TRUYỀN HÌNH TRỰC TUYẾN

http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/31_10_2014-BT-TRUA_.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 31/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/31_10_2014 BT TRUA_.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/31_10_2014-BT-SANG_.jpg
Bản tin sáng ngày 31/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/31_10_2014 BT SANG_.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/31_10_2014-BT-QUOC-TE-SANG_.jpg
Bản tin quốc tế sáng ngày 31/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/31_10_2014 BT QUOC TE SANG_.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/30_10_2014-CM-PNXLHN.jpg
CM Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 CM PNXLHN.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/30_10_2014-CM-DKDT.jpg
CM đại đoàn kết dân tộc ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 CM DKDT.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/30_10_2014-CM-ATGT_.jpg
CM an toàn giao thông ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 CM ATGT_.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/30_10_2014-TSTH.jpg
Chương trình thời sự tổng hợp ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 TSTH.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/BT-TRUA_30_10.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/BT TRUA_30_10.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/BT-SANG_30_10lai.jpg
Bản tin sáng ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/BT SANG_30_10lai.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/BT-QUOC-TE-SANG_30_10.jpg
Bản tin quốc tế sáng ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/BT QUOC TE SANG_30_10.flv
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2014/10/CM04_29_10-tuoi-tre.jpg
CM tuổi trẻ xứ lạng ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/CM04_29_10 tuoi tre.flv

Chương trình thời sự trưa ngày 31/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/31_10_2014 BT TRUA_.flv
Bản tin sáng ngày 31/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/31_10_2014 BT SANG_.flv
Bản tin quốc tế sáng ngày 31/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/31_10_2014 BT QUOC TE SANG_.flv
Chương trình thời sự tổng hợp ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 TSTH.flv
Chương trình thời sự trưa ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/BT TRUA_30_10.flv
Bản tin sáng ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/BT SANG_30_10lai.flv
Bản tin quốc tế sáng ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/BT QUOC TE SANG_30_10.flv
Chương trình thời sự tổng hợp ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/thoi su tong hop_10.flv
Chương trình thời sự trưa ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/BT TRUA_29_10lai.flv
CM Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 CM PNXLHN.flv
CM đại đoàn kết dân tộc ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 CM DKDT.flv
CM an toàn giao thông ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/30_10_2014 CM ATGT_.flv
CM tuổi trẻ xứ lạng ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/CM04_29_10 tuoi tre.flv
CM đảng trong cuộc sống ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/CM03_29_10 dang.flv
CM quốc phòng toàn dân ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/CM02_29_10 quoc phong.flv
CM vì màu xanh cuộc sống ngày 28/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/CM03_28_10 vi mau xanh cuoc song.flv
CM trả lời bạn xem truyền hình ngày 28/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/CM02_28_10 tra loi.flv
CM học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM ngày 28/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/CM01_28_10 hoc tap HCM.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TIENGDAO_29_10_LAI.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 27/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/27_10_2014 TIENGDAO_.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 24/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/24_10_2014 TIENGDAO_.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 22/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/22_10_2014 TIENGDAO_.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 20/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TIENG DAO_20_10.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 17/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TIENGDAO_17_10.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 15/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/15_10_2014 TIENGDAO_.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 13/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TIENGDAO_13_10.flv
Chương trình truyền hình tiếng dao ngày 10/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/10_10_2014 TIENGDAO_.flv
Việt Bắc quê em
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Viet Bac que em.flv
Về Lạng Sơn quê em
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Ve Lang Son que em.flv
Tiếng đàn quê hương
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Tieng dan que huong.flv
Suối rừng quê ta nhớ Bác
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Suoi rung que ta nho Bac.flv
Mùa hoa Lê
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Mua hoa Le.flv
Lạng Sơn quê Nọong
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Lang Son que noong.flv
Lạng Sơn anh dũng
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Lang Son anh dung.flv
Học tập làm theo Hồ Chí Minh
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/Hoc tap lam theo Ho Chi Minh.flv
Mùa xuân em hát
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/01/mua xuan em hat.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 31/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_486.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_485.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_484.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 28/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_482.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 27/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_481.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 26/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_480.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 25/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_479.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 24/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_478.flv
Trang truyền hình cơ sở ngày 23/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/TRANG THCS_477.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 30/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_459.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 29/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_458.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 28/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_457.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 27/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_456.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 26/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_455.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 25/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_454.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 24/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_453.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 23/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_452.flv
Mỗi ngày một cuốn sách ngày 22/10/2014
http://www.langsontv.vn/sites/default/files/videos/2014/10/MOI NGAY 1 CUON SACH_451.flv

Thông tin thời tiết

Lạng Sơn23
Hà nội 27
Đà Nẵng26
Hồ Chí Minh29

CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 30/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/CT KINH TOI 30-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 30/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/TAY 30-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng dao ngày 30/09/2014
sites/default/files/audio/2014/10/DAO 30-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 29/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/ct kinh toi 29-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 29/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/CT TAY 29-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng dao ngày 29/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/CT DAO 29-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 28/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/CT KINH TOI 28-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 28/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/TAY 28-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng dao ngày 28/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/DAO 28-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 27/10/2014
sites/default/files/audio/2014/10/ct kinh toi 27-10.mp3
Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 31/10/2014

 

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

 

 

6h02' : Bản tin sáng ngày 31/10/2014

 

 

6h09' : Bản tin Quốc tế ngày 31/10/2014

 

 

6h16’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 373

 

  

 

6h23’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 459

 

 

6h28’: Sức khỏe 365 ngày   Tập 31/65

 

 

6h38’: Chuyên mục  Đại đoàn kết toàn dân

 

 

6h50’: Chuyên mục  An toàn giao thông

 

 

7h00’: Chuyên mục  Khoa học công nghệ và Đời sống

 

 

7h10’: Ký sự   Huyền bí sông Hằng – T7

 

 

7h25’: Chuyên mục  Quốc phòng toàn dân

 

 

7h34’: Khám phá thế giới  Những khả năng của con người – Tập 5

 

 

7h58’: Chuyến xe nhân ái  Kỳ 126 – Thành Đông

 

 

8h30’: Ca nhạc Việt  Quê mình quê thơ

 

8h59’: Bản tin sáng ngày 31/10/2014

 

9h05’: Bản tin quốc tế ngày 31/10/2014

 

9h11’: Bản tin tiếng Trung ngày 30/10/2014

 

 

9h26’: Chuyên mục  Đảng trong cuộc sống hôm nay

 

9h39’: Hành tinh thế thao ngày 31/10/2014

  

9h59’: Chương tình thời sự tổng hợp ngày 30/10/2014

  

 

10h23’: Trang THCS  Số 486

 

 

10h41’: Chuyên mục  Tuổi trẻ Xứ Lạng

 

 

10h53’: Phim truyện  Cuộc đời lớn – Tập 27/88 Phim HQ

 

11h44’: Bản tin trưa ngày 31/10/2014

 

 

12h00’: Phim truyện  12 Phường rượu – Tập 21/25 Phim HK

 

12h40’: Chương trình truyền hình tương tác Play Music

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 31/10/2014

 

 

15h20’: Phim truyện  Trường nội trú – Tập 20/30 Phim VN

 

 

16h06’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 373

 

 

16h13’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 23/65

 

 

16h23’: Chuyên mục  Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay

 

16h33’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 31/10/2014

 

 

17h03’: Văn hóa vùng miền  Về lại Tân Công Sính

 

 

17h23’: Trang THCS  Số 487

 

 

17h38’: Phim hoạt hình  Chiếc tủ thần kỳ của Chloe – Tập 58/104

 

 

17h54’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 459

 

 

18h03’: Phim truyện  Yêu con gái kẻ thù – Tập 5/24 Phim HQ

 

 

18h50’: Ai? Việc gì? Ở đâu?  Số 84

 

18h59’: Chuyển tiếp Chương trình Thời sự VTV1

 

19h50': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 31/10/2014

 

20h16': Bản tin trong nước ngày 31/10/2014

 

20h21': Bản tin Quốc tế ngày 31/10/2014

 

20h26': Bản tin thể thao ngày 31/10/2014

 

 

20h37’: Chuyên mục  Lao động và Công đoàn

 

 

20h48’: Chuyên mục  Sức khỏe và Đời sống

 

 

20h59’: Phim truyện  Những đóa hoa tình yêu – Tập 25/32 Phim VN

 

 

21h44’: Phim truyện  12 Phường rượu  – Tập 22/25 Phim HK

 

 

22h27’: Chuyên mục  Giáo dục và Đào tạo

 

22h38’: Bản tin tiếng Trung ngày 31/10/2014

 

22h53’: Chuyên mục  Trang truyền hình TP Lạng Sơn

 

 

23h04’: Sức khỏe 365 ngày   Tập 37

 

 

23h15’: Thăm nhà người nổi tiếng   Cẩm Thơ

 

 

23h33’: Ca nhạc Việt   Bức họa đồng quê

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014


1.Bà Mai Thị Lý, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi muốn kinh doanh xăng dầu, vậy điều kiện để làm nhà phân phối xăng dầu hoặc điều kiện làm đại lý kinh doanh bán lẻ xăng dầu được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 09 năm 2014 của CHính phủ về Kinh doanh xăng dầu, tại Điều 13 quy định về Điều kiện đối với thương nhân phân phối xăng dầu như sau:

 

Thương nhân có đủ các điều kiện dưới đây được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu:

 

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

 

2. Có kho, bể dung tích tối thiểu hai nghìn mét khối (2.000 m3), thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.

 

3. Có phương tiện vận tải xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.

 

4. Có phòng thử nghiệm thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc có hợp đồng dịch vụ thuê cơ quan nhà nước có phòng thử nghiệm đủ năng lực kiểm tra, thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng xăng dầu phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn công bố áp dụng.

 

5. Có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn từ hai (02) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, bao gồm tối thiểu năm (05) cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu, tối thiểu mười (10) cửa hàng thuộc các đại lý bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

 

6. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

Điều 19. Điều kiện đối với đại lý bán lẻ xăng dầu

 

Thương nhân có đủ các điều kiện dưới đây được Sở Công Thương cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu (sau đây gọi tắt là đại lý):

 

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

 

2. Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

 

3. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

2. Ông Nguyễn Duy Hùng, trú tại khu dây thép, thị trấn Đồng Đăng hỏi: Hiện nay tôi thấy rất nhiều người tham gia bán hàng đa cấp từ mỹ phẩm đến thực phẩm chức năng, thậm chí điều trị chăm sóc sức khỏe mà ít thấy bị kiểm soát, khi chào hàng đa số người mới phải tham gia và mua một sản phẩm thì mới được làm đại lý tiếp theo và hưởng phần trăm, như vậy có đúng quy định không và những hành vi nào bị cấm trọng loại hình bán hàng này?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 5 của Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp​ thì Những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp bao gồm:

 

1. Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

 

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 

b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 

c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình;

 

d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;

 

đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

 

g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác;

 

h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo; i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này;

 

k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó;

 

l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào;

 

m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

 

n) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

 

o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

 

q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp;

 

r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;

 

s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.

 

2. Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

 

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

 

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

 

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 21 tháng 10 năm 2014


1.Ông Đặng Hữu Dương, trú tại tổ 1 khối 8, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Năm 2005 tôi đã gửi đơn đến Phòng Lao động thương binh xã hội huyện xin cấp lại bằng tổ quốc ghi công của Liệt sĩ Đặng văn Trục, số bằng BZ 842B để hương khói cho liệt sĩ nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Vậy tôi phải làm gì, gửi đơn đến đâu để được giải quyết?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Bộ Lao động Thương binh và xã hội  Hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân

 

Tại Điều 51 quy định về Thủ tục đổi hoặc cấp lại Bằng “Tổ quốc ghi công” như sau:

 

1. Thân nhân liệt sĩ hoặc người thờ cúng liệt sĩ có đơn đề nghị (Mẫu TQ1) gửi Ủy ban nhân dân cấp xã.

 

2. Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 05 ngày có trách nhiệm xác nhận vào đơn đề nghị, tổng hợp và lập danh sách gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận các giấy tờ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này có trách nhiệm lập và gửi danh sách đổi hoặc cấp lại Bằng đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời hạn 30 ngày từ ngày nhận danh sách, có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu hồ sơ liệt sĩ, lập danh sách liệt sĩ có đầy đủ thông tin (Mẫu TQ2) gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Người có công) kèm công văn đề nghị.

5. Trong thời hạn 30 ngày từ ngày nhận công văn và danh sách, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm in Bằng, gửi Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ.

 

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm tiếp nhận Bằng “Tổ quốc ghi công” từ Cục Người có công để chuyển đến gia đình liệt sĩ.

 

Như vậy, theo nội dung đơn của ông, gia đình ông có liệt sĩ đã được cấp bằng Tổ quốc ghi công số hiệu BZ 842B nhưng do làm mất, bị hư hỏng, rách nát thì gia đình làm thủ tục yêu cầu cấp lại, trình tự và thời hạn được quy định như trên. Đề nghị ông liên hệ đến UBND thị trấn Cao Lộc để giải quyết theo quy định.

 

 

2. Ông Lành Văn Giang, trú tại thôn Phai Rọ, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan hỏi: Năm 2013 gia đình tôi đã hiến 2.070m2 đất cho nhà nước làm đường  từ ngã 3 đầu chợ qua thôn Phai Rọ thẳng vào hàng Lùng Yên, nhưng trong quá trình thi công  đơn vị thi công không lắp cống thoát nước, do mặt đường cao hơn nền nhà của gia đình nên đợt mưa lũ vừa qua gây thiệt hại rất nặng nề cho gia đình. Vậy gia đình tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được bồi thường thiệt hại?

 

Trả lời:

 

Theo nội dung đơn ông trình bày, chúng tôi rất hoan nghênh gia đình đã có tấm lòng vì cộng đồng hiến hơn 2000m2 đất để nhà nước làm đường giao thông. Tuy nhiên theo gia đình phản ánh do đơn vị thi công không không lắp hệ thống cống thoát nước nên gây ảnh hưởng thiệt hại đến hoa màu, tài sản của gia đình.

 

Vấn đề này tại Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra như sau: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”.

 

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại: Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

Điều 607 quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

 

Như vậy, trong trường hợp của gia đình ông, nếu xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại tài sản của gia đình là do công trình làm đường gây ra thì gia đình có thể gửi đơn đến là chủ sở hữu công trình xây dựng hoặc phía đơn vị chịu trách nhiệm thi công, xây dựng công trình để cùng nhau xem xét, thỏa thuận về yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc có thể khởi kiện ra Tòa án theo quy định.

 

3. Ông Lê Xuân Thành 83 tuổi, trú tại thôn Cóoc Rặc, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Tôi sinh được 7 người con, 5 trai 2 gái, các con đều trưởng thành và có gia đình riêng, đối với 5 con trai tôi đều cho đất đai, tiền của và xây dựng nhà cửa đàng hoàng, duy chỉ có 2 người con gái tôi chưa cho được gì, nay tôi có căn nhà và giấy chứng nhận QSDĐ muôn để lại cho 2 người con gái trước khi qua đời. Vậy tôi phải làm như thế nào cho đúng với quy định của pháp luật?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của pháp luật dân sự thì khi ông là người đứng tên riêng trên Giấy chứng nhận QSDĐ thì ông có quyền làm thủ tục tặng cho con gái hoặc bất kỳ ai và giấy tặng cho phải được công chứng hoặc chứng thực theo pháp luật. hoặc ông có thể lập di chúc để lại di sản thừa kế cho con gái  của ông theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự (BLDS) “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

 

Quyền của người lập Di chúc (Điều 648 BLDS): Khi lập di chúc, người lập di chúc có quyền:

 

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

 

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

 

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

 

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

 

- Chỉ định người giữ Di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

 

Về hình thức Di chúc ( Điều 649 BLDS): Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập Di chúc bằng văn bản thì có thể Di chúc miệng.

 

* Nếu Di chúc được lập thành văn bản thì gồm có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm lập Di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập Di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu Di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập Di chúc.

 

Nếu Di chúc bằng miệng, người viết Di chúc không thể tự mình viết bản Di chúc thì phải có 02 người làm chứng, trừ những đối tượng sau không được làm chứng (Người thừa kế theo Di chúc hoặc theo pháp luật của người lập Di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung Di chúc; Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự).

 

Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.

 

Như vậy với quy định của pháp luật hiện hành thì ông có thể làm hợp đồng tặng cho choặc để lại tài sản của mình thông qua di chúc hợp pháp cho 2 con gái của ông.



 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 14 tháng 10 năm 2014

 

1. Ông Nông Văn Hiểu, trú tại Bản Coong, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Năm 1996 Gia đình tôi và một số hộ dân cùng thôn được UBND huyện Tràng Định giao đất lâm nghiệp, có sổ lâm bạ. Đến năm 2009, được UBND huyện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng diện tích đất ít hơn so với sổ lâm bạ trước đây, Vây chúng tôi phải khiếu nại đến cơ quan nào để được giải quyết?

 

Trả lời:

            Theo quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 về Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai thì:

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

          Theo quy định tại Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính”.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Trong trường hợp này Giấy chứng nhận QSDĐ do Chủ tịch UBND huyện cấp thì ông và các hộ gia đình liên quan có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Tràng Định để xem xét, giải quyết.

 

 

 

2. Bà Hoàng Thúy Hạnh, trú tại thôn Yên Thành, xã Yên Trạch hỏi: Vợ chồng tôi đang chung sống hợp pháp, nay chồng tôi đòi chia tài sản chung để kinh doanh riêng có được không? nếu vợ chồng tôi ly hôn nhau thì vấn đề nuôi con và chăm sóc con sau ly hôn được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Trong đời sống vợ chồng, có nhiều giao dịch cần đến sự đồng thuận của cả hai vợ chồng như chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, tặng cho…tài sản chung và sự thỏa thuận phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để đáp ứng nhu cầu kinh doanh riêng của mỗi bên. Tuy nhiên để đảm bảo sự thỏa thuận một cách hợp pháp thì phải đảm bảo tuân thủ những quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

Trong trường hợp tình trạng hôn nhân trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài thì một trong các bên được quyền gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án và đây cũng là căn cứ cho ly hôn. Hai bên có thể thỏa thuận về việc nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản và giải quyết các khoản nợ. Nếu không thỏa thuận được thì có thể đề xuất nguyện vọng của mỗi bên tại Tòa án. Tòa án sẽ xem xét tới nguyện vọng của hai bên, sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng để quyết định vấn đề này. Tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau:

Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vợ, chồng thỏa  thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa  thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa  thuận khác”.

