Điều 2 của Nghị định này và tối đa là 05 năm nhưng không quá 65 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ áp dụng đối với các trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 2 Nghị định này.

 

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2015. Các quy định về việc nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với những người được bổ nhiệm chức vụ, chức danh Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2015. Bãi bỏ các quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức đã ban hành trái với quy định tại Nghị định này.

 

3. Nhắn tin

 

- Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của ông Tô văn Lình, trú tại thôn tân Long, xã Vân An, huyện Chi Lăng. Ông Lình khiếu nại về việc không được hỗ trợ đất sản xuất, đơn của ông chúng tôi chuyển đến Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng xem xét, trả lời.

 

- Cũng trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của tập thể thôn Yên Thủy I, khu Cầu Mào, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc kiến nghị về việc hiện nay 54 hộ dân ở đây vẫn chưa có điện lưới quốc gia sử dụng. Đơn chúng tôi chuyển đến Điện lực Lạng Sơn xem xét, trả lời./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 14 tháng 7 năm 2015

 

1. Ông Hoàng Công Đạt, trú tại thôn yên Thủy, xã yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Một người bị kết án với hình phạt là tử hình có thể được ân giảm hoặc đặc xá đến mức thấp nhất là bao nhiêu năm tù?

 

Trả lời

1. Theo quy định tại Điều 10 của Luật Đặc xá thì việc đặc xá không áp dụng đối với người bị kết án tử hình mà chỉ áp dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, đang chấp hành hình phạt tù nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 của Luật Đặc xá.

2. Trường hợp được ân giảm:

Điều 258 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

“1. Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

2. Bản án tử hình được thi hành, nếu Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Toà án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, thì Toà án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm án tử hình.

Trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm”.

Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự, hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

 

 

2. Bà Hoàng Thị Cúc, trú tại khu Dây thép, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi có cho một người bạn vay số tiền là 500 triệu đồng. Khi vay, bạn tôi bảo là vay làm vốn kinh doanh. Nhưng thực tế người này dung số tiền đó đánh bạc, nay tôi đòi nhiều lần nhưng không trả. Vây tôi có thể tố cáo người này lừa đảo được không, người này có thể bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Hình sự thì người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm:

Thứ nhất, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

Thứ hai, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trường hợp lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân theo quy định tại khoản 4 Điều 140 của Bộ luật Hình sự.

Với trường hợp mà bạn nêu, bạn của bạn có được tài sản của bạn thông qua hợp đồng vay tài sản, nhưng sau đó đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp, dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Hành vi này đã đủ dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì bạn có thể tố giác hành vi vi phạm của người đó đến cơ quan điều tra, kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan để yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình sẽ kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố vụ án hình sự.

 

 

 

3. Nhắn tin

- Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của bà Hoàng Thị Bích Hồng, trú tại thôn Mai Thành, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi, đề nghị gải đáp pháp luật. Chunhs tôi được biết Vụ việc của bà đã được Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm, bản án đã có bản án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy bà có thể làm đơn đề nghị xem sét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm, gửi đến Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao để được xem giải quyết.

- Cũng trong tuần qua, chúng tôi nhận được đơn của một số nhân viên nấu ăn tại Trường Mầm non thành phố Lạng Sơn, hỏi về việc trả lương đối với nhân viên nấu ăn trong trường học có bằng Trung cấp nấu ăn. Đơn chứng tôi chuyển đến Phòng Giáo dục thành phố Lạng Sơn xem xét, trả lời./.

 
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 7 tháng 7 năm 2015


1. Bà Hà Thị Long, trú tại thôn nà Ca, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Anh trai tôi là Liệt sĩ chống Pháp đã được chủ tịch nước tặng bằng Tổ quốc ghi công, hiện nay gia đình chỉ còn tôi là người duy nhất còn sống và đang thờ cúng liệt sỹ, vậy tôi có được hưởng chế độ thờ cúng liệt sỹ hay không? Thủ tục như thế nào?

 

Trả lời

Căn cứ Điều 21, Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9-4-2013, quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng thì Liệt sĩ không còn người hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp thờ cúng mỗi năm một lần, mức trợ cấp 500.000 đồng.

Hồ sơ hưởng trợ cấp gồm: Đơn đề nghị hưởng trợ cấp thờ cúng; Biên bản ủy quyền; Hồ sơ liệt sĩ; Quyết định trợ cấp thờ cúng của Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội. Như vậy, trong trường hợp nếu anh trai bà không còn người hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng thì bà sẽ được hưởng trợ cấp thờ cúng. 

Về thủ tục giải quyết, căn cứ Điều 11, Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15-5-2013 hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân, thủ tục giải quyết chế độ trợ cấp thờ cúng liệt sĩ được quy định như sau:

Người thờ cúng liệt sĩ có trách nhiệm lập và gửi hồ sơ lên UBND xã nơi cư trú: Đơn đề nghị hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ có xác nhận của UBND xã; Biên bản ủy quyền (mẫu ủy quyền).

Đối với UBND xã trong thời gian 5 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra, lập danh sách kèm giấy tờ quy định nêu trên gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội. Phòng LĐTB & XH  trong thời gian 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm tổng hợp, lập danh sách kèm giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này gửi Sở LĐTB & XH. Sở LĐTB & XH trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu hồ sơ gốc của liệt sĩ đang quản lý, ra quyết định trợ cấp thờ cúng. Trường hợp hồ sơ gốc của liệt sĩ do địa phương khác quản lý thì Sở LĐTB & XH  có văn bản đề nghị di chuyển hồ sơ gửi Sở LĐTB & XH nơi quản lý hồ sơ gốc của liệt sĩ.

Trường hợp người thờ cúng liệt sĩ chết hoặc không tiếp tục thờ cúng liệt sĩ thì cá nhân khác được gia đình, họ tộc của liệt sĩ ủy quyền thờ cúng liệt sĩ thực hiện thủ tục theo quy định nêu trên.

Căn cứ vào các quy định trên đề nghị bà liên hệ đến UBND xã Hùng Sơn  để làm thủ tục hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ theo quy định.