 

3. Nhắn tin

Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của bà Nông Thị Dung, trú tại thôn Lậu Cáy, xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng. Nội dung đơn bà Dung tố cáo chồng bà vi phạm Luật Hôn nhân gia đình. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Công an tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 7 tháng 10 năm 2014

 

 

1. Ông Lâm Văn Ba, thôn Quảng Trung I, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có một mảnh đất tại thôn Pò Hé, xã Quảng Lạc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2000, nhưng hiện nay bị 3 gia đình ở cùng thôn lấn chiếm, tranh chấp. Vậy tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được giải quyết?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013 thì: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các quy định trên, với vụ việc của ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi  hòa giải tại UBND xã không thành,  ông có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn giải quyết theo thẩm quyền.

 

 

2. Bà Nông Thị Lai, trú tại thôn Ngọc trí, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Gia đình tôi có thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, nay UBND huyện thu hồi để xây dựng nhà văn hóa thôn nhưng không được đền bù. Như vậy có đúng quy định không và gia đình tôi phải làm gì?

 

Trả lời:

Từ Điều 61 đến Điều 65 Luật Đất đai quy định các căn cứ thu hồi đất bao gồm: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Tại Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định: Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Nếu cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất của gia đình bà không tuân theo trình tự, thủ tục quy định thì bà có quyền làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Bình Gia hoặc làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Bình Gia theo quy định của Luật đất đai và Luật Tố tụng hành chính.

 

3. Nhắn tin

- Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của bà Hoàng Thị Vinh, trú tại thôn Sông Sài, xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, nội dung bà Vinh hỏi về việc con trai bà bị cô hiệu trưởng trường đánh phải đi viện điều trị, bà đã gửi đơn đến công an huyện và Phòng giáo dục huyện Lộc Bình nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh xem xét, giải quyết.

- Đơn của ông Hoàng Văn Luật, trú tại thôn Làng Bên, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng đề nghị tra cứu hồ sơ căn cước công dân của bà Hoàng Thị Chuyền sinh năm 1940, mất năm 1984 ở Bằng Mạc, Chi Lăng. Đơn chúng tôi chuyển đến Phòng Hồ sơ- Công an tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

- Đơn của ông Lâm Văn Luận, trú tại thôn Điểm Trên, xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng thắc mắc về việc thu tiền quỹ hội cha mẹ học sinh và việc sử dụng nguồn quỹ này. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh xem xét, trả lời./.


 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 30 tháng 9 năm 2014

 

 1. Ông Nguyễn Mạnh Hà trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

"Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam.

 

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hành vi sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Về xử phạt vi phạm hành chính:

 

Điều 10 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo về quyền lợi người tiêu dùng quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với việc sản xuất, buôn bán hàng cấm, cụ thể như sau:

 

1. Đối với hành vi buôn bán hàng cấm quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định này, căn cứ vào giá trị của hàng cấm, người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 100 triệu đồng.

 

2. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định tại khoản 1 Điều này đối với hành vi sản xuất hàng cấm.

 

3. Các mức phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng xử phạt hành chính đối với:

 

a) Chủ phương tiện vận tải hoặc người điều khiển phương tiện vận tải có hành vi vận chuyển hàng cấm;

 

b) Chủ kho tàng, bến bãi, nhà ở có hành vi tàng trữ hàng cấm;

 

c) Người có hành vi giao nhận hàng cấm.

 

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

 

a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

b) Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc và vật khác được sử dụng để sản xuất hàng cấm đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;

 

c) Tịch thu phương tiện vận tải được sử dụng để vận chuyển hàng cấm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp hàng cấm có giá trị từ 70.000.000 đồng trở lên hoặc vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

d) Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

đ) Đình chỉ hoạt động một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất vi phạm từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc tiêu hủy tang vật là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, môi trường, đồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách và sức khỏe trẻ em và văn hóa phẩm độc hại đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

c) Buộc thu hồi tiêu hủy hàng cấm đang lưu thông trên thị trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

 

Về xử lý hình sự:

 

Tại Điều 155 Bộ Luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, cụ thể như sau:

 

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

 

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

 

đ) Hàng phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn;

 

e) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn  hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

 

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

 2: Chị Hoàng Thanh Hương trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Mức lương tối thiểu vùng được áp dụng với những đối tượng nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Nghị định số 182/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động thì mức lương tối thiểu vùng được áp dụng đối với những đối tượng sau:

 

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động trả lương, bao gồm:

 

- Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).

 

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

- Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

 

Kể từ ngày 01/01/2014, mức lương tối thiểu vùng được áp dụng như sau:

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng I áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.700.000 đồng/tháng

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng II áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.400.000 đồng/tháng

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng III áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.100.000 đồng/tháng


TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI Thứ ba, ngày 23 tháng 9 năm 2014

 

 

 1. Ông Phan Tuấn Anh trú thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị mất hết giấy khai sinh cả bản sao và bản chính, tôi có thể xin đăng ký lại được không ?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, thì việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi đã được đăng ký, nhưng sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thì được đăng ký lại. Thẩm quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi trước đây thực hiện việc đăng ký lại.

 

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và Khoản 13 Nghị định 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực, Thủ lục đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi cụ thể như sau:

 

1. Người có yêu cầu đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây (nếu có); trong trường hợp không có bản sao giấy tờ hộ tịch, thì đương sự phải tự cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng sổ hộ tịch không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan.

 

2. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch theo từng loại việc và bản chính Giấy khai sinh, Giấy chứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính giấy tờ hộ tịch theo từng loại việc. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện hộ tịch đăng ký lại (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ.

 

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 03 ngày.

 

3. Khi đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi, nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi được ghi theo nội dung của bản sao giấy tờ hộ tịch đó.

 

Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên. Trong trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện tại.

 

Phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo thời điểm đăng ký lại việc sinh. Riêng phần ghi về quốc tịch của cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ đã được thôi quốc tịch Việt Nam, đã nhập quốc tịch nước ngoài, thì quốc tịch của cha, mẹ vẫn phải ghi quốc tịch Việt Nam; Quốc tịch hiện tại của cha, mẹ được ghi chú vào sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.

 

Trường hợp của ông không còn cả bản chính, bản sao hợp lệ giấy khai sinh trước đây, cần đối chiếu các quy định nêu trên để đăng ký lại việc sinh của mình. Ông có thể đăng ký lại việc sinh tại UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh lần đầu hoặc đăng ký lại việc sinh tại UBND cấp xã nơi cư trú hiện nay.

 

 

 

 

 2. Ông Lê Hữu Khôi trú phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi bị mất hộ chiếu của mình nhưng tôi chưa khai báo với cơ quan có thẩm quyền. Vậy nếu tôi không khai báo thì tôi có bị xử phạt gì không?

 

 

 

 

 Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có nêu rõ:

 

"2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

 

a) Không thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền về việc mất, hư hỏng hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực Việt Nam, thẻ tạm trú, thẻ thường trú;

 

b) Tẩy, xóa, sửa chữa hoặc làm sai lệch hình thức, nội dung ghi trong hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực, thẻ tạm trú và thẻ thường trú;

 

c) Khai không đúng sự thật để được cấp hộ chiếu, giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực Việt Nam, thẻ tạm trú, thẻ thường trú hoặc giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam;

 

d) Người nước ngoài đi vào khu vực cấm, khu vực nhà nước quy định cần có giấy phép mà không có giấy phép hoặc đi lại quá phạm vi, thời hạn được phép;

 

đ) Không xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu hoặc giấy tờ có liên quan đến xuất nhập cảnh khi nhà chức trách Việt Nam yêu cầu; không chấp hành các yêu cầu khác của nhà chức trách Việt Nam về kiểm tra người, hành lý;

 

e) Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định hoặc sử dụng chứng nhận tạm trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 15 ngày trở xuống mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

 

g) Cho người nước ngoài nghỉ qua đêm nhưng không khai báo tạm trú, không hướng dẫn người nước ngoài khai báo tạm trú theo quy định hoặc không thực hiện đúng các quy định khác của cơ quan có thẩm quyền."

 

Như vậy, nếu ông không khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc mất hộ chiếu thì sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

 

 

 

 

 

3. Chị Nguyễn Thị Quyên trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: Tiền lương đối với viên chức đang thực hiện chế độ tập sự được quy định như thế nào?

 

 

 

 

 

Trả lời :

 

Điều 22 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức quy định như sau :

 

1. Trong thời gian tập sự, người tập sự được hưởng 85% mức lương của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng. Trường hợp người tập sự có trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ và chuyên ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm tuyển dụng thì người tập sự có trình độ thạc sĩ được hưởng 85% mức lương bậc 2, người tập sự có trình độ tiến sĩ được hưởng 85% mức lương bậc 3 của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng. Các khoản phụ cấp được hưởng theo quy định của pháp luật.

 

2. Người tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng trong các trường hợp sau:

 

a) Làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

 

b) Làm việc trong các ngành, nghề độc hại, nguy hiểm;

 

c) Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ.

 

3. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian xét nâng bậc lương.

 

4. Trong thời gian hướng dẫn tập sự, người hướng dẫn tập sự được hưởng hệ số phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 mức lương tối thiểu hiện hành.

 

5. Người hướng dẫn tập sự và người tập sự còn được hưởng các chế độ tiền thưởng và phúc lợi khác (nếu có) theo quy định của Nhà nước và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Cường trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hồ sơ đề nghị cấp và thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng theo quy định hiện nay như thế nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định 64/2012/NĐ-CP ngày 04/9/2012 về cấp Giấy phép xây dựng, Hồ sơ đề nghị cấp và thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng được quy định tại Điều 8 và Điều 14 của Nghị định, cụ thể như sau :

Điều 8. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Chủ đầu tư nộp trực tiếp 01 bộ hồ sơ cho cơ quan cấp giấy phép xây dựng. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng gồm:

1. Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng (theo mẫu đối với từng trường hợp, từng loại công trình).

2. Bản sao có chứng thực một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; giấy tờ về quyền sở hữu công trình, nhà ở, đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo; giấy ủy quyền, đối với trường hợp được chủ sở hữu công trình ủy quyền thực hiện sửa chữa, cải tạo; quyết định cho phép đầu tư xây dựng của cấp có thẩm quyền đối với công trình ngầm đô thị; quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

3. Hai bộ bản vẽ thiết kế do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực thực hiện và đã được chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt theo quy định. Mỗi bộ gồm:

a) Bản vẽ mặt bằng vị trí công trình trên lô đất, mặt bằng ranh giới lô đất, bản vẽ bình đồ (đối với công trình theo tuyến), sơ đồ đấu nối với hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào của công trình (giao thông, thoát nước);

b) Bản vẽ các mặt bằng, các mặt đứng, mặt cắt chủ yếu của công trình;

c) Bản vẽ mặt bằng móng, mặt cắt móng, các bản vẽ kết cấu chịu lực chính (móng, khung, tường, mái chịu lực);

d) Bản vẽ hệ thống PCCC đã được thẩm duyệt đối với công trình thuộc danh mục yêu cầu phải thẩm duyệt phương án phòng chống cháy, nổ theo quy định của pháp luật về PCCC;

đ) Đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo thì phải có các bản vẽ về vị trí, hạng mục cần cải tạo, nếu có ảnh hưởng đến kết cấu công trình thì phải có báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá chất lượng kết cấu cũ liên quan đến các hạng mục cải tạo và các biện pháp gia cố xác định đủ điều kiện để sửa chữa, cải tạo, kèm theo ảnh chụp hiện trạng công trình xin phép cải tạo và công trình lân cận.

4. Đối với trường hợp lắp đặt thiết bị hoặc kết cấu khác vào công trình đã xây dựng, nhưng không thuộc sở hữu của chủ đầu tư thì phải có bản sao có chứng thực Hợp đồng với chủ sở hữu công trình.

5. Quyết định phê duyệt dự án kèm theo văn bản chấp thuận đầu tư của cơ quan có thẩm quyền, ý kiến bằng văn bản về thiết kế cơ sở (nếu có) của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định.

Điều 14. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Sở Xây dựng cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng cấp đặc biệt, cấp I, cấp II; công trình tôn giáo; công trình di tích lịch sử - văn hoá; công trình tượng đài, tranh hoành tráng thuộc địa giới hành chính do mình quản lý; những công trình trên các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị; công trình thuộc dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; công trình thuộc dự án và các công trình khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép xây dựng các công trình còn lại và nhà ở riêng lẻ ở đô thị thuộc địa giới hành chính do mình quản lý, trừ các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này.

3. Ủy ban nhân dân xã cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt thuộc địa giới hành chính do mình quản lý.

 

Câu 2. Bà Vy Thị Phấn trú tại xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi:   Người không phải hòa giải viên có được tham gia hòa giải không?

 

Trả lời:

Theo Điều 19 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013, trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng , chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải. Người được mời tham gia hòa giải phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở. Cơ quan, tổ chức có người được mời tham gia hòa giải có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia hòa giải.

 Như vậy, người không phải hòa giải viên có thể được tham gia hòa giải. Trong quá trình hòa giải, người đó có trách nhiệm tôn trọng các nguyên tắc hòa giải pháp luật quy định.

 

Câu 3. Ông Lê Hoàng Tuấn trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi : Tôi đang thuê quyền sử dụng đất của Nhà nước trong thời hạn 30 năm, trả tiền hàng năm, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy trong thời gian thuê đất, tôi có quyền được đem thế chấp quyền sử dụng đất hay không ?

 

Trả lời:

Khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;

b) Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

c) Để thừa kế, tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người nhận thừa kế, người được tặng cho tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

d) Cho thuê tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê theo quy định của pháp luật về dân sự;

đ) Thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật;

e) Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh; người nhận góp vốn bằng tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định.

Theo quy định nêu trên, khi được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm, ông chỉ được quyền thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê  mà  không được quyền thế chấp quyền sử dụng đất thuê đó.

 


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 9 tháng 9 năm 2014

 
 

Câu 1. Ông Lê Văn Hùng trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi : Một người muốn nhận người khác làm con nuôi thì cần phải có điều kiện gì và thủ tục nhận nuôi con nuôi như thế nào?

 

Trả lời:

 

Về điều kiện để nhận nuôi con nuôi: Được quy định tại Điều 14, Luật Nuôi con nuôi 2010, cụ thể như sau:

 

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

 

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

 

d) Có tư cách đạo đức tốt.

 

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

 

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

 

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

 

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

 

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

 

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

 

Thủ tục nhận nuôi con nuôi :

 

Hồ sơ nhận nuôi con nuôi:

 

Theo quy định tại điều 17, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

 

1. Đơn xin nhận con nuôi;

 

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

 

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

 

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

 

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Nuôi con nuôi:

 

1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

 

a) Giấy khai sinh;

 

b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

 

c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

 

d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

 

đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

 

Điều 19 Luật Nuôi con nuôi quy định việc nộp hồ sơ, thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi :

1. Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.

 

2. Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Quốc Khánh trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi: Khi xây dựng nhà ở gây thiệt hại đến công trình liền kề thì sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 15 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị quy định việc xử lý công trình xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư, cụ thể như sau:

 

1. Trường hợp công trình xây dựng gây lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ làm sụp đổ các công trình lân cận thì phải ngừng thi công xây dựng để thực hiện bồi thường thiệt hại:

 

a) Việc bồi thường thiệt hại do chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận; Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì bên thiệt hại có quyền khởi kiện đòi bồi thường tại tòa án;

 

b) Công trình chỉ được phép tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại.

 

2. Trường hợp công trình xây dựng gây ô nhiễm môi trường khu vực lân cận, để vật tư, vật liệu và thiết bị thi công gây cản trở giao thông công cộng thì phải ngừng thi công xây dựng; chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng phải có biện pháp khắc phục hậu quả; việc thi công xây dựng chỉ được phép tiếp tục khi chủ đầu tư, nhà thầu thi công đã hoàn thành việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại và bảo đảm không làm ảnh hưởng đến môi trường khu vực lân cận.

 

3. Trường hợp chủ đầu tư, nhà thầu thi công không thực hiện các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì bị đình chỉ thi công xây dựng, đồng thời, áp dụng biện pháp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định này cho đến khi chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng hoàn thành việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại.

 

Thêm vào đó, tại Điều 627 - Bộ luật Dân sự 2005 quy định Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, cụ thể như sau:

 

Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 02 tháng 9 năm 2014

 

Câu 1. Bà Lương Thị Mai  trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi : Mức án phí khi ly hôn tại tòa án hiện nay quy định như thế nào?

Trả lời :

Theo quy định tại Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội  và Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao, thì án phí dân sự sơ thẩm cho một vụ ly hôn hiện nay áp dụng theo mức Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng.

Trong trường hợp có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP, cụ thể như sau :

 

1. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh (Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch), còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

2. Trường hợp vợ chồng yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà Tòa án chấp nhận yêu cầu của vợ, chồng, thì người có nghĩa vụ về tài sản phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ phải chịu; nếu họ không thỏa thuận chia được với nhau mà gộp vào tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải quyết thì mỗi người phải chịu án phí dân sự tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

3. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ về tài sản đối với người khác và người này có yêu cầu độc lập, yêu cầu vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập đó thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau:

a) Người có yêu cầu độc lập không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng;

b) Vợ chồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ có nghĩa vụ đối với người có yêu cầu độc lập;

c) Vợ chồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị phần tài sản mà họ có nghĩa vụ đối với người có yêu cầu độc lập.

Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch quy định như sau:

1.  Giá trị tài sản có tranh chấp từ 4.000.000 đồng trở xuống: Mức án phí là 200.000 đồng;

2.  Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng: Mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp;

3. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng: Mức án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng;

4. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng: Mức án phí là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng;

5. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng: Mức án phí là 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

6. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 4.000.000.000 đồng: Mức án phí là 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

Câu 2. Bà Hoàng Thị Nguyệt trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi : Để mở một cơ sở bán lẻ thuốc chữa bệnh, chủ cơ sở cần phải có những điều kiện chuyên môn như thế nào?

Trả lời :

Điều kiện chuyên môn của chủ cơ sở bán lẻ thuốc, người bán lẻ thuốc được quy định tại Điều 25 Luật Dược 2005:

1. Điều kiện chuyên môn của chủ cơ sở bán lẻ thuốc được quy định như sau:

a) Nhà thuốc phải do dược sĩ có trình độ đại học đứng tên chủ cơ sở;

b) Quầy thuốc phải do dược sĩ có trình độ từ trung học trở lên đứng tên chủ cơ sở;

c) Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp phải do người có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên đứng tên chủ cơ sở;

d) Tủ thuốc của trạm y tế phải do người có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên đứng tên chủ cơ sở; trường hợp chưa có người có chuyên môn từ dược tá trở lên thì phải có người có trình độ chuyên môn từ y sỹ trở lên đứng tên;

đ) Cơ sở bán lẻ thuốc chuyên bán thuốc đông y, thuốc từ dược liệu phải do dược sĩ có trình độ trung học trở lên hoặc người có văn bằng, chứng chỉ về y học cổ truyền hoặc dược học cổ truyền đứng tên chủ cơ sở.

2. Người bán lẻ thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều này phải có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên; tại điểm d khoản 1 Điều này phải có chuyên môn về y, dược.

Như vậy, khi mở cơ sở bán lẻ thuốc, dù ở bất cứ hình thức nào: nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý bán thuốc,…chủ cơ sở bán lẻ thuốc phải có trình độ chuyên môn theo quy định. Ngoài ra kinh doanh thuốc là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc (sau đây gọi chung là cơ sở kinh doanh thuốc) phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc. Cơ sở kinh doanh thuốc được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự có trình độ chuyên môn cần thiết cho từng hình thức kinh doanh thuốc;

- Người quản lý chuyên môn về dược đã được cấp Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với hình thức kinh doanh.

 

Câu 3. Bà Lê Thị Tuyến trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi : Tôi cho người khác vay tiền bằng giấy viết tay, đã quá hạn mà người đó không chịu trả, tôi có khởi kiện tại Tòa án được không ?

Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự : Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

Điều 471 quy định : Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy hợp đồng vay tài sản không thuộc trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép.

Trong trường hợp này người vay không trả nợ theo đúng thời hạn đã thỏa thuận thì bà có quyền yêu cầu bên vay thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ này. Nếu bên vay cố tình không thực hiện nghĩa vụ thì bà có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Đơn khởi kiện gửi đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú. Theo điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự, đơn khởi kiện phải đầy đủ các nội dung:

- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

- Tên, địa chỉ của người bị kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

Kèm theo đơn khởi kiện bà phải gửi các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26 tháng 8 năm 2014

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Tiến trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi : Tòa án huyện đã có bản án xử buộc ông Minh trả lại số tiền đã vay của tôi là 150 triệu đồng. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên ông Minh vẫn chưa trả cho tôi số tiền trên, tôi phải làm thế nào để có thể lấy lại số tiền trên? 

 

Trả lời :

Trong trường hợp của ông, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết.

Các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thi hành án dân sự được quy định tại Luật Thi hành án dân sự, cụ thể như sau :

1. Thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

2. Thẩm quyền thi hành án: Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

- Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

- Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

- Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.

 

3. Thủ tục yêu cầu thi hành án:

- Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức: Nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc Gửi đơn qua bưu điện.

* Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh.

- Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn.

- Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.

- Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

- Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Hết thời hạn này người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

 

Câu 2. Anh Phạm Văn Định trú tại xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng hỏi : Quy định của pháp luật hiện nay về việc tham gia lực lượng dân quân tự vệ như thế nào?

Theo Luật dân quân tự vệ 2009 thì:

- Công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, công dân nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; nếu tình nguyện tham gia dân quân tự vệ thì có thể đến 50 tuổi đối với nam, đến 45 tuổi đối với nữ (Điều 9).

- Thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nồng cốt là 04 năm.

Điều 11. Tiêu chuẩn và tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt:

1. Công dân Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây được tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt:

a) Lý lịch rõ ràng;

b) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

c) Đủ sức khỏe thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

2. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có khả năng hoạt động trên biển được tuyển chọn vào dân quân tự vệ biển.

3. Việc tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt được quy định như sau:

a) Bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng;

b) Hằng năm, Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) chỉ đạo và hướng dẫn Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở hoặc đơn vị tự vệ nơi không có Ban chỉ huy quân sự lập kế hoạch và thực hiện tuyển chọn công dân đủ tiêu chuẩn vào dân quân tự vệ nòng cốt phù hợp với tình hình địa bàn, dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa phương, cơ sở.

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định danh sách dân quân tự vệ nòng cốt.

4. Quân nhân dự bị chưa sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên được biên chế vào đơn vị dân quân tự vệ.

Điều 12. Tạm hoãn, miễn, thôi trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong thời bình

1. Tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi;

b) Không đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;

c) Có chồng hoặc vợ là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong Quân đội nhân dân hoặc Công an nhân dân;

d) Lao động chính duy nhất trong hộ gia đình nghèo;

đ) Người đang học ở trường phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng, cao đẳng nghề, đại học và học viện.

2. Miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; vợ hoặc chồng, con của thương binh hạng một hoặc bệnh binh hạng một; vợ hoặc chồng, con của người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin không còn khả năng lao động;

b) Quân nhân dự bị đã được xếp vào đơn vị dự bị động viên;

c) Người trực tiếp nuôi dưỡng người bị mất sức lao động từ 81% trở lên.

3. Trường hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này, nếu tình nguyện thì được xét tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt.

4. Dân quân tự vệ nòng cốt được thôi thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn trong các trường hợp sau đây:

a) Sức khỏe bị suy giảm không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;

b) Hoàn cảnh gia đình khó khăn đột xuất không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định tạm hoãn, miễn và thôi trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19 tháng 8 năm 2014


 

 

Câu 1. Ông Nguyễn Đức Hiển trú tại phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn hỏi : Cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để điều tra thì việc chi trả tiền lương trong thời gian này được thực hiện như thế nào?

 

Trả lời :

Khoản 2 Điều 81 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ”.

Để hướng dẫn cho quy định này, điều 24 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định:

1. Trong thời gian tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật thì công chức được hưởng 50% của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).

2. Trường hợp công chức không bị xử lý kỷ luật hoặc được kết luận là oan, sai thì được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

3. Trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị Tòa án tuyên là có tội thì không được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

 

Câu 2. Bà Hoàng Minh Nguyệt trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi : Tôi được bạn giới thiệu tham gia vào công ty bán hàng đa cấp về thực phẩm chức năng. Phía công ty yêu cầu tôi mua một số sản phẩm với giá trị khoảng 10 triệu đồng thì mới được tham gia. Xin hỏi việc làm của công ty đó có đúng không?

Theo Điều 5 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ quy định về những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp, cụ thể như sau :

1. Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình;

d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;

đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác;

h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo;

i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này;

k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó;

l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào;

m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

n) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp;

r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;

s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.

2. Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.

Theo quy định trên, công ty mà bà tham gia đã yêu cầu bà bỏ ra số tiền khoảng 10 triệu để mua hàng như vậy là trái với quy định của Pháp luật.

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12 tháng 8 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Phương trú tại xã Mai Pha, TP Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những trường hợp nào bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

 

Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 quy định Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

 

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

 

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

 

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

 

Tại khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định : 

 

“4. Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

 

a) Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra;

 

b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản này;

 

d) Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đã thu hồi theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền;

 

đ) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.”

 

Câu 2. Ông Vi Văn Tâm, trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Hồ sơ dự tuyển viên chức cần có các giấy tờ gì?

 

Trả lời:

 

Theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức, tại Điều 2 quy định về Hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức bao gồm các giấy tờ sau:

 

1. Đơn đăng ký dự tuyển viên chức theo mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư này;

 

2. Bản Sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 06 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển;

 

3. Bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Trường hợp có văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được công chứng dịch thuật sang tiếng Việt;

 

4. Giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 13/2007/TT-BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe;

 

5. Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức (nếu có) được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực.

 

Ngày 20/6/2014 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Theo nội dung Chỉ thị thì:

 

- Các cá nhân, tổ chức khi trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính thì các giấy tờ trong thành phần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu;

 

- Khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không có chứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao có chứng thực.

 

Câu 3. Nhắn tin: Trong tuần qua Đài chúng tôi đã nhận được đơn thư của các ông (bà) có tên sau:

1. Đơn của ông Hoàng Văn Tiến, trú tại thôn An Dinh II, xã Tân Liên, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Công an huyện Cao Lộc để xem xét, giải quyết.

 

2. Đơn của bà Bà Lưu Kim Oanh, trú tại số nhà 74 Khu 2 thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định thắc mắc về việc chi trả tiền cấp dưỡng cho con sau ly hôn. Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định xem xét, giải quyết.

 

3. Đơn của ông Nông Văn Mỵ, trú tại thôn Kéo Ái, xã Trấn Ninh, huyện Văn Quan đề nghị xem xét giải quyết về chế độ cho người tham gia kháng chiến chống Mỹ. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Ban Chỉ huy quân sự huyện Văn Quan xem xét, trả lời.

 

4. Đơn của bà Lộc Thị Tầu, trú tại Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình thắc mắc về việc hỗ trợ cho hộ nghèo, Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Tú Mịch,  huyện Lộc Bình xem xét, trả lời.

 

5. Chúng tôi đã chuyển Đơn của bà La Thị Pẹng trú tại xóm Chang Khuổi, xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc đến UBND huyện Cao Lộc xem xét, giải quyết.

 

6. Chúng tôi đã nhận được Đơn của ông Triệu Văn Lan, trú tại thôn Trung, xã Yên Phúc, huyện Văn Quan về chế độ của người tham gia kháng chiến; đề nghị ông liên hệ với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn để được hướng dẫn.

 

7. Đơn kiến nghị của các hộ dân sinh sống tại Tổ 2, khối 1, Đường Bắc Sơn, phường Vĩnh Trại và đơn của ông Vũ Công Kiên, trú tại số nhà 10, ngõ 6, khối 2, đường Nguyễn Du, phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn. Đơn cũng đã đồng thời được gửi đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5 tháng 8 năm 2014

 

Câu 1. Ông Lê Văn Chính trú tại phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn hỏi: Gia đình tôi dự định chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng trên đất.Vậy thu nhập tính thuế từ việc chuyển nhượng bất động sản trong trường hợp này được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Theo Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, ngoại trừ một số trường hợp được miễn thuế quy định tại Điều 4 thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (BĐS) là loại thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ Điều 19, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng BĐS là quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng trên đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai được quy định như sau:

1. Thu nhập tính thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ (-) giá vốn và các chi phí hợp lý liên quan.

2. Giá chuyển nhượng được xác định cụ thể như sau:

 a) Giá chuyển nhượng là giá thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng;

b) Trường hợp hợp đồng không ghi giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng được xác định như sau: Phần giá trị đất chuyển nhượng được xác định căn cứ theo bảng giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng; phần giá trị nhà, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc gắn liền với đất được xác định căn cứ theo giá tính lệ phí trước bạ nhà do UBND cấp tỉnh quy định. Trường hợp UBND cấp tỉnh không có quy định giá tính lệ phí trước bạ nhà thì căn cứ vào quy định của Bộ Xây dựng về phân loại nhà, về tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản, về giá trị còn lại thực tế của công trình trên đất. Đối với công trình xây dựng hình thành trong tương lai thì được xác định căn cứ vào tỷ lệ góp vốn trên tổng giá trị hợp đồng nhân (x) với giá tính lệ phí trước bạ công trình xây dựng do UBND cấp tỉnh quy định. Trường hợp UBND cấp tỉnh chưa có quy định về đơn giá thì áp dụng theo suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố, đang áp dụng tại thời điểm chuyển nhượng.

3. Giá vốn được xác định căn cứ vào giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm mua. Đối với các trường hợp BĐS không có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng thì căn cứ vào hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng BĐS.

4. Chi phí hợp lý liên quan là các khoản chi phí thực tế phát sinh và có chứng từ, hóa đơn hợp pháp, bao gồm:

a) Các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến cấp quyền sử dụng đất;

b) Chi phí cải tạo đất, san lấp mặt bằng;

c) Chi phí sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng trên đất;

d) Các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng.

Thuế suất:

Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được quy định tại Điều 22 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, cụ thể như sau:

1. Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là 25% trên thu nhập tính thuế.

2. Trường hợp người nộp thuế không xác định hoặc không có hồ sơ để xác định giá vốn và chứng từ hợp pháp xác định các chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng.

 

Câu 2. Ông Hoàng Văn Duy trú tại xã Xuân Mai, huyện Văn Quan hỏi: Gia đình tôi muốn chuyển 4.000 m2 đất hiện nay đang trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản có được không, thủ tục thực hiện như thế nào?

Về việc chuyển mục đích sử dụng đất, Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau:

1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng.

Như vậy, nếu thửa đất ông đang sử dụng đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì ông đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất nuôi trồng thủy sản.

Về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong trường hợp này là UBND cấp huyện theo quy định tại khoản 2, Điều 59 Luật Đất đai 2013:

- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

+ Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

+ Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

Về trình tự, thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Điều 69 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, cụ thể như sau:

1. Người sử dụng đất nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường.

2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.

Đối với trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

3. Người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

 
 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 7 năm 2014

 

 

Câu 1. Bà Hoàng Thị Linh trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi là người được thi hành án dân sự, nhưng ngoài phần của tôi, người phải thi hành án còn phải thi hành đối với nhiều người khác, vậy thứ tự thanh toán tiền thi hành án được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự, thứ tự thanh toán tiền thi hành án cụ thể như sau:

1. Số tiền thi hành án, sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này, được thanh toán theo thứ tự sau đây:

a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần;

b) Án phí;

c) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.

2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:

a) Việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;

b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán.

Số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.

3. Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án.

4. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.

5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Câu 2. Bà Hoàng Thị Bảy trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi : Người có hành vi lấn chiếm lòng lề đường để kinh doanh, buôn bán thì bị xử phạt như thế nào?      

Điều 12 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ qui định việc Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ, cụ thể như sau:

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm e Khoản 4 Điều này.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an toàn công trình và an toàn giao thông;

b) Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông;

c) Chiếm dụng dải phân cách giữa của đường đôi làm nơi: Để xe; trông, giữ xe; bày, bán hàng hóa; để vật liệu xây dựng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm d Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Dựng lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

c) Họp chợ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, bày, bán hàng hóa, sửa chữa xe, rửa xe, đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo, làm mái che trên lòng đường đô thị, hè phố hoặc thực hiện các hoạt động, dịch vụ khác trái phép trên lòng đường đô thị, hè phố gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều này;

d) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 05 m2 làm nơi trông, giữ xe.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều 20 Nghị định này;

b) Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ;

c) Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

d) Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

đ) Dựng lều quán, công trình tạm thời khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ, gầm cầu vượt;

e) Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

g) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 05 m2 đến dưới 10 m2 làm nơi trông, giữ xe.

5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường trong đô thị;

b) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10 m2 đến dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

b) Dựng biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ không được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

c) Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

7. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức xây dựng công trình kiên cố khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

8. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6, Khoản 7 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn vật liệu, chất phế thải, hàng hóa và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

 

 

Câu 1. Chị Nguyễn Thu Thảo trú tại thị trấn Đồng Đăng huyện Cao Lộc hỏi: Nhà hàng sử dụng thực phẩm để chế biến đã quá hạn sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội ban hành ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010, tại khoản 2 Điều 5 nghiêm cấm những hành vi: Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.

 

Tại Khoản 2, 5 Điều 5 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, những hành vi sử dụng thực phẩm để chế biến đã quá hạn hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ sẽ bị xử phạt như sau:

 

- Phạt tiền bằng 100% đến 120% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi sử dụng nguyên liệu thực phẩm, nguyên liệu làm phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng đối với nguyên liệu thực phẩm, nguyên liệu làm phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm thuộc diện bắt buộc phải ghi thời hạn sử dụng để sản xuất, chế biến thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm nhưng số tiền phạt không vượt quá 100.000.000 đồng.

 

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không có giấy chứng nhận xuất xứ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định để sản xuất, chế biến thực phẩm.

 

Mức phạt tiền trên là mức phạt đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

 

Ngoài ra còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 02 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 2 và từ 02 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 5 Điều này;

 

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

 

Câu 2. Ông Lý Văn Bằng trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Quy định của pháp luật hiện nay về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015, cụ thể như sau:

 

- Ở nông thôn:

 

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống.

 

+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.

 

- Ở thành thị:

 

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.

 

+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.

 

Câu 3. Ông Lê Văn Tú trú tại thị trấn Hữu lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Người điều khiển ô tô, xe máy tham gia giao thông có uống bia, rượu thì bị xử phạt như thế nào?

 

Theo quy định tại điểm b Khoản 5, điểm b Khoản 7, điểm a Khoản 8 Điều 5; điểm b Khoản 5, điểm e Khoản 6 Điều 6 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể xử phạt người có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở mà điều khiển ô tô, xe máy như sau:

 

1. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô:

 

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7, Điểm a Khoản 8 Điều này;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng; trường hợp vi phạm mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

 

- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

2. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy:

 

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng; trường hợp vi phạm mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

 

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

 

Câu 1. Ông Hoàng Tuấn Khanh trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: thời hạn thụ lý, chuẩn bị xét xử vụ án dân sự; Trường hợp nào coi là vụ án có tính chất phức tạp?