 

2. Ông Ma Văn Bông, trú tại thôn Nặm SLù, xã Bắc La, huyện Văn Lãng hỏi: Do tranh chấp đường dẫn nước từ khe suối về nhà nên con trai tôi đã bị một người cùng thôn chém vào tay gây thương tích, còn tôi thì thường xuyên bị đe dọa đến tính mạng. Xin hỏi, hành vi gây thương tích và đe dọa tính mạng người khác sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Vấn đề ông hỏi, tùy theo tính chất, mức độ có thể xử lý như sau:

1. Về xử lý Hành chính Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình được ban hành thì hành vi: Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác thì bị Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

 

 

 

2. Về Hình sự

Tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Điều 103 Bộ luật hình sự quy định về Tội đe dọa giết người như sau:

1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với trẻ em;

d) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

 

 

Như vậy với các tình tiết trong đơn ông hỏi, ông có thể gửi đơn đến công an huyện Văn Lãng để được hướng dẫn giám định thương tích cho con ông và có biện pháp xử lý kịp thời đối tượng đe dọa giết người.

 

 

 

3. Nhắn tin

 

- Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của bà Lưu Thị Phượng hỏi về việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu bồi thường thiệt hại do Ngân hàng gây nên trong hợp đồng gửi tiền tiết kiệm. Vụ việc của bà đã được giải quyết theo con đường tố tụng và đã có Bản án phúc thẩm kinh doanh thương mại của TAND tỉnh, bản án có hiệu lực và các đương sự có nghĩa vụ thi hành.

- Đơn của ông Vi Văn Tư, trú tại thôn Quảng Liên 3, xã Quảng Lạc, tp Lạng Sơn đề nghị giải thích việc bắt giữ con trai ông là Vi Văn Định trên đường đi làm về thì bị Công an xã Quảng Lạc và Công an thành phố bắt giữ. Đơn chúng tôi chuyển đến Công an thành phố Lạng Sơn xem xét giải quyết./.

 

 
 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 30 tháng 6 năm 2015

 

1. Ông Hoàng Văn Tuấn, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Vấn đề quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời

 

Theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì có 06 nguyên tắc chung trong quản lý chất lượng công trình xây dựng bao gồm:

 

1- Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận.

 

2- Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật liên quan.

 

3- Nhà thầu khi tham gia hoạt động xậy dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng công trình xây dựng do mình thực hiện. Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện.

 

4- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này. Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật.

 

5- Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình theo quy định của pháp luật.

 

6- Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng theo quy định tại các Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 nêu trên đều phải chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện.

 

Về Trình tự  thực hiện bảo trì công trình xây dựng:

 

Mỗi công trình xây dựng đều có trình tự thưc hiện bảo trì công trình xây dựng như sau: Lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng; lập kế hoạch và dự toán kinh phí bảo trì công trình xây dựng; thực hiện bảo trì và quản lý chất lượng công việc bảo trì; đánh giá an toàn chịu lực và an toàn vận hành công trình. Lập quản lý hồ sơ bảo trì công trình xây dựng.

 

Theo Nghị định, công trình có nhiều chủ sở hữu thì ngoài việc chịu trách nhiệm bảo trì phần công trình thuộc sở hữu riêng của mình, các chủ sở hữu có trách nhiệm bảo trì cả phần công trình thuộc phần sở hữu chung theo quy định của pháp luật có liên quan.

 

Đối với các công trình chưa bàn giao được cho chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình, Chủ đầu tư có trách nhiệm lập kế hoạch bảo trì công trình xây dựng và thực hiện việc bảo trì công trình xây dựng theo các nội dung quy định tại điều này và Điều 39 Nghị định này, chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao hồ sơ bảo trì công trình xây dựng cho Chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình trước khi bàn giao công trình đưa vào khai thác, sử dụng.

 

2. Bà Hoàng Thị Mười, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi nộp hồ sơ làm thủ tục hành chính tại cơ quan nhà nước tôi có thể nộp bản pho tô kèm bản chính để đối chiếu được không hay bắt buộc phải có  bản chứng thực?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản, giảm chi phí cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính thì:

 

Cá nhân, tổ chức khi trực tiếp thực hiện TTHC thì các giấy tờ trong thành phần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu.

 

Khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện TTHC nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không có chứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không được yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao có chứng thực.

 

Như vậy khi đến làm việc với cơ quan hành chính nhà nước không bắt buộc bà phải nộp bản sao có chứng thực mà có thể nộp bản phô tô kèm bản chính để đối chiếu.

 

3. Bà Hoàng Anh Tú, trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Điều kiện của người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ các Điều 8, Điều 14 Luật Nuôi con nuôi thì:

 

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

 

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

 

d) Có tư cách đạo đức tốt.

 

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

 

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

 

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

 

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

 

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

 

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

 

Điều kiện của Người được nhận làm con nuôi:

 

1. Trẻ em dưới 16 tuổi

 

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

 

a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

 

b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

 

3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

 

4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi./.



Trả lời bạn nghe Đ
ài Thứ ba, ngày 23 tháng 6 năm 2015
 

 

1. Ông Hoàng Trọng Đại, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bố tôi chết cuối năm 2004, mẹ tôi chết đầu năm 2005 không để lại di chúc, tài sản nhà đất do em trai tôi quản lý sử dụng. Nay tôi yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế do bố mẹ tôi để lại thì còn thời hiệu không, nếu hết thời hiệu thì giải quyết như thế nào? 

 

Trả lời:

 

Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự (Điều 154 Bộ luật Dân sự).

 

Ðiều 645 Bộ luật Dân sự quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10  năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

 

Như vậy, sau thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết), người thừa kế không còn quyền khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác; và sau thời hạn là 3 năm, cá nhân, tổ chức không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại.

 

Tuy nhiên, để giải quyết những vướng mắc về thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004  và hướng dẫn như sau:

 

- Trường hợp trong thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết, cụ thể:

 

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

 

+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

 

- Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản. 