 

Trả lời:

 

 Về thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự như sau: 

 

1. Thủ tục nhận đơn khởi kiện (quy định tại Điều 167 Bộ luật Tố tụng dân sự):

 

Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

 

- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

 

- Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

 

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

 

2.  Thời hạn chuẩn bị xét xử (quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự):

 

2.1 - Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

 

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; (Điều 25- Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 27- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án).

 

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. (Điều 29- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 31- Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án).

 

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b nêu trên.

 

2.2 - Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTDS, tuỳ từng trường hợp, Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

 

+ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

 

+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

 

+ Đình chỉ giải quyết vụ án;

 

+ Đưa vụ án ra xét xử.

 

2.3 - Nếu Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

 

3. Vụ án có tính chất phức tạp theo quy định nêu trên: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự:

 

 “Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài,… Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Đức Thịnh trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Trường hợp tự ý thay đổi kết cấu xe sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 55 Luật giao thông đường bộ năm 2008 về bảo đảm quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ đã quy định rõ:

 

1. Việc sản xuất, lắp ráp, cải tạo, sửa chữa, bảo dưỡng và nhập khẩu xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phải tuân theo quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Không được cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

 

2. Chủ phương tiện không được tự thay đổi kết cấu, tổng thành, hệ thống của xe không đúng với thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

 

Điều 30 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (Tại điểm a khoản 1; điểm a, điểm b khoản 2; điểm c khoản 3; điểm a, điểm b khoản 7; điểm b khoản 8; điểm a, điểm b khoản 9 quy định cụ thể về mức phạt tiền cũng như các hình thức xử phạt bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả đối với những trường hợp tự ý thay đổi kết cấu xe khi không được phép của cơ quan có thẩm quyền) cụ thể như sau:

 

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe;

 

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

 

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe;

 

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe;

 

7. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Tự ý thay đổi tổng thành khung; tổng thành máy; hệ thống phanh; hệ thống truyền động; hệ thống chuyển động hoặc tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tự ý thay đổi tính năng sử dụng của xe;

 

b) Cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

 

8. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

 

b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này bị tịch thu phương tiện.

 

9. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

 

a) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản 1; Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều này buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe;

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 7 năm 2014


 

Câu 1. Ông Hoàng Đức Thanh trú tại xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Những trường hợp nào không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014.

Ngày 15/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tại Điều 19 Nghị định này quy định

7 trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ thể như sau :

1. Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai.

2. Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

3. Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

4. Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.

5. Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

6. Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

 

Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp

Điều 44 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014  quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân. Theo đó, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối của mỗi hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp được áp dụng đối với các hình thức nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

1. Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối:

a) Không quá 30 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;

b) Không quá 20 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại.

2. Đất trồng cây lâu năm:

a) Không quá 100 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

3. Đất rừng sản xuất là rừng trồng:

a) Không quá 150 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì tổng diện tích được nhận chuyển quyền trong hạn mức đối với mỗi loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) bằng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất cao nhất.

5. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp bao gồm nhiều loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) thì hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đó được xác định theo từng loại đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này.

6. Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2007 thì phần diện tích đất vượt hạn mức được tiếp tục sử dụng như đối với trường hợp đất nông nghiệp trong hạn mức nhận chuyển quyền.

7. Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng đất và chỉ phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước đối với phần diện tích vượt hạn mức nhận chuyển quyền.

Câu 2. Bà Nguyễn Thị Hồng trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi: Người lao động đang nghỉ chế độ thai sản có phải đóng bảo hiểm thất nghiệp không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ  quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp, đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể như sau:

Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc sau đây với người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng

- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn

- Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng

- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.

Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội; người lao động tạm hoãn thực hiện giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật thì thời gian này người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy, người lao động đang trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 7 năm 2014

 


 Câu 1. Ông Vũ Văn Đông trú tại xã Mai Pha, TP Lạng Sơn hỏi : Trường hợp nào thì được coi là tai nạn lao động, người bị tai nạn lao động được hưởng chế độ như thế nào ?

 

Trả lời :

Theo quy định tại Điều 142 Bộ Luật Lao động : Tai nạn lao động (TNLĐ) là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động (NLĐ), xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Tại Điều 39 Luật BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau :

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này. 

 

Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Điều 145 Bộ luật Lao động)

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

 

Giám định sau khi chữa trị

Sau khi điều trị, tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động do TNLĐ, NLĐ được giám định và xếp hạng thương tật để hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng do quỹ BHXH trả.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 Luật BHXH thì NLĐ bị TNLĐ được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau: Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định; hoặc sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định.

 

Trợ cấp TNLĐ do quỹ BHXH chi trả

Quy định về trợ cấp một lần, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp phục vụ, trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thời điểm nhận trợ cấp áp dụng theo các Điều 42, 43, 44, 46, 47 Luật BHXH:

- Trợ cấp 1 lần: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp 1 lần. Mức trợ cấp 1 lần như sau: Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung. Ngoài mức trợ cấp này, NLĐ còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ 1 năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp hàng tháng: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp hằng tháng như sau: Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung.

Ngoài mức trợ cấp này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ 1năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp phục vụ: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng trợ cấp hằng tháng nêu trên, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung.

- Thời  điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng NLĐ điều trị xong, ra viện. Trường hợp thương tật tái phát, NLĐ được đi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa.

- Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung. 

 

Câu 2: Chị Lê Thị Hòa trú tại xã Hoàng Đồng, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi hiện đang làm cho một công ty, đã đóng bảo hiểm xã hội được 3 năm. Nếu tôi sinh con ngoài giá thú thì có được hưởng chế độ thai sản theo quy định của bảo hiểm xã hội không:

 

Trả lời:

Theo Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;

d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.

2. Người lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Như vậy, pháp luật về bảo hiểm xã hội không có quy định nào hạn chế quyền hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con mà không có đăng ký kết hôn, vì vậy chị sẽ vẫn được hưởng chế độ thai sản như những phụ nữ khác nếu chị đáp ứng đủ 2 điều kiện về đối tượng được hưởng chế độ thai sản và thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng chế độ thai sản theo quy định nêu trên.

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 24 tháng 6 năm 2014

 

 

Câu 1: Bà Hoàng Thị Thu trú tại xã Hoa Thám, huyện Bình Gia hỏi:

 

Một người có hành vi trái pháp luật, gây thương tích nặng cho người khác sẽ bị mức phạt thế nào và phải bồi thường bao nhiêu?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

 

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

 

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

 

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

 

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

 

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

 

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

 

e) Có tổ chức;

 

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

 

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

 

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

 

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

 

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

 

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

 

Như vậy căn cứ vào tỷ lệ thương tích đã gây ra cho người bị hại thuộc vào trường hợp nào thì Tòa án sẽ quyết định hình phạt theo quy định.

 

Bên cạnh việc có thể phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự thì người có hành vi gay thương tích cho người khác còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do sức khỏe bị xâm phạm. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bao gồm:

 

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

 

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

 

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

 

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

 

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

 

Câu 2: Bà Nguyễn Thị Vân trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong những trường hợp nào:


Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức, Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

 

a) Viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ;

 

b) Viên chức bị buộc thôi việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 57 của Luật này ( khoản 1 Điều 57 quy định: Viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì bị buộc thôi việc, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật);

 

c) Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục, viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 06 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Khi sức khỏe của viên chức bình phục thì được xem xét để ký kết tiếp hợp đồng làm việc;

 

d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn;

 

đ) Khi đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

 

Tại khoản 3 Điều 29 quy định những trường hợp người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức:

 

a) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn, đang điều trị bệnh nghề nghiệp theo quyết định của cơ sở chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

 

b) Viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

c) Viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 16 tháng 6 năm 2014

 

Câu 1: Ông Hoàng Mạnh Hà trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định hỏi: Căn cứ nào để phân biệt xe máy điện và xe đạp điện ? Người điều khiển xe máy điện không đăng ký thì bị xử phạt thế nào, thủ tục đăng ký xe máy điện?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại điểm d, điểm e khoản 1 Điều 3 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt thì:

 

- Xe máy điện là xe gắn máy được dẫn động bằng động cơ điện có công suất lớn nhất không lớn hơn 4 kW, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h;

 

- Xe đạp máy là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được (kể cả xe đạp điện).

 

Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 39/2013/TT-BGTVT ngày 01/11/2013 Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xe đạp điện số hiệu QCVN 68: 2013/BGTVT.  Quy chuẩn này là căn cứ pháp lý - kỹ thuật quan trọng để kiểm tra, thử nghiệm và chứng nhận chất lượng các loại xe đạp điện sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu.

 

Theo quy chuẩn trên, xe đạp điện đạt tiêu chuẩn Việt Nam phải trang bị hai hệ thống phanh có cơ cấu điều khiển và dẫn động độc lập với nhau trong đó 01 hệ thống phanh tác động lên bánh trước và 01 hệ thống phanh tác động lên bánh sau; quãng đường phanh không được lớn hơn 4 m, khi vận hành bằng cơ cấu đạp chân, xe phải có khả năng đi được quãng đường 7 km trong thời gian không quá 30 phút. Xe có vận tốc thiết kế lớn nhất không vượt quá 25 km/h; xe phải có đèn chiếu sáng phía trước, tấm phản quang phía sau, thiết bị cảnh báo bằng âm thanh, thiết bị hiển thị mức năng lượng điện; khối lượng bản thân xe không được lớn hơn 40 kg và công suất động cơ điện của xe không được lớn hơn 250W.

 

Với xe máy điện, việc quản lý và kiểm soát được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng an toàn kỹ thuật đối với mô tô, xe gắn máy (Quy chuẩn 14).Theo đó, xe máy điện là phương tiện có vận tốc và động cơ lớn hơn xe đạp điện. Ngoài thiết kế lớn hơn, xe không có bàn đạp, tốc độ của xe máy điện được phép lưu thông đến 50km/h, công suất động cơ trên 250W và không lớn hơn 4 KW.

 

Theo quy định hiện nay xe máy điện phải đăng ký mới được lưu hành. Với những lỗi điều khiển xe máy điện không có còi, đèn soi, biển số hoặc điều khiển xe gắn biển số không đúng quy định sẽ bị phạt từ 80.000 - 100.000 đồng ; điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe theo quy định sẽ bị phạt 300.000-400.000 đồng và tạm giữ xe 7 ngày (quy định tại khoản 3 Điều 17 và điểm e khoản 1 Điều 75 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP)

 

Thủ tục đăng ký xe máy điện:

 

Theo quy định tại Thông tư số 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an ra ngày 4/4/2014 quy định về đăng ký xe thì Hồ sơ đăng ký xe máy điện gồm:

 

- Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu được phát tại nơi đăng ký xe)

 

- Giấy tờ của chủ xe (Chứng minh nhân dân, trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu);

 
- Giấy tờ của xe: 

+ Chứng từ nguồn gốc của xe: Phiếu Kiểm tra chất lượng xuất xưởng (đối với xe sản xuất lắp ráp trong nước) hoặc Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu (đối với xe nhập khẩu).

 

+ Hóa đơn bán xe;

 

+ Chứng từ nộp lệ phí trước bạ.

 

Về mức thu lệ phí đăng ký xe máy điện  áp dụng như mức thu của xe mô tô, xe gắn máy.

 

Hồ sơ nộp tại trụ sở Đội CSGT Công an huyện Tràng Định để làm thủ tục đăng ký, cấp biển số.

 

Đối với xe máy điện đã sử dụng trước ngày 01/7/2009 không có chứng từ nguồn gốc hoặc chứng từ chuyển nhượng không bảo đảm theo quy định, nếu chủ xe có cam kết (có xác nhận của chính quyền địa phương) thì được giải quyết đăng ký, cấp biển số xe. (khoản 12 Điều 23 Thông tu số 15/2014/TT-BCA).

 

Câu 2 : Ông Hoàng Văn Kiên trú tại xã Hồng Việt, huyện văn Lãng hỏi :

 

Đơn khởi kiện tại Tòa án để giải quyết đối với quyết định hành chính về quản lý đất đai bị Tòa án trả lại trong những trường hợp nào?

 

Trả lời : Theo quy định tại Điều 109 Luật Tố tụng hành chính thì Toà án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:

 

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

 

- Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;

 

- Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;

 

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;

 

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

 

- Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;

 

- Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính (Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn của người khởi kiện).

 

- Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật Tố tụng hành chính mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 108 của Luật Tố tụng hành chính;

 

- Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Tố tụng hành chính (Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí) mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

 

Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

 

Tại Điều 110 Luật Tố tụng hành chính quy định về việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện cụ thể như sau:

 

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.

 

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

 

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp biết;

 

- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

 

Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Toà án thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp phải giải quyết. Quyết định của Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 10 tháng 6 năm 2014

Câu 1. Anh Nguyễn Văn Quý trú tại phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi kinh doanh nhà nghỉ nếu khách lưu trú qua đêm thì thủ tục đăng ký thế nào, khách có phải đưa Chứng minh nhân dân để đi đăng ký không?

 

Trả lời:

Về câu hỏi này chúng tôi trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 31 Luật cư trú 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) về Lưu trú và thông báo lưu trú:

1. Lưu trú là việc công dân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình và không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú.

2. Đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn; trường hợp người đến lưu trú tại nhà ở của gia đình, nhà ở tập thể mà chủ gia đình, nhà ở tập thể đó không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp hoặc bằng điện thoại hoặc qua mạng Internet, mạng máy tính. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thông báo địa điểm, địa chỉ mạng Internet, địa chỉ mạng máy tính, số điện thoại nơi tiếp nhận thông báo lưu trú cho nhân dân biết.

3. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ, nếu người đến lưu trú sau 23 giờ thì thông báo lưu trú vào sáng ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần.

4. Việc thông báo lưu trú được ghi vào sổ tiếp nhận lưu trú.

Như vậy, việc lưu trú và thông báo lưu trú không yêu cầu phải có kèm theo Giấy chứng minh nhân dân.

Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì Cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Anh cũng phải giải thích cho khách lưu trú về việc cần phải có Giấy CMND và xuất trình khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền. Tại Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì trường hợp: Không xuất trình chứng minh nhân dân khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền; Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ chứng minh nhân dân khi có yêu cầu của người có thẩm quyền thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

 

Câu 2. Anh Ngô Mạnh Hà trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi bị mất Giấy đăng ký xe ô tô, thủ tục xin cấp lại Giấy đăng ký xe như thế nào?

Trả lời: TheoThông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 Quy định về đăng ký xe, tại Điều 15 quy định về thủ tục Cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bị mất, cụ thể như sau :

Hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bị mất bao gồm:

1. Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA).

2. Các giấy tờ theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 15/2014/TT-BCA.

Trường hợp của anh là người Việt Nam thì xuất trình một trong những giấy tờ sau:

a) Chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu.

b) Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng).

Trường hợp không có Giấy chứng minh Công an nhân dân, Giấy chứng minh Quân đội nhân dân thì phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác.

c) Thẻ học viên, sinh viên học theo hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện; giấy giới thiệu của nhà trường.

3. Khi cấp lại giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe thì giữ nguyên biển số. Trường hợp xe đang sử dụng biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì đổi sang biển 5 số theo quy định.

Trường hợp xe đã đăng ký, cấp biển số nhưng chủ xe đã làm thủ tục sang tên, di chuyển đi địa phương khác, nay chủ xe đề nghị đăng ký lại nguyên chủ thì giải quyết đăng ký lại và giữ nguyên biển số cũ; trường hợp biển số cũ là biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì cấp đổi sang biển 5 số theo quy định.

 

Câu 3. Ông Hoàng Tuấn Minh trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi : Công ty tôi dự định sản xuất nước uống tinh khiết đóng chai. Xin cho hỏi thủ tục xin cấp giấy chứng nhận Vệ sinh an toàn thực phẩm và cần các loại giấy phép gì ?

 

Trả lời :

Theo quy định tại Thông tư số 26/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế quy định cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế thì để được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ sở cần chuẩn bị bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận gồm:

Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận được đóng thành 01 quyển, gồm các giấy tờ sau:

1. Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (theo Mẫu 1 được ban hành kèm theo Thông tư này).

          2. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm (bản sao có xác nhận của cơ sở).

3. Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm (có xác nhận của cơ sở), bao gồm:

a) Bản vẽ sơ đồ thiết kế mặt bằng của cơ sở và khu vực xung quanh;

b) Sơ đồ quy trình sản xuất thực phẩm hoặc quy trình bảo quản, phân phối sản phẩm và bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ của cơ sở.

4. Giấy xác nhận tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm:

a) Đối với cơ sở dưới 30 người: Nộp bản sao giấy xác nhận (có xác nhận của cơ sở);

b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: Nộp danh sách đã được tập huấn (có xác nhận của cơ sở).

5. Giấy xác nhận đủ sức khoẻ chủ cơ sở và của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phiếu báo kết quả cấy phân âm tính mầm bệnh gây bệnh đường ruột (tả, lỵ trực khuẩn và thương hàn) của người trực tiếp sản xuất thực phẩm đối với những vùng có dịch bệnh tiêu chảy đang lưu hành theo công bố của Bộ Y tế:

a) Đối với cơ sở dưới 30 người: Nộp bản sao giấy xác nhận (Có xác nhận của cơ sở);

b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: Nộp danh sách kết quả khám sức khoẻ, xét nghiệm phân của chủ cơ sở và của người tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Có xác nhận của cơ sở).

Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận là Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm của tỉnh.

Ngoài ra, Công ty ông cũng cần phải tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm, Giấy chứng nhận nước đầu ra, Giấy chứng nhận nước thành phẩm. Nếu cơ sở sản xuất của Công ty ông có nguồn nước đầu vào là nước giếng khoan với quy mô vượt quá 10 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm thì Công ty ông còn phải xin giấy phép khai thác nước dưới đất do UBND tỉnh cấp (qua Sở Tài nguyên - Môi trường).

   


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 3 tháng 6 năm 2014


 

Câu 1: Ông Nguyễn Hoàng Dũng trú tại phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi bị phạt vì lái xe ô tô khi rẽ trái không xi nhan báo rẽ và bị Cảnh sát giao thông tạm giữ giấy phép lái xe, hẹn 15 ngày đến giải quyết. Xin hỏi giấy hẹn đến giải quyết tại Phòng cảnh sát giao thông có thay thế được giấy phép lái xe trong thời gian này hay không?

 

Trả lời:

 

Điều 15 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định, khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ. Do bạn không bật xi-nhan báo khi bạn rẽ trái, cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính với bạn là đúng.   Theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, hành vi điều khiển xe ô tô chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ, có thể bị phạt tiền từ 600.000 đến 800.000 đồng. Trong trường hợp này bạn không bị tước giấy phép lái xe.   Khoản 2, Điều 75 của nghị định này cũng nêu rõ: Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định tại Khoản 6, Khoản 8 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản 6 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.   Do vậy, bạn vẫn không mất quyền sử dụng giấy phép lái xe trong thời gian chờ giải quyết vi phạm. Giấy hẹn có giá trị thay thế những giấy tờ bị tạm giữ, bạn vẫn tham gia giao thông bình thường.   Tuy nhiên, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, bạn chưa đến giải quyết mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông thì sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy phép lái xe.

 

Câu 2: Ông Hoàng Đức Tiến trú tại phường Tâm Thanh, TP Lạng Sơn hỏi: Theo quy định hiện hành thì trường hợp nào được và trường hợp nào không được đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, thủ tục và mức tiền đặt bảo lãnh như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 14, Điều 15 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2014 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính thì tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ, bảo quản phương tiện đối với trường hợp phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.   Thủ tục và mức tiền đặt bảo lãnh   - Tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh cho người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện. Mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất phải bằng mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định cho hành vi vi phạm. Tiền đặt bảo lãnh được trả lại cho tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh sau khi tổ chức, cá nhân vi phạm đã chấp hành xong quyết định xử phạt.   Việc đặt tiền bảo lãnh và trả lại số tiền đó phải được lập biên bản. Biên bản được lập thành hai bản, một bản giao cho tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh.   - Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định xử phạt mà tổ chức, cá nhân không chấp hành quyết định xử phạt thì số tiền đặt bảo lãnh được chuyển thành số tiền xử phạt; trường hợp số tiền đặt bảo lãnh lớn hơn số tiền xử phạt thì phần còn lại của số tiền đặt bảo lãnh sau khi trừ số tiền xử phạt được trả lại cho tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh.

 

5 trường hợp không được đặt tiền bảo lãnh

 

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP thì các trường hợp sau đây tổ chức, cá nhân vi phạm không được đặt tiền bảo lãnh để giữ, bảo quản phương tiện giao thông bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:   - Phương tiện giao thông của vụ vi phạm là vật chứng của vụ án hình sự.   - Phương tiện giao thông đang được đăng ký giao dịch bảo đảm.   - Phương tiện giao thông được sử dụng để đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng hoặc gây tai nạn giao thông.   - Giấy đăng ký phương tiện bị làm giả, sửa chữa.   - Biển kiểm soát giả, phương tiện bị thay đổi trái phép số khung, số máy hoặc bị xóa số khung, số máy.

 

Câu 3. Chị Nguyễn Hồng Hạnh trú tại phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi kinh doanh quán cà phê và khách chủ yếu là học sinh, sinh viên. Các em đến quán thường chơi đánh bài để trả tiền cafe hoặc giải trí. Vậy tôi và những em tham gia đánh bài này có vi phạm pháp luật không?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về Tội đánh bạc và Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ: việc đánh bạc có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (như: xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế...) và người chơi có thể được, thua bằng tiền hoặc hiện vật.

 

Nếu việc được, thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội Đánh bạc hoặc Tội tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự.

 

Pháp luật không quy định mức tối thiểu của việc được, thua phải từ bao nhiêu trở lên mới bị xử phạt hành chính nên về nguyên tắc, nếu đánh bạc mà được, thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị dưới 2 triệu đồng và không thuộc một trong các trường hợp nói trên thì đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép. Theo điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, hành vi này bị xử phạt hành chính từ 1 đến 2 triệu đồng.

 

Việc cho phép khách hàng chơi bài (dù chỉ để trả tiền cà phê hoặc giải trí) tại quán cà phê cũng có thể bị coi là hành vi chứa bạc. Theo quy định tại khoản 4 Điều 26, hành vi chứa bạc có thể bị xử phạt hành chính từ 5 đến 10 triệu đồng.

 

Như vậy, với các quy định chúng tôi vừa viện dẫn thì việc chơi bài mà được, thua bằng tiền hay hiện vật (dù chỉ để trả tiền cà phê hoặc giải trí) và việc cho phép những người này chơi bài tại quán cũng đều là vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 27 tháng 5 năm 2014

 

Câu1. Chị Lê Thị Quyên trú tại phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi  là nhân viên một Công ty cổ phần, hiện nay đang điều trị bệnh, do bệnh nặng tôi được lãnh đạo Công ty cho nghỉ việc để chữa bệnh không hưởng lương. Xin cho tôi hỏi, thời gian tối đa cho người lao động được nghỉ là bao lâu? Tôi được hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội như thế nào trong thời gian nghỉ việc?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 116 Bộ luật lao động thì: Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương. Theo đó, thời gian này hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên theo điểm b khoản 1 điều 38 Bộ luật lao động thì: Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp: Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động.

 

Nếu nghỉ ốm hưởng BHXH, tại Điều 23 Luật BHXH quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH (bao gồm các đối tượng sau: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an) tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:

 

a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;

 

b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.

 

2. Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

a) Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

 

b) Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.

 

3. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH (đối tượng là: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân) tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

 

Mức hưởng chế độ ốm đau ( quy định tại Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội):

 

1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 23 và Điều 24 của Luật BHXH thì mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

2. Người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng được quy định như sau:

 

a) Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên;

 

b) Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm;

 

c) Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm.

 

3. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật BHXH thì mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

4. Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung

 

Câu 2: Chị Nguyễn Thị Kim Tuyến trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Hai vợ chông tôi có một con chung được 2 tuổi, nay hai vợ chồng tôi không thể chung sống với nhau được nữa và đang làm thủ tục ly hôn. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn hiện nay pháp luật quy định thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

 

1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

 

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

 

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

 

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

 

Quyền thăm nom con sau khi ly hôn (Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình):

 

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

 

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 20 tháng 5 năm 2014

 


Câu 1. Ông Lý Văn Sinh trú tại xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Người nhà ông hiện đang đi lao động tại nước ngoài đã hết thời hạn nhưng không về nước mà trốn ở lại, trường hợp này sẽ bị xử lý thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 22/8/2013 Chính phủ ban hành Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tại Điều 35 quy định xử phạt vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác cụ thể như sau:

 

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký hợp đồng cá nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

 

2. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

 

a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;

 

b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;

 

c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng;

 

d) Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định

.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này;

 

b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 02 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này;

 

c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 05 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm c và Điểm d Khoản 2 Điều này.

 

Tuy nhiên, trường hợp người lao động Việt Nam đã bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại cư trú trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động trước ngày 10/10/2013, nếu tự nguyện về nước trong thời gian 3 tháng (tính từ ngày 10/10/2013 đến ngày 10/1/2014) sẽ được miễn xử phạt hành chính, không bị áp dụng hình thức xử phạt hành chính nêu trên.

 

Ngày 27/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP. Theo đó, đối với người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng mà tự nguyện về nước trước ngày 10 tháng 3 năm 2014 thì không phạt tiền như quy định tại Điều 35 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP. Từ ngày 10/3/2014 trở đi, bất kỳ lao động Việt Nam nào làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại cư trú và làm việc trái phép sau khi hết hạn hợp đồng mà bị phát hiện sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP.

 

Theo Thông tư liên tịch số 32/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNG ngày 06/12/2013 của Bộ LĐTBXH và Bộ Ngoại giao Hướng dẫn trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 điều 35 của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP; tại Điều 4 quy định: trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều 35 của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Trường hợp người vi phạm không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 61 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Theo điều 5 Thông tư này trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính không thể giao trực tiếp cho người vi phạm do không xác định được nơi ở, nơi làm việc của người bị xử phạt thì quyết định xử phạt vi phạm hành chính được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị xử phạt trước khi đi làm việc ở nước ngoài, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nơi đã ra quyết định xử phạt và được gửi cho gia đình người bị xử phạt hoặc người bảo lãnh (nếu có).

 

Trường hợp người bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn quy định, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người bị xử phạt cư trú trước khi đi làm việc ở nước ngoài để ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Mạnh Thắng trú tại Thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi:

 

Tôi tham gia kháng chiến chống pháp, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Sau đó chuyển về công tác tại một cơ quan Nhà nước, hiện nay đã nghỉ hưu và được phát thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) theo diện cán bộ hưu trí. Nay tôi có được chuyển đổi sang thẻ BHYT cho người có công với cách mạng không? Nếu được thì thủ tục như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo hiểm Y tế và Điều 7 Nghị định 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm Y tế, người có công với cách mạng (tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương) sẽ được quỹ BHYT chi trả 100% chi phí khám chữa, bệnh thông thường; 100% chi phí sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, nhưng tối đa không quá 40 tháng lương tối thiểu.

 

Theo Công văn số 1598/BHXH-CSYT ngày 18/5/2010 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc chuyển đổi mã quyền lợi Bảo hiểm y tế thì thủ tục chuyển đổi mã quyền lợi BHYT như sau:

 

Hồ sơ chuyển đổi mã quyền lợi trên thẻ BHYT đối với người có công với cách mạng gồm:

 

- Thẻ BHYT hiện đang được cấp.

- Bản sao công chứng của một trong các giấy tờ sau: Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến, Huân chương chiến thắng, Huy chương chiến thắng hoặc Chứng nhận về khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến và thời gian hoạt động kháng chiến của cơ quan Thi đua - Khen thưởng cấp huyện, Giấy chứng nhận thương binh, bệnh binh.

 

Hồ sơ nộp tại cơ quan BHXH cấp huyện (hoặc tỉnh) nơi cư trú để được đổi mã quyền lợi phù hợp. Các trường hợp này không phải nộp lệ phí đổi thẻ.

 

Trường hợp của ông cần làm hồ sơ theo quy định nêu trên và nộp tại Bảo hiểm xã hội huyện Chi Lăng để được giải quyết.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 14 tháng 5 năm 2014

1. Ông Hoàng Thế Anh, trú tại xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi: Em tôi bị đánh thương tích 19% vụ án đã được tòa án huyện xét xử, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe, viện phí. Nhưng đến nay đã 6 tháng bị cáo vẫn chưa bồi thường. Vậy, em tôi phải làm gì để được thi hành án.


Trả lời 

 

Theo điểm a khoản 2 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự,  Bản án, quyết định về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với trường hợp của gia đình ông, sau khi có bản án, quyết định của tòa án thì bị đơn dân sự phải thi hành ngay bản án, quyết định đó, tức là phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho em ông.

Gia đình ông có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án (đơn yêu cầu có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện) hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án nêu rõ nội dung yêu cầu và các thông tin liên quan đến việc thi hành án (Điều 32 Luật Thi hành án dân sự). Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ  quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Người làm  đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Gia đình ông có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự (Phong toả tài khoản; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản). 

Thời hạn tự  nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (theo khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự); sau thời gian này mà đương sự không tự nguyện thi hành án thì gia đình ông yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế (theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự).

 

 2. Bạn Nguyễn Mai Lan, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp bố mẹ bỏ mặc không chăm sóc con cái và thường xuyên quậy phá, quấy nhiễu các thành viên khác trong gia đình thì cơ quan nào có thẩm quyền xử lý?

Trả lời:

Hành vi trên có dấu hiệu vi phạm các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trái đạo đức xã hội. Trước hết, anh bạn vi phạm nghĩa vụ của người cha đối với các con. Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định:

- Cha mẹ  có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

- Cha mẹ  không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái  đạo đức xã hội.

Bên cạnh đó, anh trai bạn còn vi phạm nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau:

- Con có  bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

- Con có  nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

- Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

Trước những hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức trên, các thành viên trong gia đình có thể thực hiện các biện pháp sau:

+ Gửi đơn đến tòa án để yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình (nếu các cháu của bạn (con của anh trai) là người chưa thành niên). Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền đối với con chưa thành niên được quy định tại 43 Luật Hôn nhân và gia đình.           

+ Khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình của anh trai bạn. Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình thì: Người nào hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo đó, gia đình bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành vi của anh trai bạn theo quy định của pháp luật. 

3. Bạn Nguyễn Thúy Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Bà ngoại bên nam và bà ngoại bên nữ là 2 chị em ruột. Vậy hai bên nam, nữ này kết hôn với nhau có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Hôn nhân gia và đình thì pháp luật Việt Nam cấm kết hôn “giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.”

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ  nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba theo quy định tại khoản 13 Điều 8 Luật Hôn nhân gia và đình và điểm c.3 mục 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Như vậy, trường hợp của bạn được hiểu như sau: Cha mẹ của bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ nhất. Bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ hai. Cha hoặc mẹ hai bên nam nữ là đời thứ 3. Do đó hai bên nam, nữ là đời thứ 4 nên không vi phạm vào khoản 3 Điều 10 nói trên. Do đó 2 bạn có thể kết hôn được với nhau nếu thỏa mãn những điều kiện khác tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 4 năm 2014

 

 

1. Bà Nguyễn Thị Trang, trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Doanh nghiệp nơi tôi đang làm việc vẫn tổ chức cho công nhân làm thêm giờ, nhưng tôi chưa biết quy định của Nhà nước về tiền công làm thêm giờ được quy định như thế nào, đề nghịquý Đài trả lời giúp?

 

Trả lời:

 

Trước ngày 1/5/2013, theo quy định tại Điều 61 Bộ Luật Lao động (BLLĐ) năm 1994, người lao động làm thêm giờ được trả lương như sau: Vào ngày thường, được trả lương ít nhất bằng 150% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường; Vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, được trả lương ít nhất bằng 200% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường.

 

Nếu làm thêm giờ vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ tùy theo vùng khí hậu), thì còn được trả thêm ít nhất bằng 30% của tiền lương làm việc vào ban ngày.

 

Kể từ ngày 1/5/2013, tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được quy định tại Điều 97 BLLĐ năm 2012 như sau:

 

Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

 

Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

 

Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định nêu trên, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

 

Như vậy, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm theo quy định mới, được trả cao hơn (20%) so với quy định trước đây. Số giờ làm thêm không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường.

 

2. Ông Giang Văn Toàn, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Cán bộ cấp xã công tác lâu năm có hệ số lương cao nhưng do chuẩn hoá đi học, có bằng chuyên môn mà khi chuyển sếp lương thấp hơn mức lương đang hưởng thì tính như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Liên Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện.

 

Trong đó, khoản 2 Điều 2 Thông tư này hướng dẫn việc chuyển xếp lương đối với cán bộ cấp xã có trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ hệ số lương chức vụ vào ngạch, bậc công chức hành chính được căn cứ vào từng thời điểm trong thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn) đã có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để xếp vào bậc lương trong ngạch công chức hành chính.

 

Sau khi xếp vào bậc lương trong ngạch công chức hành chính cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo của chức danh hiện đảm nhiệm, nếu thấp hơn so với hệ số lương chức vụ đã hưởng, thì được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng hệ số lương chức vụ đã hưởng.

 

Trường hợp cán bộ cấp xã có bằng tốt nghiệp chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thuộc diện xếp lương theo ngạch, bậc công chức hành chính và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, nếu tự nguyện có đơn đề nghị xếp lương chức vụ theo chức danh hiện đảm nhiệm thì được xếp lương chức vụ theo chức danh hiện đảm nhiệm và không hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo.

 

 

3. Ông Đinh Văn Mạnh trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp xe chở vật liệu xây dựng rơi vãi trên đường gây mất an toàn giao thông và người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy không đội mũ bảo hiểm có bị xử phạt không, nếu có thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 20 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì người điều khiển xe ô tô chở hàng rời, vật liệu xây dựng dễ rơi vãi mà không có mui, bạt che đậy hoặc có mui, bạt che đậy nhưng vẫn để rơi vãi; chở hàng hoặc chất thải để nước chảy xuống mặt đường gây mất an toàn giao thông và vệ sinh môi trường thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

 

Ngoài ra, người điều khiển phương tiện phải phải khắc phục vi phạm, thu dọn vật liệu, rác, chất phế thải và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; nếu gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường theo quy định tại Khoản 7 Điều 20 Nghị định nêu trên.

 

Đối với người ngồi sau xe máy điện, xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm:

 

Theo quy định tại Điểm i Khoản 3 Điều 6, Điểm d Khoản 4 Điều 8 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì:

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

Như vậy, người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy chính là người ngồi trên xe máy điện, xe đạp máy (không phải người điều khiển) và bị xử phạt theo quy định nêu trên.

i 7��u��� (� xe thô sơ khác bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

 

Như vậy, người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy chính là người ngồi trên xe máy điện, xe đạp máy (không phải người điều khiển) và bị xử phạt theo quy định nêu trên.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 4 năm 2014

 

1. Ông Hoàng Thanh Hải, trú tại Phường Vĩnh Trại, Thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong trường hợp nào thì tổ chức, cá nhân bị lập biên bản vi phạm hành chính có quyền giải trình với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để chứng minh là mình không vi phạm?

 

            Trả lời:

 

Điều 61 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định như sau:

 

1. Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trước khi ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

 

2. Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền có thể gia hạn thêm không quá 05 ngày theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm.

 

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản.

 

3. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

 

Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

 

Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

 

Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các bên phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản.