 

Đối chiếu với quy định nêu trên thì ông có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của bố ông để lại (vì còn thời hiệu chia thừa kế) và yêu cầu giải quyết việc chia tài sản chung của mẹ ông để lại (vì hết thời hiệu chia thừa kế) theo quy định của pháp luật.

 

 

2. Bà Trần Thị Tới, trú tại khu Ga bắc thị trấn Đồng Mỏ hỏi: Hiện nay tôi đang xây nhà mới và có mở cửa sổ ở tầng 2, nhưng nhà bên cạnh cản trở không cho nhà tôi mở. Tôi xin hỏi, theo quy định của pháp luật, tôi có được mở cửa sổ không? Nếu nhà bên cạnh tiếp tục gây khó khăn thì tôi phải làm gì?

 

Trả lời

 

Tại khoản 2 Điều 265 Bộ Luật dân sự quy định: Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

Theo quy định này, thì người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên thửa đất của mình; hộ liền kề phải tôn trọng ranh giới giữa hai bất động sản liền kề, không được lấn chiếm qua ranh giới mặt đất, hoặc lấn chiếm qua ranh giới không gian (được xác định từ ranh giới mặt đất chiếu thẳng đứng lên), hoặc lấn chiếm qua ranh giới lòng đất (được xác định từ ranh giới mặt đất chiếu thẳng đứng xuống). 

 

Căn cứ điều 271 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hạn chế quyền trổ cửa chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng. Mái che trên cửa ra vào, cửa sổ quay ra đường đi chung phải cách mặt đất từ 2,5m trở lên.

 

Theo quy định của Điều 7 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 682/BXD-CSXD ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Xây dựng, thì chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa sổ, lỗ thông hơi, lỗ thông gió theo quy định sau:

 

- Từ tầng hai (lầu một) trở lên, trên các bức tường cách ranh giới đất với công trình bên cạnh dưới 2m không được mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi (chỉ được mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi trên các bức tường cách ranh giới đất với nhà bên cạnh ít nhất 2m). Khi mở cửa cần có biện pháp tránh tia nhìn trực tiếp vào nội thất nhà bên cạnh (chắn tầm nhìn hoặc bố trí so le các cửa sổ giữa hai nhà).

 

- Mép ngoài cùng của ban công trông sang nhà hàng xóm phải cách ranh giới đất giữa hai nhà ít nhất là 2m.

 

- Trong trường hợp người có quyền sử dụng lô đất liền kề có thỏa thuận thì trên bức tường xây cách ranh giới đất dưới 2m có thể mở các lỗ cửa nhưng phải đề phòng trường hợp lửa cháy lan giữa hai nhà. Các lỗ cửa này phải là cửa cố định (chớp lật hoặc lắp chết kính) có mép ngoài cùng cao hơn mặt sàn ít nhất là 2m. Khi thỏa thuận bị hủy bỏ; việc bít các lỗ cửa này là mặc nhiên, không phải thương lượng, xét xử.

 

Như vậy nếu bà làm cửa sổ của gia đình trên bức tường của gia đình cách đất nhà bên cạnh trên 2m thì phù hợp với quy chuẩn xây dựng và không vi phạm các quy định của pháp luật nêu trên. Nhà hàng xóm phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền hợp pháp của bất động sản liền kề, nếu gia đình bên cạnh gấy khó khăn thì bà có thể nhờ chính quyền đến can thiệp, giải quyết./.


 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 16 tháng 6 năm 2015

 
 

1. Bà Hoàng Thị Mười, trú tại xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng hỏi: Hiện nay Nhà nước có chính sách cho vay ưu đãi đối với người dân để làm kinh tế xây dựng nông thôn mới hay không, cụ thể chính sách cho vay quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống của nông dân, cư dân ở nông thôn. Theo đó thì có 07 lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn gồm:

1- Cho vay các chi phí phát sinh phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm nông nghiệp từ khâu sản xuất đến thu mua, chế biến và tiêu thụ;

2- Cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ trên địa bàn nông thôn;

3- Cho vay để sản xuất giống trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp;

4- Cho vay phát triển ngành nghề tại địa bàn nông thôn;

5- Cho vay phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới;

6- Cho vay các nhu cầu phục vụ đời sống của cư dân trên địa bàn nông thôn;

7- Cho vay theo các chương trình kinh tế liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ.

 

Nguồn vốn cho vay

 

Nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn bao gồm: Nguồn vốn tự có và huy động của các tổ chức tín dụng theo quy định; vốn vay, vốn nhận tài trợ, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; nguồn vốn ủy thác của Chính phủ để cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; Nguồn vỗn hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ.

 

Cơ chế bảo đảm tiền vay

 

Điều 9 của Nghị định quy định về cơ chế bảo đảm tiền vay, theo đó, tổ chức tín dụng được xem xét cho khách hàng vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của pháp luật.

Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và chủ trang trại được tổ chức tín dụng cho vay không có tài sản bảo đảm theo 08 mức, mức thấp nhất là 50 triệu đồng và cao nhất là 03 tỷ đồng.

 

Lãi suất và thời gian cho vay

 

Nghị định nêu rõ, lãi suất cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn do khách hàng và tổ chức tín dụng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ.

Trường hợp các chương trình tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ thì mức lãi suất và phương thức hỗ trợ thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Những khoản cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn từ nguồn vốn của Chính phủ hoặc các tổ chức, cá nhân uỷ thác thì mức lãi suất được thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc theo thoả thuận với bên uỷ thác.

Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thỏa thuận thời hạn cho vay, thời hạn duy trì hạn mức tín dụng đối với khách hàng.

Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn trả nợ gốc và lãi đối với các khoản cho vay lưu vụ theo quy định.

 

2. Ông Hà Sỹ Đại, trú tại khối Văn Miếu, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi nào hàng hóa nhập khẩu bị coi là hàng hóa nhập lậu?

Trả lời

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 64/2015/TTLT-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 8/5/2014 của Liên Bộ Tài chính – Công thương – Công an – Quốc định chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường.