 

2. Ông Nguyễn Duy Nam, trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cảnh sát cơ động có quyền dừng xe, kiểm tra giấy tờ và xử phạt vi phạm giao thông hay không? 

 

Trả lời:

 

Theo khoản 4 Điều 68 Nghị định 171/2013 của Chính phủ về phân định thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì các lực lượng như CSTT, CS phản ứng nhanh, CSCĐ, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến TTATGT đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi quy định. Theo đó, cảnh sát cơ động có thẩm quyền xử lý những hành vi sai phạm sau:

 

- Đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy mà không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định.

 

- Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư.

 

- Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m.

 

- Quay đầu xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt.

 

- Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định.

 

- Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông; tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ.

 

- Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc kiểm soát giao thông.

 

- Điều khiển xe trong tình trạng say xỉn.

 

- Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy.

 

- Điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ.

 

- Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác.

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ. Trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

 

- Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ.

 

-        

Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông...

 

Như vậy, khi thấy có dấu hiệu nghi vấn khi thực hiện nhiệm vụ thì cảnh sát cơ động vẫn có quyền kiểm tra hành chính để xử lý hoặc đề nghị xử lý theo quy định.

 

3. Bà Nguyễn Thị Tú Anh, trú tại thị trấn Chi Ma, huyện Lộc Bình hỏi: Người có hành vi bán dâm bị xử phạt như thế nào? 

 

Trả lời:

 

Tại điều 23 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình thì đối với hành vi bán dâm sẽ bị:

 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi bán dâm.

 

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp bán dâm cho nhiều người cùng một lúc.

 

 

3. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

 

 Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 4 năm 2014


1. Bà Nguyễn Thị Bé, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 15 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc khiếu nại quyết định xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại. Cụ thể tại Điều 7 của Luật Khiếu nại quy định:

 

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. 

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc tố cáo được thực hiện bằng hình thức đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định theo nguyên tắc được quy định tại Điều 12 Luật Tố cáo.

2. Bà Tú Loan, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chủ cơ sở gas phát tờ rơi quảng cáo bán gas và bếp gas, mặt sau của tờ rơi này là bản đồ Việt Nam nhưng đã vẽ không đúng đường biên giới quốc gia. Hành vi này có vi phạm pháp luật không, nếu vi phạm thì cơ quan nào có quyền xử lý?

 

Trả lời:

Hành vi này vi phạm pháp luật. Theo quy định tại điểm d Khoản 5 Điều 51 Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo:

 

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

d) Sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam trong quảng cáo mà không thể hiện đầy đủ chủ quyền quốc gia;

Đây là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm, đối với tổ chức mức phạt tiền gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

 

Ngoài ra còn bị áp dụng điểm a Khoản 7 Điều 51 Nghị định này quy định về biện pháp khắc phục hậu quả:  “Buộc tháo gỡ, tháo dỡ hoặc xóa quảng cáo đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này”.

Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm:

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp trên bao gồm các cơ quan sau:

- Chủ tịch UBND tỉnh;

- Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

- Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

 

3. Ông Hoàng Văn Lả, trú tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình hỏi: Thế nào là phòng vệ chính đáng, nếu phòng vệ vượt quá thì bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

Điều 15 Bộ luật Hình sự 1999 có quy định về vấn đề Phòng vệ chính đáng, cụ thể như sau:

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy việc phòng vệ chính đáng nói trên phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Thứ nhất, hành vi tấn công của người có hành vi vi phạm phải là đang hiện hữu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân.

- Thứ hai, người phòng vệ có sự chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi tấn công ngay cả những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn công (sự chống trả này phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể và để đánh giá được hành vi phòng vệ là cần thiết, phù hợp là tương đối phức tạp cà cần phải dựa vào một số căn cứ sau: tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, mức độ thiệt hại bị đe dọa gây ra, sức mạnh và sức mãnh liệt của hành vi tấn công, tính chất và mức độ nguy hiểm của phương pháp và phương tiện hay công cụ mà người tấn công sử dụng...).

Nếu hành vi chống trả của người phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì đó là vượt quá phòng vệ chính đáng và người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự và các hành vi tương ứng như: giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá phòng vệ chính đáng./.

 

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 4 năm 2014

 

 

1. Bà Nguyễn Thị Minh Trang, trú tại đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có cho người khác thuê nhà để ở, thời hạn là 2 năm nhưng mới được 6 tháng,  bên thuê đã sử dụng căn nhà thuê để kinh doanh karaoke mà không có sự đồng ý của tôi, vây tôi có quyền chấm dứt hợp đồng thuê nhà này hay không?

 

            Trả lời:

 

- Theo Điều 498 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định bên cho thuê nhà có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà khi bên thuê có một trong các hành vi sau đây:

 

- Không trả tiền thuê nhà liên tiếp trong 3 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;

 

- Sử dụng nhà không đúng mục đích thuê;

 

- Cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng;

 

- Sửa chữa, đổi hoặc cho người khác thuê lại toàn bộ hoặc một phần nhà đang thuê mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê;

 

- Làm mất trật tự công cộng nhiều lần và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt bình thường của những người xung quanh;

 

- Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường.

 

Trong trường hợp trên, bà có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê. Tuy nhiên, trước khi chấm dứt hợp đồng, chị phải báo cho chị A biết trước 1 tháng (nếu không có thỏa thuận khác) theo quy định tại khoản 3 Điều 498 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

 

2. Ông Ma Văn Kết, trú tại xã Gia Miễn, huyện Văn Lãng hỏi: Người ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng xuất khẩu lao động không thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết, mà bỏ ra ngoài làm việc 2 tháng, sau đó tự giác ra trình diện Đại sứ quán Việt Nam và làm thủ tục để được trở về nước thì có bị xử phạt hay không?

 

Trả lời: 

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 95/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tại vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác được quy định như sau:

 

Phạt tiền từ 80 đến 100 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

 

a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;

 

b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;

 

c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng.

 

Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 điều này;

 

b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 2 năm

 

 đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 điều này;

 

c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 5 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 điều này.

 

Tuy nhiên, Nhà nước ta có chính sách cho phép gia hạn đối với lao động tự nguyện về nước trước ngày 11/1/2014, thì sẽ không áp dụng quy định phạt tại Điều 35. Cụ thể: Các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày 1/7/2013 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định về xử phạt tại nghị định này nếu có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.

 

Đối với người lao động Việt Nam ở nước ngoài có hành vi bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng, hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động xảy ra trước ngày nghị định này có hiệu lực mà tự nguyện về nước trong thời gian 3 tháng, kể từ ngày nghị định này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng quy định tại Điều 35 nghị định này.

 

Về trường hợp em của bạn nêu trên, nếu tự nguyện về nước trước ngày 11/1/2014 thì sẽ không áp dụng quy định xử phạt quy định tại Điều 35 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

 

3. Ông Trần Văn Hưng, trú tại xã Thạch Đạn, huyện cao Lộc hỏi: Một người đang có vợ, có chồng mà chung sống với người khác như vợ, chồng với người khác sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT- ngày 25/9/2001 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an - TAND Tối cao - Viện KSND Tối cao  thì hành vi: “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó”.

 

Người có hành vi trên có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

 

- Về xử lý hành chính:

 

Căn cứ Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 09 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Tại Điều 48 quy định: Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn như sau:

 

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

 

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

 

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

            - Về xử lý hình sự:

 

Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

 

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

 

 

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 25 tháng 3 năm 2014

 


1. Ông Trần Văn Long, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Để được cấp giấy phép xây dựng nhà ở cá nhân công dân phải đáp ứng các điều kiện nào?

 

            Trả lời:

 

Theo quy định tại Nghị định 64/2012/NĐ-CP ngày 4 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ về cấp phép xây dựng thì các loại công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng khi đáp ứng các điều kiện chung như sau:

 

1. Phù hợp với quy hoạch xây dựng, mục đích sử dụng đất, mục tiêu đầu tư.

 

2. Tùy thuộc vào quy mô, tính chất, địa điểm xây dựng, công trình được cấp giấy phép xây dựng phải: Tuân thủ các quy định về chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng; đảm bảo an toàn công trình và công trình lân cận và các yêu cầu về: Giới hạn tĩnh không, độ thông thủy, bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật, phòng cháy chữa cháy, hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước, viễn thông), hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, năng lượng, giao thông, khu di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa. Đồng thời đảm bảo khoảng cách đến các công trình dễ cháy, nổ, độc hại, các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

 

3. Hồ sơ thiết kế xây dựng phải được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định thực hiện; thiết kế phải được thẩm định, phê duyệt theo quy định. Đối với nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích sàn nhỏ hơn 250m2, dưới 3 tầng và không nằm trong khu vực bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa thì chủ đầu tư được tự tổ chức thiết kế xây dựng và tự chịu trách nhiệm về sự an toàn của công trình và các công trình lân cận.

 

Ngoài ra, công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ trong đô thị để được cấp giấy phép xây dựng còn phải đáp ứng các điều kiện riêng sau đây:

 

a) Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

 

b) Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết, thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành;

 

c) Công trình xây dựng dân dụng cấp đặc biệt, cấp I trong đô thị phải có thiết kế tầng hầm theo yêu cầu của đồ án quy hoạch đô thị và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 

2. Bà Phan Thị Hà, trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Viên chức vi phạm ở mức độ nào thì bị buộc thôi việc, thời hiệu và thời hạn xử lý là bao lâu?

 

Trả lời: 

 

Theo Điều 13, Nghị định số 27 của Chính phủ về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

 

1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng;

 

2. Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

 

3. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập;

 

4. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

 

5. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 7 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch; năm dương lịch;

 

6. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức.

 

Về Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến thời điểm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật.

 

Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của viên chức, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền xử lý kỷ luật quy định tại Điều 14 Nghị định này phải ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật. Thông báo phải nêu rõ thời điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật, thời điểm phát hiện viên chức có hành vi vi phạm pháp luật và thời hạn xử lý kỷ luật.

 

Về Thời hạn xử lý kỷ luật tối đa là 02 tháng, kể từ ngày phát hiện viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến ngày người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

 

Trường hợp vụ việc có liên quan đến nhiều người, có tang vật, phương tiện cần giám định hoặc những tình tiết phức tạp khác cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để làm rõ thêm thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền xử lý kỷ luật ra quyết định kéo dài thời hạn xử lý kỷ luật, nhưng không quá 04 tháng.

 

3. Ông Đặng Tiến Thành, trú tại khu dây thép, thị trấn Đồng Đăng, huyện  Cao Lộc hỏi: Tôi phạm tội cố ý gây thương tích và phải thi hành án tù giam 3 năm, năm 2009 tôi đã thi hành xong bản án về địa phương sinh sống, lao động được 4 năm nay. Xin hỏi tôi có thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích hay không?

 

Trả lời:

 

Điều 64 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các trường hợp đương nhiên được xóa án tích như sau:

 

1. Người được miễn hình phạt.

 

2. Người bị kết án không phải về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc về tội phạm chống phá hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:

 

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

 

b) 3 năm trong trường hợp hình phạt là tù đến 3 năm;

 

c) 5 năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 3 năm đến 15 năm;

 

d) 7 năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm.

 

Để việc xóa án tích được áp dụng thống nhất, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999. Theo hướng dẫn tại điểm b mục 11 của Nghị quyết này thì thời hạn để xoá án tích được căn cứ hình phạt chính đã tuyên, mà không căn cứ hình phạt bổ sung. Thời hạn đó bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, chứ không phải bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.

 

Như vậy đối chiếu với trường hợp của ông thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 thì đương nhiên được xóa án tích.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 18 tháng 3 năm 2014

 

1. Ông Hà Văn Chất, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Năm 2013, tôi cho một người vay tiền, hai bên có viết giấy vay tiền và thời hạn vay là 01 tháng đến nay đã quá hạn 08 tháng, người vay không trả. Vậy tôi có thể kiện người vay ra toà được không? Nếu khởi kiện ra toà thì thủ tục gồm có những gì ?

 

Trả lời:

 

Về Trách nhiệm hoàn trả số tiền vay

 

Khi viết giấy vay tiền, ông và người vay đã giao kết hợp đồng vay tiền theo quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS). Tại Điều 471 BLDS thì Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

 

Điều 474 BLDS quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

 

- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

 

- Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

 

- Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

 

- Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

 

- Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

 

Nếu người vay không có khả năng trả nợ thì ông có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự quy định tại Điều 427 Bộ luật Dân sự là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Về Thủ tục khởi kiện tại Tòa:

 

+ Quyền khởi kiện vụ kiện dân sự: Theo Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về quyền khởi kiện vụ án quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

 

+ Thủ tục khởi kiện: Nếu có căn cứ cho rằng người vay tiền của ông đã vi phạm sự thỏa thuận. Ông có quyền làm đơn khởi kiện nộp tại tòa án nơi cư trú của bị đơn (người vay tiền) để được thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Hồ sơ khởi kiện gồm:

 

- Đơn khởi kiện (theo mẫu).

 

- Bản sao CMND, hộ khẩu.

 

- Giấy tờ chứng minh việc vay tiền.

 

- Các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp… (Điều 164 BLTTDS).

 

Khi khởi kiện ông có quyền yêu cầu tòa án giải quyết buộc người vay phải trả khoản lãi suất phát sinh do chậm trả theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

 

2. Bạn Hà Thị Hồng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi đã kết hôn với người Sinhgapore và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Sinhgapore, nay tôi muốn tổ chức lễ cưới tại Việt Nam thì tôi có cần phải đăng ký kết hôn tại Việt Nam nữa không?

 

Trả lời:  

 

Tại Điều 16, Mục 3, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có quy định:

 

“Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn”.

 

Theo quy định của pháp luật nói trên, thông thường, nếu vợ chồng bạn đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Singapore và đã được pháp luật Singapore công nhận thì sẽ được công nhận tại Việt Nam. Vì vậy, nếu các bạn muốn tổ chức lễ cưới tại Việt Nam thì không cần làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Việt Nam nữa mà chỉ cần làm thủ tục công nhận việc kết hôn đã được giải quyết tại Singapore của các bạn tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam. Cụ thể: Tại Điều 17 Nghị định nói trên về Thẩm quyền, trình tự, thủ tục ghi vào sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài quy định:

 

“1. Sở Tư pháp, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài (sau đây gọi là ghi vào sổ việc kết hôn). Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Sở Tư pháp, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam, thực hiện ghi vào sổ việc kết hôn”.

 

Do vậy, bạn đến Sở Tư pháp nơi bạn đăng ký thường trú để đề nghị ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của các bạn. Cán bộ Sở Tư pháp sẽ hướng dẫn bạn làm hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn tại mục 2 Điều 17 như sau:

 

“Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau:

 

a) Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn (theo mẫu quy định);

 

b) Bản sao giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

 

c) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;

 

d) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu”

 

Sau đó, bạn chuẩn bị hồ sơ bao gồm các văn bản nói trên và vợ hoặc chồng đem hồ sơ này đến nộp trực tiếp tại Sở Tư pháp và chờ từ 05-10 ngày làm việc để được cán bộ Sở Tư pháp ghi vào sổ việc kết hôn của các bạn. Sau đó, các bạn sẽ được cấp một Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch do Giám đốc Sở tư pháp ký.

 

Trong trường hợp từ chối ghi vào sổ việc kết hôn, Sở Tư pháp sẽ trả lời bằng văn bản cho các bạn và trong đó nêu rõ lý do cho bạn.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 11 tháng 3 năm 2014  

1. Bà Mai Trúc Quỳnh, trú tại xã Đô Lương, huyện Hữu Lũng hỏi: Trường hợp 2 bên hàng xóm mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau gây thương tích, đi giám định 5%, cơ quan công an không khởi tố vụ án do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Sau đó bên bị hại yêu cầu Tổ hòa giải tiến hành hòa giải, vậy trường hợp này Hòa giải viên có được hòa giải hay không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở thì các trường hợp được hòa giải như sau:

Thứ nhất: Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác:

Thứ hai: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

Thứ ba: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;

Thứ tư: Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;

Thứ năm: Vi phạm pháp luật hình sự trong trường hợp không bị khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật; pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phmj hành chính theo quy định của pháp luật; vụ án đã được khởi tố nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật;

Thứ sáu: Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy căn cứ vào trường hợp thứ năm nêu trên thì đối với vụ việc mà bà hỏi là vụ việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) mà cơ quan công an không khởi tố vụ án vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì khi có yêu cầu, Tổ hòa giải được phép tiến hành hòa giải để bên gây thiệt hại và bên bị hại có thể ngồi với nhau để thỏa thuận mức bồi thường theo ý chí của các bên.

 

2. Bạn Nguyễn Thị Trang, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cá nhân tự mình mua và trang bị bình xịt hơi cay có vi phạm pháp luật không?

 

Trả lời:  

Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì công cụ hỗ trợ còn bao gồm các loại công cụ sau:

- Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, la-de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này;

- Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa;

- Các loại lựu đạn khói, lựu đại cay, quả nổ;

- Các loại dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khóa số tám, bàn chông, dây đinh gai, áo giáp, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn;

- Động vật nghiệp vụ.

Như vậy, bình xịt hơi cay là một trong các loại công cụ hỗ trợ. Việc trang bị và sử dụng các loại công cụ hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Điều 38 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996, chỉ những đối tượng sau đây mới được phép trang bị, sử dụng công cụ hỗ trợ: Quân đội nhân dân; dân quân tự vệ; Công an nhân dân; Đội kiểm tra chống buôn lậu của Hải quan, Hải quan cửa khẩu; Đội kiểm tra của lực lượng quản lý thị trường; Đội tuần tra kiểm soát của Kiểm lâm; Ban, Đội bảo vệ chuyên trách của một số cơ quan, tổ chức nhà nước; Ban Bảo vệ dân phố hoặc tổ chức quần chúng bảo vệ an ninh trật tự ở phường xã; Trường, Trung tâm huấn luyện tập võ thuật và thể thao của Nhà nước; An ninh Hàng không; Đội thi hành án; Tổ chức, cá nhân thi công xây dựng được sử dụng súng bắn đinh.