 Hàng hóa nhập khẩu của cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu thuộc một trong các trường hợp sau đây thì hàng hóa nhập khẩu bị coi là hàng hóa nhập lậu:

- Hàng hóa nhập khẩu đang trên đường vận chuyển; đang bày bán; để tại kho, bến, bãi, điểm tập kết mà cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu không xuất trình được các hóa đơn, chứng từ chứng minh tính hợp pháp trong thời hạn quy định tại Điều 3 Thông tư này;

- Hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường có hóa đơn, chứng từ nhưng qua điều tra, xác minh của cơ quan chức năng xác định là hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng bt hợp pháp hóa đơn. Hóa đơn không hợp pháp và sử dụng bất hợp pháp hóa đơn được quy định tại các khoản 8, khoản 9 Điều 3 Chương I Nghị định số 51/2010/NĐ-CP;

- Hàng hóa nhập khẩu do cơ sở sản xuất, kinh doanh thu mua gom hàng hóa trao đổi cư dân biên giới xuất hóa đơn bán hàng cho cơ sở sản xuất, kinh doanh khác vận chuyển vào nội địa. Khi các cơ quan chức năng xác minh nguồn gốc hàng hóa mà không có đủ chứng từ quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư này.

Cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu mua, bán, vận chuyển hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường vi phạm các quy định về hóa đơn, chứng từ tại Thông tư này nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo các Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực có liên quan như sau:

Tổ chức, cá nhân kinh doanh, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng hóa nhập lậu bị xử phạt theo Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng;

Trường hợp hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường không có hoặc có nhưng không đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định tại Thông tư này do hỏa hoạn, mất, hỏng, rách và cơ sở sản xuất, kinh doanh đã làm thủ tục khai báo theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP; đồng thời, cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu chứng minh được nguồn gốc hàng hóa là hợp pháp (thông qua việc sao lại các chứng từ, hóa đơn từ các đơn vị phát hành) thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn;

Trường hợp các hành vi vi phạm các quy định về hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu, lưu thông trên thị trường mà dẫn đến các hành vi khai sai làm thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn hoặc dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế thì bị xử lý truy thu thuế và xử phạt theo quy định tại Luật Quản lý thuế;

Các hành vi vi phạm các quy định về hóa đơn, chứng từ không thuộc các trường hợp nêu trên thì xử phạt theo các Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực có liên quan./.

 

 
 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 9 tháng 6 năm 2015

 

1. Ông Hà Huy bằng, trú tại khu Dây Thép, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Người sau cai nghiện ma tuý, áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm được hưởng các chế độ hỗ trợ gì?

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 121/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 12 tháng 08 năm 2010 của Liên Bộ Tài chính, Lao động thương binh xã hội hướng dẫn chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú; chế độ đóng góp và hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện thì tại Điều 4 quy định chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm như sau:

1. Người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm được hỗ trợ một phần tiền ăn, chi phí khám bệnh, chữa bệnh, chi phí học nghề, mua sắm vật dụng cá nhân cần thiết và các khoản chi phí khác, cụ thể như sau:

a) Tiền ăn: 360.000đồng/người/tháng trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm;

b) Chi phí khám, chữa bệnh thông thường: 30.000đ/người/tháng;

c) Người sau cai nghiện ma tuý bị ốm nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo vượt quá khả năng chữa trị của Trung tâm phải chuyển đến bệnh viện của Nhà nước điều trị thì chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian nằm viện do bản thân hoặc gia đình người đó tự thanh toán; trường hợp Trung tâm đã tạm ứng thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh thì yêu cầu người sau cai nghiện hoặc gia đình họ bồi hoàn lại. Đối với đối tượng thuộc hộ nghèo, đối tượng là gia đình chính sách theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, người chưa thành niên được Trung tâm hỗ trợ toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Đối với đối tượng thuộc hộ cận nghèo được Trung tâm hỗ trợ 50% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế còn thời hạn sử dụng được khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật bảo hiểm y tế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm y tế.

d) Chi phí mua sắm vật dụng sinh hoạt cá nhân cần thiết: 300.000 đồng/người/năm;

đ) Hoạt động văn thể: 50.000 đồng/người/năm;

e) Học nghề:

- Đối tượng áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm lần đầu, nếu chưa qua đào tạo nghề, có nhu cầu học nghề được hỗ trợ kinh phí học nghề trình độ sơ cấp nghề: 1.000.000 đồng/người; không hỗ trợ tiền học nghề cho những đối tượng áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm từ lần thứ hai trở đi.

- Hình thức hỗ trợ: Kinh phí hỗ trợ học nghề được bố trí trong dự toán hàng năm của Trung tâm theo phân cấp của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành:

+ Trường hợp người sau cai nghiện ma tuý học nghề do Trung tâm trực tiếp tổ chức thì Trung tâm được chi các nội dung: Khai giảng, bế giảng, cấp chứng chỉ nghề; mua tài liệu, giáo trình học nghề; thù lao giáo viên dạy lý thuyết và giáo viên hướng dẫn thực hành nghề; hỗ trợ nguyên, nhiên, vật liệu học nghề; chỉnh sửa, biên soạn lại chương trình, giáo trình (nếu có).

+ Trường hợp người sau cai nghiện ma tuý học nghề bên ngoài Trung tâm thì Trung tâm xét hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho người sau cai nghiện đóng học phí phù hợp với từng nghề.