Ngoài ra, theo quy định tại Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008 của Chính phủ về quản lý, kinh doanh dịch vụ bảo vệ, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ (được thành lập, đăng ký kinh doanh dịch vụ bảo vệ theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp) cũng được phép trang bị công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ. Cụ thể, Điều 7 Nghị định số 52/2008/NĐ-CP quy định:

1. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ được trang bị công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ theo quy định.

2. Bộ Công an hướng dẫn cụ thể về số lượng, chủng loại công cụ hỗ trợ; thủ tục, thẩm quyền trang bị, quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ.

Tại Điều 1 Mục V Thông tư số 45/2009/TT-BCA (C11) ngày 14/7/2009 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 52/2008/NĐ-CP về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ quy định: “Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ được trang bị các loại công cụ hỗ trợ: gậy cao su, gậy sắt, roi cao su, roi điện”. Thủ tục đề nghị cấp giấy phép mua công cụ hỗ trợ, giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ; việc quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ được thực hiện theo quy định tại Mục V Thông tư này. Như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ cũng chỉ được sử dụng hạn chế một số loại công cụ hỗ trợ bao gồm: gậy cao su, gậy sắt, roi cao su, roi điện.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành bạn không thể mua, trang bị bình xịt hơi cay để phòng thân được. Hành vi này còn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

3. Ông Nguyễn Huy Hùng, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cổ đông trong công ty cổ phần có quyền triệu tập họp Đại hội cổ đông hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 77 Luật Doanh nghiệp thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:

a) Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;

b) Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu thay thế;

c) Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty.

Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng cổ đông phải được lập bằng văn bản và phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty, căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông. Kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của Hội đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền./.

 


 

Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 04 tháng 03 năm 2014

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc trú tại xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng hỏi: Những trường hợp vi phạm hành chính nào thì bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn? Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức vi phạm có được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức vi phạm không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

 Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:

- Đình chỉ một phần hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;

- Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, thời hạn đình chỉ hoạt động đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

2. Ông Trần Đại Thắng, trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Do có mâu thuẫn với các anh tôi nên trước khi chết bố tôi có để lại toàn bộ tài sản thừa kế là một ngôi nhà trị giá 300 triệu đồng cho tôi nhưng việc thừa kế này sẽ gây ra sự chia rẽ, sứt mẻ tình cảm anh em trong nhà nên tôi không muốn nhận. Vậy tôi có thể từ chối nhận di sản thừa kế của bố tôi để lại hay không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 642 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

Pháp luật chỉ có trừ trường hợp việc từ chối nhận di sản nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác thì không được từ chối nhận di sản. Do đó, nếu bạn không muốn nhận toàn bộ di sản thừa kế của bố bạn thì bạn hoàn toàn có quyền từ chối nhận di sản trên.

Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế bạn phải thực hiện các thủ tục để từ chối nhận di sản. Nếu quá thời hạn này mà bạn không có từ chối nhận di sản thì bạn đương nhiên được coi là đồng ý nhận di sản thừa kế.

Việc từ chối nhận di sản sản phải được lập thành văn bản; bạn phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế, về việc từ chối nhận di sản.

3. Bà Nguyễn Thị Hồng, trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi làm việc tại một công ty ở Bắc Ninh đã được 4 năm theo hợp đồng không xác định thời hạn, nhưng đến ngày 30/11/2012 tôi bị công ty ra quyết định chấm dứt HĐLĐ mà không rõ nguyên nhân vi phạm. Xin hỏi, công ty ra quyết định như thế là đúng hay sai? Quyền và lợi ích của tôi được đảm bảo như thế nào?

Trả lời

Theo những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo quy định của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) với người lao động trong những trường hợp được quy định tại khoản 1, điều 38 Bộ luật lao động như sau:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

b) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật này;

c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;

d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.

Như vậy, trường hợp của chị không thuộc vào những trường hợp mà người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Bên cạnh đó pháp luật quy định khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp tại Điều 38 phải tuân thủ thời hạn báo trước như sau (khoản 3, điều 38): Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm; ít nhất 03 ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.

Trong trường hợp của chị đã làm việc được 4 năm, Hợp đồng lao động ký với công ty là không xác định thời hạn thì nếu muốn chấm dứt HĐLĐ với chị thì công ty phải báo trước cho chị ít nhất là 45 ngày

 Việc Công ty chấm dứt HĐLĐ với chị mà không có bất cứ 1 lý do gì, (không rõ nguyên nhân). Như vậy, căn cứ vào điều 38 và 85 BLLĐ là không đúng quy định. Vì công ty đã ra quyết định chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật với chị nên căn cứ vào điều 41 Bộ luật lao động, quyền và lợi ích của chị sẽ được giải quyết như sau: “Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việcphải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày người lao động không được làm việc. Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật này (khoản 1, Điều 41 BLLĐ).

Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ 01 năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc bằng nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có (khoản 1, Điều 42 BLLĐ)./.

Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 25 tháng 02 năm 2014

 

 

1. Ông Hoàng Văn Thi Trú tại  khối 2, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Một người có hành vi vi phạm hành chính là buôn lậu, chống người thi hành công vụ và hủy hoại tài sản, thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan khác nhau thì cơ quan nào có thẩm quyền xử phạt?

 

Trả lời:

 

Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính  được quy định tại Điều 52 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo đó:

 

- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những người được quy định tại các điều từ Điều 38 đến Điều 51 của Luật xử lý vi phạm hành chính là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính đối với chức danh đó.

 

Trong trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành do Chính phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định áp dụng trong nội thành.

 

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý. Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

 

- Trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc sau đây:

 

+ Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

 

+ Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;

 

+ Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

 

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Hành vi môi giới mại dâm có thể bị xử lý trách nhiệm hình sự như thế nào?

 

Trả lời:

 

Môi giới mại dâm là hành vi của người làm trung gian để tổ chức, móc nối, dụ dỗ, dẫn dắt các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.

 

Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) hành vi môi giới mại dâm có thể bị xử lý hình sự như sau:

 

1. Người nào dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mại dâm thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm:

 

a) Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

 

b) Có tổ chức;

 

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

 

d) Phạm tội nhiều lần ;

 

đ) Tái phạm nguy hiểm;

 

e) Đối với nhiều người;

 

g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

 

a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

 

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng.”

 

3. Ông Nguyễn Hồng Quân, trú tại xã Hữu Lễ, huyện Lộc Bình hỏi: Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của cá nhân được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời

 

Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể của cá nhân được quy định tại Điều 32 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

 

- Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể.

- Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện có để cứu chữa.

 

- Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.

 

- Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp:

 

+ Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;

 

+ Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;

 

+ Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết.


Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 18 tháng 02 năm 2014

 


1. Bà Trần Thị Thịnh, trú tại thôn Bản Lầy, xã Xuân Lễ, huyện Lộc Bình hỏi: Người được bầu làm hòa giải viên của tổ hòa giải ở thôn, bản thì phải có điều kiện gì, thủ tục bầu và công nhận như thế nào. Khi hòa giải thì phải tuân theo các nguyên tắc gì?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở có hiệu lực từ 01/01/2014 thì Người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây: Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật.

 

Về thủ tục bầu, công nhận hòa giải viên: Người có đủ tiêu chuẩn nêu trên có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.

 

Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức sau đây: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

 

Kết quả bầu hòa giải viên: Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý. Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo đặc điểm tình hình dân số, kinh tế, xã hội của địa phương thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp. Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng. Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

 

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Về Nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở: Khi hòa giải thì Hòa giải viên phải tuân theo các nguyên tắc sau:

 

1. Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở.

 

2. Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.

 

3. Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật này.

 

4. Tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

 

5. Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

 

6. Không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự.

 

2. Bà Hà Thị Lài, trú tại thôn Mai Thành, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Con tôi là công nhân lao động có đóng BHXH bị tai tạn giao thông, cơ quan có thẩm quyền xác định con tôi có vi phạm giao thông dẫn đến tai nạn. Vậy con tôi co được Bảo hiểm xã hội thanh toán chi phí khám chữa bệnh không?

 

Trả lời: .

 

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 39/2011/TTLT-BYT-BTC 11 tháng 11 năm 2011 của Liên Bộ Y tế, Tài chính quy định về hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia bảo hiểm y tế bị tai nạn giao thông thì trường hợp:

 

Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp có vi phạm pháp luật về tai nạn giao thông được hướng dẫn như sau: Khi có đủ căn cứ xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do hành vi vi phạm pháp luật về giao thông của người bị tai nạn gây ra, cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thanh toán như sau:

 

1. Trường hợp người bị tai nạn còn đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: cơ quan Bảo hiểm xã hội thông báo trực tiếp cho cho người bị tai nạn hoặc thân nhân của người bị tai nạn (cha, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con đẻ từ 18 tuổi trở lên) biết về việc người bị tai nạn đã vi phạm pháp luật về giao thông và không được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

 

2. Trường hợp người bị tai nạn đã ra viện: cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thu hồi chi phí khám bệnh, chữa bệnh mà quỹ Bảo hiểm y tế đã thanh toán theo quy định tại Điều 5 Thông tư này.

 

3. Trường hợp người bị tai nạn tử vong: cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thanh quyết toán các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnh với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế (không thu hồi chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã thanh toán đối với trường hợp này).

 

3. Ông Nguyễn Văn Thức, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc đưa tin của cơ quan báo chí, nhà báo về phòng, chống tham nhũng được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 12 Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng thì việc đưa tin của cơ quan báo chí, nhà báo về phòng, chống tham nhũng được quy định như sau:

 

1. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền đưa tin phản ánh về vụ việc tham nhũng và hoạt động phòng, chống tham nhũng. Khi đưa tin về vụ việc tham nhũng, người có hành vi tham nhũng, cơ quan báo chí, nhà báo phải đưa tin trung thực, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đưa tin đó.

 

Cơ quan báo chí phát hiện hoặc nhận dược tố cáo của công dân về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì phải báo ngay cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân bằng văn bản. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thụ lý và trả lời cho báo chí cách giải quyết. Cơ quan báo chí có quyền đưa tin về vụ việc có dấu hiệu tham những từ các thông tin, tài liệu mà mình có được và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin được đăng tải trên báo chí.
 

Trường hợp có căn cứ cho rằng kiến nghị, phản ánh, tin, bài, tố cáo của công dân về vụ việc tham nhũng không có cơ sở thì cơ quan báo chí thông báo cho công dân về việc không đưa tin và nêu rõ lý do.
 

2. Tổng biên tập, nhà báo chịu trách nhiệm về việc đưa tin và chấp hành pháp luật về báo chí, đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động báo chí.
 

 3. Cơ quan báo chí, nhà báo không được đưa tin về những vụ việc không có căn cứ rõ ràng; đưa tin sai sự thật; phương hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích của tổ chức, cá nhân, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của công dân; không được tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và các thông tin khác theo quy định của pháp luật.
 

4. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền và nghĩã vụ từ chối tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo, người cung cấp thông tin về vụ việc tham những, về người có hành vi tham nhũng nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên để phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử.
 

5. Khi đưa tin trên báo chí về vụ việc có dấu hiệu tham những, cơ quan báo chí, nhà báo đưa tin sai sự thật phải cải chính, xin lỗi theo quy định của pháp luật về báo chí. Nếu lợi dụng quyền thông tin báo chí để xuyên tạc, vu khống thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

 

Trả lời bạn nghe Đài thứ ba, ngày 11 tháng 02 năm 2014

 

1. Ông Hòang Đình Dũng, trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi: Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các tình tiết nào là tình tiết tăng nặng, tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ?

 

Trả lời:

 

Theo quy định Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các tình tiết giảm nhẹ như sau:
 

1. Người vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;
 

2. Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính;

3. Vi phạm hành chính trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
 

4. Vi phạm hành chính do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;

5. Người vi phạm hành chính là người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

6. Vi phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;

7. Vi phạm hành chính do trình độ lạc hậu;
 

8. Những tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ quy định.
 

Bên cạnh đó tại Khoản 5 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, phụ nữ mang thai, người già yếu vi phạm pháp luật hành chính được coi là tình tiết giảm nhẹ.
 

*Về tình tiết tăng nặng: Khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các tình tiết sau là tình tiết tăng nặng:
 

a) Vi phạm hành chính có tổ chức;
 

b) Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm;
 

c) Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện hành vi vi phạm hành chính;
 

d) Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm hành chính;
 

đ) Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; vi phạm hành chính có tính chất côn đồ;
 

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hành chính;
 

g) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm hành chính;
 

h) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính;
 

i) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
 

k) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính;
 

l) Vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;
 

m) Vi phạm hành chính đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai.
 

Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 10 cũng quy định: Tình tiết quy định trên đã được quy định là hành vi vi phạm hành chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

 

2. Bà Hoàng Thị Phước, trú tại xã Yên Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: Em gái tôi đã lấy chồng, về bên chồng được một thời gian, cuộc sống không hạnh phúc, nay muốn xác nhận tình trạng hôn nhân để lấy chồng mới. Tôi đến ủy ban xã xác nhận thì cán bộ cho rằng tôi không làm thay được, yêu cầu em tôi đến để làm thủ tục và phải làm cam đoan về việc chưa đăng ký kết hôn với ai và chịu trách nhiệm với lời cam đoan đó. Cho tôi hỏi cán bộ hướng dẫn như vậy có đúng không?

 

Trả lời:

 

Thứ nhất: Đối với vấn đề thay em bạn làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho em bạn.
 

Theo quy định của Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về Hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực tại Điều 1 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch thì: “Người có yêu cầu đăng ký hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con) hoặc yêu cầu cấp các giấy tờ về hộ tịch mà không có điều kiện trực tiếp đến cơ quan đăng ký hộ tịch, thì có thể ủy quyền cho người khác làm thay. Việc ủy quyền phải bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực hợp lệ.

Nếu người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền, thì không cần phải có văn bản ủy quyền, nhưng phải có giấy tờ chứng minh về mối quan hệ nêu trên.”

Như vậy bạn là anh/chị ruột của em bạn thì hoàn toàn có thể được em bạn ủy quyền làm thay thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho em bạn tại Ủy ban nhân dân xã mà không cần giấy tờ ủy quyền, tuy nhiên, bạn cần có giấy tờ chứng minh cho cán bộ tư pháp - hộ tịch của xã là mình là chị ruột của em bạn, ví dụ: sổ hộ khẩu của gia đình hoặc giấy tờ chứng minh khác.

 

Thứ hai: Đối với việc yêu cầu em bạn làm cam đoan về việc chưa đăng ký kết hôn với ai và phải chịu trách nhiệm về lời cam đoan đó.
 

Trong quá trình làm thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì theo quy định của mục 20 Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về Hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực thì:“Người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ, có chồng, nhưng đã ly hôn … thì phải xuất trình trích lục Bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn …”

Do đó, trong trường hợp của em bạn, nếu đã kết hôn và ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì em bạn phải xuất trình trích lục Bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc đã ly hôn; nếu em bạn không có giấy tờ chứng minh nói trên và Ủy ban nhân dân xã cũng không rõ về tình trạng hôn nhân của em bạn thì em bạn phải viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình và phải chịu trách nhiệm về việc cam đoan này.
 

Như vậy, về cơ bản cán bộ Tư pháp – hộ tịch hướng dẫn em bạn phải hoàn tất hồ sơ xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho mình và đến nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân xã kèm theo bản cam đoan và chịu trách nhiệm về cam đoan của mình là hoàn toàn có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp không đến nộp hồ sơ trực tiếp được thì bạn có thể nộp thay và phải xuất trình giấy tờ hợp lệ theo hướng dẫn nêu trên.


Trả lời bạn nghe Đài
thứ ba, ngày 04 tháng 02 năm 2014

1. Bạn Hoàng Trọng Nghĩa, trú tại khu ga Bắc, thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Trường hợp trong hộ gia đình có thành viên bị câm, không biết gì, không có chứng minh thư, không có khả năng thực hiện việc ký, điểm chỉ khi công chứng việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cùng các thành viên trong hộ thì phải làm thế nào?

 

 

Trả lời:

 

Trong trường hợp của bạn, phải xác định được thành viên đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hay đã mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

 

 

1. Trường hợp thứ nhất: người đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

 

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

 

Căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp thì trường hợp của bạn có thể được giải quyết như sau:

 

* Việc người đó không có chứng minh nhân dân: Khi yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng/sở hữu tài sản thì người yêu cầu công chứng phải nộp giấy tờ tùy thân (theo Điều 35 Luật Công chứng). Giấy tờ tùy thân là Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu. Như vậy, thành viên trong hộ gia đình của bạn phải xin cấp chứng minh nhân dân hoặc có thể dùng hộ chiếu để thay thế.

 

* Việc người đó bị câm, không ký, điểm chỉ được:

 

Theo Điều 9 Luật Công chứng: Trong trường hợp pháp luật quy định việc công chứng phải có người làm chứng hoặc trong trường hợp pháp luật không quy định việc công chứng phải có người làm chứng nhưng người yêu cầu công chứng không đọc được hoặc không nghe được hoặc không ký và không điểm chỉ được thì phải có người làm chứng.

 

Như vậy, gia đình bạn có thể mời người làm chứng trong việc lập và ký hợp đồng công chứng. Người làm chứng phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

- Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

- Không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ về tài sản liên quan đến việc công chứng.

 

 

2. Trường hợp thứ hai: người đó mất năng lực hành vi dân sự

 

Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định (Điều 22 Bộ luật Dân sự).

 

Trường hợp của bạn nêu, nếu người đó không có khả năng nhận thức thì gia đình có thể yêu cầu Tòa tuyên người đó mất năng lực hành vi dân sự; và cử người giám hộ.  (theo Điều 319 Bộ luật Tố tụng dân sự)

 

* Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.

 

* Đơn yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có đủ các nội dung: Ngày, tháng, năm viết đơn; Tên Toà án có thẩm quyền giải quyết đơn; Tên, địa chỉ của người yêu cầu; Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó; Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có; Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu; Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

 

* Kèm theo đơn yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự phải có kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

 

Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong quyết định tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Toà án phải quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

 

Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên thành viên trong hộ gia đình của bạn mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện của người đó (do Tòa chỉ định) sẽ cùng các thành viên khác của hộ gia đình thực hiện các thủ tục để chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

2. Bà Hoàng Thị Hà, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi có con với một người nhưng chưa đăng ký kết hôn. Xin hỏi, cha của đứa bé muốn tặng nhà, đất cho tôi thì phải làm những thủ tục gì, có được miễn thuế thu nhập cá nhân không?

 

Trả lời:

 

Căn cứ theo Luật Đất đai và Luật Công chứng thì thủ tục tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm các bước sau:

 

* Công chứng Hợp đồng tặng cho/chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Người cho và người nhận phải đến Phòng Công chứng số 1 hoặc Văn phòng công chứng để thực hiện. Hồ sơ yêu cầu công chứng bao gồm: Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu; Dự thảo hợp đồng (nếu có); Bản sao giấy tờ tuỳ thân; Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng mà pháp luật quy định phải có.

 

Sau khi nộp phí công chứng và thù lao công chứng tại tổ chức công chứng nơi bà yêu cầu công chứng thì bà sẽ được nhận hợp đồng tặng cho/chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng nhận của tổ chức công chứng để tiến hành thủ tục đăng ký sang tên bạn theo quy định của pháp luật.

 

* Đăng ký sang tên bạn trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

Sau khi công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, bà có thể mang hợp đồng đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi có đất. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì có thể nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

 

- Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy tờ khác, như chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai bên…

 

- Thủ tục: Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp các bên chuyển nhượng/bên nhận tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính đó được xác định theo số liệu địa chính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho các bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ tài chính. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính (nếu có), các bên tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ.

 

 

Lưu ý:

 

Khoản 2 Điều 23 Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định: thuế suất đối với thu nhập từ việc tặng cho bất động sản là 10% giá trị tài sản; đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản là 2%. Hơn nữa, bà và người cha của con bà chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn nên về mặt pháp lý, hai người không phải là vợ chồng nên không thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 28 tháng 01 năm 2014


1. Ông Hà Trí Bảo, trú tại xã Hoàng Đồng, tp Lạng Sơn hỏi: Tôi là tài xế lái xe taxi. Trong 1 lần chở khách xe của tôi bị một xe khác đi ngược chiều đâm vào, hậu quả là hành khách trên xe của tôi bị thương và xe tôi bị hư hỏng (xe của tôi đi đúng làn đường và đúng tốc độ). Sau khi gây ra tai nạn chiếc xe kia đã bỏ chạy. Vậy tôi muốn hỏi tài xế của chiếc xe gây tai nạn rồi bỏ chạy kia sẽ bị xử lí như thế nào?

 

 

Trả lời

 

Hành vi đi ngược chiều đâm vào xe taxi làm hành khách bị thương và xe taxi bị hư hỏng và sau khi gây ra tai nạn bỏ trốn thì tùy vào mức độ thiệt hại cho sức khỏe của hành khách ngồi trên xe taxi và xe taxi của bạn mà người lái xe kia có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự hoặc chỉ phải chịu xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 về Xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và Nghị định 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 về Xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Cụ thể:

 

- Nếu thiệt hại đối với hành khách ngồi trên xe taxi và xe taxi được cơ quan có thẩm quyền xác định là gây thiệt hại nghiêm trọng và với tình tiết sau khi gây tai nạn rồi bỏ trốn thì người lái xe này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định theo điểm c khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 và sẽ phải chịu áp dụng hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội, cụ thể:

 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

 

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

 

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

 

 

 

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

 

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

 

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

- Ngược lại, nếu thiệt hại đối với hành khách ngồi trên xe taxi và xe taxi được cơ quan có thẩm quyền xác định là gây thiệt hại chưa hoặc ít nghiêm trọng thì tùy thuộc vào hành vi vi phạm cụ thể về an toàn giao thông đường bộ mà người lái xe này chỉ phải chịu xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định 34/2010/NĐ-CP: “Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm đối hành vi: Đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi ngược chiều của đường một chiều; trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định”.

 

Bên cạnh đó, cho dù ở vi phạm ở mức độ nào thì người lái xe trên cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 cho hành khách trên xe taxi và và cho chủ xe taxi bị hỏng.

 

 

 

 

2. Bà Hà Kiều Anh, trú tại phường Chi Lăng, tp Lạng Sơn hỏi: Trong khối tôi vừa qua có xảy ra vụ trộm cắp tài sản trị giá gần 50 triệu đồng. Cơ quan công an đã xác định kẻ lấy cắp và xử lý theo pháp luật. Tuy nhiên kẻ tiêu thụ tài sản lại không bị xử lý. Tôi muốn hỏi kẻ tiêu thụ tài sản đó có vi phạm pháp luật hay không?

 

 

Trả lời:

 

Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 5  triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6  tháng đến 3  năm”.

 

Theo đó, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Trong đó, tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là tài sản đang được một người chiếm hữu không hợp pháp và tài sản đó là đối tượng của tội phạm mà họ thực hiện trước đó như tội phạm thuộc nhóm tội chiếm đoạt tài sản (trong tình huống này là tội trộm cắp tài theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc tội phạm khác. Hành vi tiêu thụ tài sản được hiểu là những hành vi có tính chất dịch chuyển tài sản từ người có tài sản do phạm tội sang người khác như hành vi mua, tạo điều kiện để bán hoặc để trao đổi tài sản đó. Bên cạnh đó, hành vi phạm tội tiêu thụ tài sản có đặc điểm trên chỉ cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có khi không có sự hứa hẹn trước. Nếu có sự hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ, thu mua tài sản trộm cắp thì hành vi của người tiêu thụ là hành vi của một đồng phạm với tội trộm cắp tài sản với vai trò là người giúp sức người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

 

Như vậy, việc bạn hỏi nếu kẻ thu mua tài sản do trộm cắp biết rõ tài sản có được là do trộm cắp, đã có sự chào giá, hứa hẹn trước sẽ thu mua tài sản do người trộm cắp có được sau khi thực hiện hành vi trộm cắp là chính xác thì hành vi của người thu mua tài sản này có thể là hành vi đồng phạm với vai trò là người giúp sức trong vụ án trộm cắp tài sản trên với người trộm cắp theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Và ngược lại kẻ thu mua tài sản do trộm cắp mà có này có sự chào giá, thu mua tài sản do trộm cắp mà có nhưng không có sự hứa hẹn trước thì hành vi của người này phạm Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định của Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999. Còn đối với trường hợp mặc dù người mua có chào giá trước nhưng không hề biết tài sản mình mua là do trộm cắp mà có, trường hợp này chỉ là một giao dịch dân sự đơn thuần, hành vi của người mua không phải là hành vi vi phạm pháp luật. Khi phát hiện tài sản thực hiện trong giao dịch là tài sản do trộm cắp thì giao dịch dân sự đó sẽ vô hiệu, và các bên phải trả lại nhau những gì đã trao.

 

Bên cạnh đó, nếu bạn có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của người tiêu thụ tài sản nói trên, bạn nên trình báo cơ quan công an để làm rõ, giải quyết và trừng trị người phạm tội.

 

3. Ông Phan Văn Đức, trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Nếu một công nhân làm việc với hợp đồng không thời hạn, do hoàn cảnh gia đình nên nghỉ làm không báo trước được chỉ kip đưa đơn trước 2 ngày sau đó người này nghỉ việc, thì người này có bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng  trái luật không và có được hưởng chế độ nghỉ việc không?

 

 

Trả lời

 

Để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người lao động chỉ phải tuân thủ các quy định về thời hạn báo trước theo quy định tại Khoản 3 Điều 37 của Bộ luật Lao động năm 2012 như sau: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

 

Nếu người lao động tuân thủ đúng thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 thì được coi là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp. Nếu tuân thủ không đúng thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 thì được coi là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

 

Ngoài ra, Điều 43 có quy định về nghĩa vụ của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

 

 

 

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

 

 

 

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

 

 

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

 

Theo như bạn trình bày, người lao động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn và người lao động mới chỉ báo trước được 02 ngày sau đó nghỉ việc do gia đình có việc. Căn cứ vào quy định về thời hạn báo trước, trong trường hợp này, người lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật do vi phạm về thời hạn báo trước nên không được hưởng trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động khỏan tiền lương của những ngày người lao động đã nghỉ không báo trước.

 

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý riêng đối với trường hợp lao động nữ mang thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không phải tuân thủ thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 nói trên. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai quy định tại Điều 156 như sau: “Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.”/.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 21 tháng 01 năm 2014

 

1. Bạn Trần Anh Tuấn, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi muốn làm lại giấy kết hôn và đã đến UBND phường nơi đăng ký xin cấp lại nhưng tên của tôi trong giấy kết hôn và chứng minh nhân dân không khớp. Hiện giờ tôi không còn giữ giấy khai sinh nên không có căn cứ để sửa đổi tên gọi cho phù hợp. Vậy tôi phải làm thế nào để xác thực tên của mình?

 

Trả lời

 

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch đã nêu rõ: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó. Do đó, khi tên của bạn trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và chứng minh nhân dân là khác nhau thì cần phải xác định tên chính xác theo Giấy khai sinh của bạn. Nếu bạn đã làm mất Giấy khai sinh thì tùy từng trường hợp, bạn có thể xin cấp lại bản chính Giấy khai sinh hoặc làm thủ tục đăng ký lại việc sinh theo hướng dẫn tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

 

* Trường hợp xin cấp lại bản chính giấy khai sinh:

 

Khoản 1 Điều 62 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP nêu: Trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh bị mất, hư hỏng hoặc phải ghi chú quá nhiều nội dung do được thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch hoặc điều chỉnh hộ tịch mà Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ được, thì được cấp lại bản chính Giấy khai sinh.

 

Theo đó, bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh để xin cấp lại bản chính Giấy khai sinh; nếu tại đây còn lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh thì cán bộ đăng ký sẽ làm thủ tục cấp bản chính Giấy khai sinh cho bạn theo thủ tục hướng dẫn tại Điều 63 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

 

* Trường hợp đăng ký lại việc sinh:

 

Nếu cả bản chính giấy khai sinh và sổ hộ tịch đều đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được thì bạn được đăng ký lại việc sinh (theo Điều 46 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP). Bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi bạn cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh trước đây để thực hiện việc đăng ký lại. Thủ tục đăng ký lại thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 48 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, cụ thể như sau:

 

- Bạn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định).

 

Trong trường hợp đăng ký lại tại Ủy ban nhân dân cấp xã, không phải nơi bạn đã đăng ký hộ tịch trước đây, thì Tờ khai phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký hộ tịch về việc đã đăng ký; trừ trường hợp đương sự xuất trình được bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây.

 

- Khi nhận hồ sơ hợp lệ, cán bộ tư pháp hộ tịch sẽ làm thủ tục cấp bản chính giấy khai sinh “Đăng ký lại” cho bạn.

 

Về việc xác định tên của bạn khi không còn bản chính và bản sao giấy khai sinh đã cấp trước đây: Nếu hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.

 

2. Bạn Vũ Thanh Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất năm 2012 khi chưa đăng ký kết hôn. Năm 2013 tôi đăng ký kết hôn, sau đó tôi và chồng đã tiến hành công chứng văn bản sáp nhập tài sản riêng của tôi vào sản chung với với chồng. Vậy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của tôi được cấp năm 2012 có bị thu hồi lại không?

 

 

Trả lời:

 

Sau khi bạn và chồng thực hiện công chứng Văn bản thỏa thuận để nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung (theo khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình) thì 2 vợ chồng phải tiến hành thủ tục theo quy định của Luật Đất đai, Luật Nhà ở và văn bản hướng dẫn để đăng ký quyền sử dụng/sở hữu tại Văn phòng đăng ký đất và nhà thuộc Phòng tài nguyên và môi trường huyện, thành phố nơi có bất động sản. Khi làm thủ tục đăng ký sang tên quyền tài sản thì bạn và chồng phải nộp bộ hồ sơ gồm: Đơn đăng ký; Giấy chứng nhận mà cơ quan thẩm quyền đã cấp cho bạn; Văn bản thỏa thuận tài sản; giấy tờ nhân thân của hai vợ chồng…. Việc đăng ký quyền tài sản có thể thực hiện theo hai hình thức:

 

- Thứ nhất: Cơ quan có thẩm quyền sẽ đăng ký biến động tại trang 3 hoặc trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đã cấp cho bạn, nội dung: Tài sản thuộc quyền sử dụng/sở hữu của chồng bạn và bạn theo Văn bản thỏa thuận tài sản số công chứng bao nhiêu do tổ chức công chứng nào lập. Theo hình thức này thì Giấy chứng nhận đã cấp cho bạn sẽ không phải thu hồi lại nhưng đã được đăng ký biến động nên căn cứ vào giấy chứng nhận đó sẽ xác định được quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở là tài sản chung của 2 vợ chồng bạn.

 

- Thứ hai: Cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp cho 2 vợ chồng bạn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mới căn cứ vào văn bản thỏa thuận tài sản sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung vợ chồng của bạn. Giấy chứng nhận cũ sẽ bị thu hồi. Khi vợ chồng bạn hoàn thành nghĩa vụ tài chính thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp cho vợ chồng bạn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mới (mang tên hai vợ chồng bạn).

 

3. Ông Phan Văn Thuật, trú tại xã Bằng Khánh, huyện Lộc Bình hỏi: Người 17 tuổi phạm tội trộm cắp nhưng không gây thiệt hại lớn thì bị tạm giam bao lâu, nếu hết thời hạn có được gia hạn tạm giam thêm không và có thông báo cho gia đình biết không?

 

Trả lời:

 

Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về việc Bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội cụ thể như sau:

 

1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

 

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

 

3. Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam.

 

Như vậy, theo quy định trên thì cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, đối với việc gia hạn thêm thời hạn tạm giam thì việc thông báo đến gia đình, người đại điện hợp pháp của bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc cả đối với người đã thành niên, chưa được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định cụ thể. Nhưng về mặt nguyên tắc mọi quyết định liên quan đến người chưa thành niện phạm tội đều phải được thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ, tạo điều kiện cho những người này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên. Gia đình bạn có thể yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp các thông tin cần thiết về việc tạm giam, cũng như ra quyết định ra hạn tạm giam theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 14 tháng 01 năm 2014

 

1. Ông Hoàng Thế Anh, trú tại xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi: Em tôi bị đánh thương tích 19% vụ án đã được tòa án huyện xét xử, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe, viện phí. Nhưng đến nay đã 6 tháng bị cáo vẫn chưa bồi thường. Vậy, em tôi phải làm gì để được thi hành án.

 

Trả lời 

 

Theo điểm a khoản 2 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự,  Bản án, quyết định về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với trường hợp của gia đình ông, sau khi có bản án, quyết định của tòa án thì bị đơn dân sự phải thi hành ngay bản án, quyết định đó, tức là phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho em ông.

 

Gia đình ông có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án (đơn yêu cầu có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện) hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án nêu rõ nội dung yêu cầu và các thông tin liên quan đến việc thi hành án (Điều 32 Luật Thi hành án dân sự). Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

 

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

 

b) Tên cơ  quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

 

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

 

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

 

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

 

Người làm  đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Gia đình ông có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự (Phong toả tài khoản; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản). 

 

Thời hạn tự  nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (theo khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự); sau thời gian này mà đương sự không tự nguyện thi hành án thì gia đình ông yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế (theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự).

 

 2. Bạn Nguyễn Mai Lan, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp bố mẹ bỏ mặc không chăm sóc con cái và thường xuyên quậy phá, quấy nhiễu các thành viên khác trong gia đình thì cơ quan nào có thẩm quyền xử lý?

 

Trả lời:

 

Hành vi trên có dấu hiệu vi phạm các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trái đạo đức xã hội. Trước hết, anh bạn vi phạm nghĩa vụ của người cha đối với các con. Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định:

 

- Cha mẹ  có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

 

-        

Cha mẹ  không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái  đạo đức xã hội.

-        

 

Bên cạnh đó, anh trai bạn còn vi phạm nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau:

 

- Con có  bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

 

- Con có  nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

 

-        

Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

-        

 

Trước những hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức trên, các thành viên trong gia đình có thể thực hiện các biện pháp sau:

 

+ Gửi đơn đến tòa án để yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình (nếu các cháu của bạn (con của anh trai) là người chưa thành niên). Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền đối với con chưa thành niên được quy định tại 43 Luật Hôn nhân và gia đình.           

 

+ Khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình của anh trai bạn. Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình thì: Người nào hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo đó, gia đình bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành vi của anh trai bạn theo quy định của pháp luật. 

 

3. Bạn Nguyễn Thúy Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Bà ngoại bên nam và bà ngoại bên nữ là 2 chị em ruột. Vậy hai bên nam, nữ này kết hôn với nhau có vi phạm pháp luật không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Hôn nhân gia và đình thì pháp luật Việt Nam cấm kết hôn “giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.”

 

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ  nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba theo quy định tại khoản 13 Điều 8 Luật Hôn nhân gia và đình và điểm c.3 mục 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

 

Như vậy, trường hợp của bạn được hiểu như sau: Cha mẹ của bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ nhất. Bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ hai. Cha hoặc mẹ hai bên nam nữ là đời thứ 3. Do đó hai bên nam, nữ là đời thứ 4 nên không vi phạm vào khoản 3 Điều 10 nói trên. Do đó 2 bạn có thể kết hôn được với nhau nếu thỏa mãn những điều kiện khác tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000./.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 07 tháng 01 năm 2014
      

1. Ông Hoàng Văn Thức trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi trốn thuế ở mức bao nhiêu tiền thì bị khởi tố hình sự về Tội trốn thuế?

 

Trả lời:

 

Tội trốn thuế là hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng, tội trốn thuế đã được sửa đổi về số tiền trốn thuế trong Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 so với bộ luật hình sự 1999, với hình phạt nghiêm khắc nhất là 07 năm tù và phạt tiền gấp