Căn cứ trình độ và năng lực của người sau cai nghiện ma tuý; điều kiện về cơ sở vật chất của Trung tâm và tình hình thực tế, Giám đốc Trung tâm quyết định hình thức học nghề cho phù hợp.

g) Chi phí điện, nước sinh hoạt: 50.000đ/người/tháng;

h) Tiền vệ sinh phụ nữ: 20.000 đồng/người/tháng;

i) Tiền ăn đường, tiền tàu xe: người sau cai nghiện ma tuý sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm được trở về cộng đồng; trường hợp gia đình có hoàn cảnh khó khăn hoặc bản thân không có thu nhập từ kết quả lao động tại Trung tâm và địa chỉ nơi cư trú đã được xác định rõ ràng thì khi trở về nơi cư trú được trợ cấp các khoản sau:

- Tiền ăn là 25.000 đồng/người/ngày trong những ngày đi đường, tối đa không quá 5 ngày;

- Tiền tàu xe theo giá phương tiện công cộng phổ thông.

k) Mai táng phí: người sau cai nghiện ma tuý đang thực hiện quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm chết mà không còn thân nhân hoặc thân nhân chưa đến kịp, Trung tâm có trách nhiệm mai táng. Mức mai táng phí là 3.000.000 đồng/người. Trong trường hợp cần trưng cầu giám định pháp y để xác nhận nguyên nhân chết, Trung tâm thanh toán chi phí giám định pháp y theo quy định hiện hành của Nhà nước.

l) Đối với người sau cai nghiện ma tuý tại Trung tâm bị nhiễm HIV/AIDS được trợ cấp thêm tiền thuốc chữa bệnh, tiền mua sắm các vật dụng phòng, chống lây nhiễm HIV và các khoản chi hỗ trợ khác (trừ tiền ăn, tiền thuốc chữa bệnh thông thường) theo quy định tại Quyết định số 96/2007/QĐ-TTg ngày 28/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý, chăm sóc, tư vấn điều trị cho người nhiễm HIV và phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2. Chế độ miễn, giảm tiền ăn và chi phí quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm:

a) Đối tượng được miễn: Người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm được xét miễn tiền ăn, chi phí khám bệnh, chữa bệnh và các chi phí quản lý khác trong thời gian chấp hành quyết định tại Trung tâm thuộc các trường hợp sau đây:

- Đối tượng thuộc hộ nghèo, đối tượng là gia đình chính sách theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

- Người chưa thành niên, người không có nơi cư trú nhất định.

- Người bị bệnh AIDS giai đoạn cuối.

b) Đối tượng được giảm: Người thuộc hộ cận nghèo được giảm 50% chi phí tiền ăn, khám bệnh, chữa bệnh và các chi phí quản lý khác trong thời gian chấp hành quyết định tại Trung tâm.

3. Các mức trợ cấp quy định tại Điều này là mức tối thiểu; tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Sở Tài chính báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định mức chi cho phù hợp.

 

2.  Bà Phương Thị Thanh Vân, trú tại xã Nhất Hòa, huyện Bắc Sơn hỏi: Hiện nay lãi suất cho vay đối với hộ nghèo có được điều chỉnh giảm không, nếu có  thì giảm như thế nào?

Trả lời

 

Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định số 750/QĐ-TTg về điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội.

Quyết định quy định, lãi suất cho vay hộ nghèo, cho vay học sinh, sinh viên, cho vay đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, cho vay vốn quỹ Quốc gia về việc làm giảm từ 7,2%/năm (0,6% tháng) xuống còn 6,6%/năm (0,55% tháng).

Lãi suất cho vay đối với Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn giảm từ 9,6%/năm (0,8%/tháng) xuống còn 9,0%/năm (0,75%/tháng).

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 5/6/2015 và chỉ áp dụng đối với các khoản vay mới kể từ khi Quyết định có hiệu lực thi hành.

 

 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 2 tháng 6 năm 2015
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 2 tháng 6 năm 2015

 

1. Bà Nguyễn Thúy Hường, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và bồi dưỡng cho người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.

 

Đối tượng hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp

 

Căn cứ vào đặc thù chuyên môn, mức độ đào tạo và chức năng hoạt động của từng chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, đối tượng hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp được quy định như sau:

 

Người chỉ huy dàn nhạc giao hưởng nhạc vũ kịch, dàn nhạc giao hưởng; diễn viên tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối nước, nhạc kịch (Opera), vũ kịch (Ballet), kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể; người biểu diễn nhạc cụ hơi.

 

Người chỉ huy dàn hợp xướng, dàn nhạc sân khấu truyền thống; diễn viên kịch câm, hát dân ca, hát mới, múa rối cạn, múa đương đại, múa dân gian dân tộc, múa hát cung đình, múa tạp kỹ; người biểu diễn nhạc cụ dây, nhạc cụ gõ, nhạc cụ bàn phím; kỹ thuật viên âm thanh, kỹ thuật viên ánh sáng.

 

Đối tượng hưởng chế độ bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu diễn gồm người trực tiếp tham gia luyện tập, biểu diễn và phục vụ công tác biểu diễn, bao gồm:  02 đối tượng nêu trên và Người chỉ đạo nghệ thuật buổi diễn chương trình nghệ thuật ca múa nhạc, chỉ đạo nghệ thuật vở diễn sân khấu; trưởng, phó các đơn vị nghệ thuật và trưởng, phó các đoàn biểu diễn trực thuộc; người làm việc theo chế độ hợp đồng hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

 

Chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp

 

Phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp gồm các mức sau: Mức phụ cấp 20%, áp dụng đối với đối tượng là người chỉ huy dàn nhạc giao hưởng nhạc vũ kịch, dàn nhạc giao hưởng; diễn viên tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối nước, nhạc kịch (Opera), vũ kịch (Ballet), kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể; người biểu diễn nhạc cụ hơi. Mức phụ cấp 15%, áp dụng đối với đối tượng là người chỉ huy dàn hợp xướng, dàn nhạc sân khấu truyền thống; diễn viên kịch câm, hát dân ca, hát mới, múa rối cạn, múa đương đại, múa dân gian dân tộc, múa hát cung đình, múa tạp kỹ; người biểu diễn nhạc cụ dây, nhạc cụ gõ, nhạc cụ bàn phím; kỹ thuật viên âm thanh, kỹ thuật viên ánh sáng.

 

Phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp được tính như sau: Phụ cấp  ưu đãi theo nghề = Mức lương cơ sở x (Hệ số lương theo ngạch, bậc hiện hưởng + hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) + % phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có))x Mức phụ cấp ưu đãi theo nghề.

 

Nguyên tắc chi trả: Phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp được trả cùng tiền lương hằng tháng; phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ bảo hiểm khác.

 

2.  Ông Hoàng Xuân Chiến, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện cao Lộc hỏi: Tôi là chủ doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa. Xin hỏi trong những trường hợp, điều kiện nào doanh nghiệp được ưu tiên thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu?

 

Trả lời

 

Căn cứ Thông tư số 72/2015/TT-BTC ngày 12 tháng 05 năm 2015 quy định áp dụng chế độ ưu tiên trong việc thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp, theo đó:

 

Nguyên tắc áp dụng chế độ ưu tiên:

 

Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp ưu tiên hoặc dự án ưu tiên hoặc do đại lý ưu tiên đứng tên trên tờ khai được áp dụng chế độ ưu tiên về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan quy định tại Thông tư này đối với tất cả các loại hình xuất khẩu, nhập khẩu, ở tất cả các đơn vị hải quan trong toàn quốc.

 

Ngoài các ưu tiên được quy định tại Thông tư này, doanh nghiệp ưu tiên còn được hưởng các ưu tiên khác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật có liên quan.

 

Ưu tiên thứ tự làm thủ tục hải quan:

 

Được cơ quan hải quan ưu tiên kiểm tra thực tế hàng hóa trước bằng máy soi đối với trường hợp kiểm tra ngẫu nhiên để đánh giá tuân thủ khai báo hải quan.

 

Trường hợp doanh nghiệp gặp vướng mắc trong khâu thông quan, Chi cục Hải quan có trách nhiệm trả lời doanh nghiệp bằng văn bản trong thời gian 8 giờ làm việc kể từ thời điểm phát sinh vướng mắc.

 

Được cơ quan hải quan ưu tiên kiểm tra trước, giám sát trước trong khâu giám sát hải quan.

 

Trường hợp doanh nghiệp có yêu cầu xem hàng hóa trước hoặc lấy mẫu thì được ưu tiên làm thủ tục xem hàng trước, lấy mẫu trước.

 

Được cơ quan kinh doanh cảng, kho bãi ưu tiên xếp dỡ, giao nhận hàng hóa trước.

 

Một số điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên:

 

- Điều kiện tuân thủ pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế: Trong thời hạn 02 năm liên tục, gần nhất tính đến thời điểm doanh nghiệp có văn bản đề nghị công nhận doanh nghiệp ưu tiên, doanh nghiệp không vi phạm các quy định của pháp luật về thuế, hải quan tới mức bị xử lý vi phạm về các hành vi trốn thuế, gian lận thuế; buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có hình thức, mức xử phạt vượt thẩm quyền Chi cục trưởng Chi cục Hải quan và các chức danh tương đương; Đối với đại lý làm thủ tục hải quan, số tờ khai hải quan đại lý làm thủ tục đứng tên bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, lĩnh vực thuế thuộc thẩm quyền xử lý của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan và chức danh tương đương không vượt quá tỷ lệ 0,5% tính trên tổng số tờ khai đã làm thủ tục hải quan; Không nợ thuế quá hạn theo quy định.

 

- Điều kiện về kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu: Doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất nhập khẩu từ 100 triệu USD/năm trở lên; Doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sản xuất tại Việt Nam từ 40 triệu USD/năm trở lên; Doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu hàng hóa là nông sản, thủy sản sản xuất hoặc nuôi, trồng tại Việt Nam từ 30 triệu USD/năm trở lên; Đại lý thủ tục hải quan: số tờ khai hải quan đã làm thủ tục hải quan đứng tên đại lý trong năm đạt từ 20.000 tờ khai/năm trở lên; Không áp dụng điều kiện kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đối với các doanh nghiệp được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao.

 

- Điều kiện về thủ tục hải quan điện tử, thủ tục thuế điện tử: Thực hiện thủ tục hải quan điện tử, thủ tục thuế điện tử; có chương trình công nghệ thông tin quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp đảm bảo yêu cầu kiểm tra của cơ quan hải quan.

 

- Điều kiện về thanh toán hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: Thực hiện thanh toán đối với các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu qua ngân hàng theo quy định của ngân hàng nhà nước. Doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cho cơ quan hải quan số tài khoản, danh sách các ngân hàng giao dịch./


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26 tháng 5 năm 2015

 

1. Ông Hà Anh Tuấn, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi đến trụ sở tiếp công dân để khiếu nại, tố cáo thì người dân có quyền và nghĩa vụ gì, các hành vi nào bị nghiêm cấm?

 

Trả lời:

 

- Theo quy định tại Điều 7 Luật Tiếp công dân thì khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các quyền sau đây:

 

a) Trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

 

b) Được hướng dẫn, giải thích về nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình;

 

c) Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người tiếp công dân;

 

d) Nhận thông báo về việc tiếp nhận, kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

 

đ) Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không sử dụng thông thạo tiếng Việt thì có quyền sử dụng người phiên dịch;

 

e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

 

Về nghĩa vụ: Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các nghĩa vụ sau đây:

 

a) Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có);

 

b) Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối với người tiếp công dân;

 

c) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại;

 

d) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tiếp công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân;

 

đ) Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì phải cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

 

e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo của mình.

 

 - Tại Điều 6 Luật Tiếp công dân quy định Các hành vi bị nghiêm cấm như sau:

 

1. Gây phiền hà, sách nhiễu hoặc cản trở người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

 

2. Thiếu trách nhiệm trong việc tiếp công dân; làm mất hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu do người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cung cấp.

 

3. Phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân.

 

4. Lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh để gây rối trật tự công cộng.

 

5. Xuyên tạc, vu khống, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.

 

6. Đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ.

 

7. Kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc người khác tập trung đông người tại nơi tiếp công dân.

 

8. Vi phạm các quy định khác trong nội quy, quy chế tiếp công dân.

 

2.  Ông Nguyễn Văn Thắng, trú tại phường Đông kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người tiêu dùng thực phẩm khi mua thực phẩm về sử dụng phát hiện thực phẩm không an toàn có quyền và nghĩa vụ gì?

 

Trả lời

 

Điều 9 Luật an toàn thực phẩm quy định người tiêu dùng thực phẩm có các quyền và nghĩa vụ sau:

 

1. Người tiêu dùng thực phẩm có các quyền sau đây:

 

a) Được cung cấp thông tin trung thực về an toàn thực phẩm, hướng dẫn sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, lựa chọn, sử dụng thực phẩm phù hợp; được cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn, cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo đối với thực phẩm;

 

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật;

 

c) Yêu cầu tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

 

d) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật;

 

đ) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra.

 

2. Người tiêu dùng thực phẩm có các nghĩa vụ sau đây:

 

a) Tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn về an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm;

 

b) Kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm với Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

 

c) Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng thực phẩm.

 

3. Ông Nguyễn Văn Năm, trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Người thực hiện hành vi trộm chó có giá trị dưới 2 triệu đồng có bị xử lý hình sự không?

 

Trả lời:

 

Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về Tội trộm cắp tài sản như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

 

c) Tái phạm nguy hiểm;

 

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

 

đ) Hành hung để tẩu thoát;

 

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

 

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

 

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

 

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

 

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên;

 

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.”

 

Theo quy định trên, người có hành vi trôm chó, là hành vi trộm cắp tài sản, nếu tài sản bị trộm cắp có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mới khởi tố vụ án. Tuy nhiên trường hợp trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc các trường hợp: gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính hay đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt chưa được xoá án mà còn vi phạm./.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19  tháng 5 năm 2015

1. Ông Nguyễn Đức Nhuận, trú tại 16D, tổ 1, khối 7, ngõ 2, đường Lê Hồng  Phong, phường Tam Thanh, tp Lạng Sơn hỏi: Việc khiếu nại đối với cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng diện tích, không đúng đối tượng, không đúng quy định được pháp luật đất đai quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

- Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Nếu quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho con trai bác là không đúng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bác thì bác có quyền khiếu nại quyết định hành chính đó.

* Trình tự khiếu nại (Điều 7 Luật Khiếu nại):

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

* Hình thức khiếu nại (Điều 8 Luật Khiếu nại):

- Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

- Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

- Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.

 

 

2. Bà Trần Yến Thanh, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bố tôi là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, có 20% cổ phần trong công ty, bố tôi chết không để lại di chúc. Vậy số cổ phần này sẽ được chia như thế nào, thủ tục ra sao?

 

Trả lời:

 

 

Khi cổ đông của công ty cổ phần chết, thì số cổ phần (phần vốn góp) của họ trong công ty trở thành tài sản thừa kế để lại cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trường hợp cổ đông chết không để lại di chúc thì những người thừa kế theo pháp luật được hưởng. Tại Điều 676 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà  nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ  ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Người chưa thành niên sẽ do người Giám hộ thực hiện quyền và nghĩa vụ cổ đông thay cho họ đến khi con thành niên.

 

Thủ tục khai nhận thừa kế, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được thực hiện tại tổ chức công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng. Người thừa kế phải thông báo với công ty về việc hưởng thừa kế số cổ phần của cổ đông đã chết để trở thành cổ đông mới của công ty. Trường hợp người được hưởng thừa kế không muốn trở thành cổ đông sáng lập của Công ty thì có thể chuyển nhượng số cổ phần trên cho các cổ đông sáng lập khác trong Công ty hoặc cho người khác không phải là cổ đông sáng lập nếu được Đại hội đồng cổ đông Công ty chấp thuận.

Theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định việc đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty cổ  phần như sau:

Trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, công ty gửi thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:

- Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế  hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp và mã số thuế);

- Họ, tên, số Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ  chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, chức danh, địa chỉ thường trú của người đang là  đại diện theo pháp luật của công ty và của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty;

- Họ, tên và chữ ký của Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần.

Kèm theo Thông báo phải có: Quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty làm thay đổi nội dung điều lệ công ty, của Hội đồng quản trị công ty cổ phần trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty không làm thay đổi nội dung điều lệ công ty; bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty.

Quyết định, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông phải ghi rõ những nội dung được sửa  đổi trong Điều lệ công ty.

Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao giấy biên nhận và đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần./.

 


 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12  tháng 5 năm 2015


 

1. Bà Chu thị Kiền, trú tại xã Chu Túc, huyện Văn Quan hỏi: Tôi là dân tộc thiểu số thuộc hồ nghèo, tôi đang khởi kiện một vụ tranh chấp dân sự ra Tòa án. Được biết khi khởi kiện thì phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí cho Nhà nước. Vậy theo quy định hiện hành thì những đối tượng nào được miễn án phí, trường hợp của tôi có được miễn hay không?

 

Trả lời:

Theo quy định tại các Điều 8, 10, 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 thì:

Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án theo quy định của Pháp lệnh này.

 

Tại Điều 10 quy định Những trường hợp sau đây không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

2. Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước;

3. Viện Kiểm sát khởi tố vụ án hành chính;

4. Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm;

5. Cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 11 quy định về Miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí như sau:

Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sỹ; người có công với cách mạng.

2. Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

3. Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

4. Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5. Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ;

6. Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.

 

Như vậy căn cứ vào các quy định trên, theo trình bày trong đơn gia đình bà thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ thì thuộc đối tượng được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí theo khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tại Điều 15 quy định Người đề nghị được miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí ,án phí, lệ phí Tòa án phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng từ chứng minh thuộc trường hợp được miễn. Đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm làm đơn; Họ, tên, địa chỉ của người làm đơn; Lý do và căn cứ đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án; Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc.

 

 

 

2. Ông Vũ Văn Bẩy, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi niêm yết giá bán không đúng hoặc gian lận trong kinh doanh xăng dầu thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

 

Căn cứ Nghị định 97/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng thì hành vi vi phạm quy định về kinh doanh xăng dầu bị xử lý như sau:

Đối với Hành vi vi phạm quy định về niêm yết giá bán và giá bán lẻ xăng dầu (Điều 20 Nghị định):

1. Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không niêm yết giá bán lẻ xăng dầu hoặc niêm yết giá bán lẻ xăng dầu không đúng quy định, không rõ ràng gây nhầm lẫn cho khách hàng;

b) Niêm yết giá bán lẻ xăng dầu không đúng với giá do thương nhân đầu mối quy định;

c) Bán không đúng giá niêm yết do thương nhân đầu mối quy định.

2. Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tự ý điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu không đúng thời điểm thương nhân đầu mối quy định.

3. Hình thức xử phạt bổ sung

Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

Buộc nộp lại ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp được do thực hiện vi phạm hành chính mang lại.

Đối với Hành vi gian lận về sử dụng phương tiện đo lường trong kinh doanh xăng dầu (Điều 22 Nghị định):

1. Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không có chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kiểm định, tem kiểm định) phương tiện đo xăng dầu;

b) Sử dụng chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kiểm định, tem kiểm định) phương tiện đo xăng dầu đã hết hiệu lực;

c) Sử dụng chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kiểm định, tem kiểm định) bị tẩy xóa, sửa chữa.

2. Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng phương tiện đo bị sai, bị hỏng hoặc không đạt yêu cầu về đo lường hoặc sai scủa phương tiện đo vượt quá giới hạn sai số cho phép;

b) Tự ý tháo dỡ niêm phong, kẹp chì, dấu kiểm định, tem kiểm định trên phương tiện đo mà không thông báo với cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

3. Phạt tiền từ 35 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định hoặc dấu kim định, tem kim định) giả mạo;

b) Không thực hiện kiểm định phương tiện đo trong thời hạn quy định theo yêu cu của cơ quan có thẩm quyền;

c) Làm thay đổi cấu trúc kỹ thuật, đặc tính kỹ thuật đo lường của phương tiện đo;

d) Tác động, điều chỉnh, sửa chữa, thay thế, lắp thêm, rút bớt thiết bị của phương tiện đo làm sai lệch kết quả đo hoặc sử dụng các thiết bị khác để điều chỉnh sai số của phương tiện đo vượt quá giới hạn sai số cho phép;

đ) Có hành vi gian lận khác về đo lường khi bán xăng dầu.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu từ 01 tháng đến 06 tháng đối với vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a Khoản 2 và Khoản 3 Điều này;

b) Tịch thu chứng chỉ kiểm định (Giấy chứng nhận kiểm định, tem kiểm định) đối với vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 1, Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 3 Điều này;

c) Tịch thu phương tiện đo và các thiết bị khác đối với vi phạm quy định tại Điểm c, Điểm d Khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc đình chỉ sử dụng phương tiện đo vi phạm và thực hiện kiểm định phương tiện đo trước khi đưa vào sử dụng đi với vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Điểm a, Điểm b, Điểm đ Khoản 3 Điều này;

b) Buộc nộp lại ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do vi phạm hành chính đối với vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 và Khoản 3 Điều này./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5  tháng 5 năm 2015

 

1. Ông Hà Anh Tuấn, trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hiện nay, các cơ quan Nhà nước đã và đang tiến hành nhiều cuộc thanh kiểm tra các lĩnh vực để phòng ngừa tham nhũng. Sau khi Thanh tra đã ban hành Kết luận thanh tra, vậy pháp luật quy định như thế nào về việc thực hiện kết luận thanh tra để kết luận này được chấp hành nghiêm chỉnh?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định việc thực hiện kết luận thanh tra như sau:

 

Về nguyên tắc thực hiện kết luận thanh tra như sau:

 

Kết luận thanh tra phải được đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh;

 

Các sai phạm được xác định cụ thể, rõ ràng trong kết luận thanh tra phải được xử lý nhanh chóng, nghiêm chỉnh; kiến nghị, yêu cầu trong kết luận thanh tra phải được xem xét, xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật;

 

Kết luận thanh tra phải được cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện;

 

Nội dung đang được thanh tra lại, nội dung kết luận thanh tra xin ý kiến chỉ đạo mà chưa có ý kiến chỉ đạo xử lý của người có thẩm quyền thì chưa bắt buộc phải thực hiện.

 

Xử lý cán bộ, công chức, viên chức, người có hành vi vi phạm

 

Căn cứ phân cấp quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với cơ quan ban hành kết luận thanh tra có trách nhiệm: Chỉ đạo việc tổ chức kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân có hành vi vi phạm; Tiến hành thủ tục xử lý kỷ luật, ban hành quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó.

 

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ thuật cán bộ, công chức, viên chức, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, pháp luật về lao động và pháp luật có liên quan.

 

2. Bà Hoàng Thị Phi, trú tại xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về tội Hủy hoại tài sản của người khác?

 

Trả lời:

 

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác được quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự:

 

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

 

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

 

d) Để che giấu tội phạm khác;

 

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

 

e) Tái phạm nguy hiểm;

 

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

 

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

 

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20  năm hoặc tù chung thân:

 

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

 

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm./.
 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 28  tháng 4 năm 2015


1. Bà Mạc Thị Khít, 69 tuổi, trú tại thôn Khưa Đa, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Bà có mẹ đẻ là người hoạt động cách mạng trước 1945 được Nhà nước tặng Bằng có công với nước. Nay mẹ bà đã qua đời, vậy gia đình có được hưởng chế độ, chính sách gì không, thủ tục phải làm những gì?

 

Trả lời:

 

 

Theo quy định tại Điều 9 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012 thì:

1. Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.

2. Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 bao gồm:

a) Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng;

b) Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết;

c) Cấp tiền mua báo Nhân dân; được tạo điều kiện tham gia sinh hoạt văn hóa, tinh thần phù hợp;

d) Được Nhà nước hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao và hoàn cảnh của từng người.

3. Các chế độ ưu đãi khi người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 chết bao gồm:

a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đang hưởng chế độ ưu đãi quy định tại khoản 2 Điều này mà chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp;

 

b) Người hoạt động cách mạng (trước ngày 02 tháng 01 năm 1945 đã chết mà chưa hưởng chế độ ưu đãi quy định tại khoản 2 Điều này thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần;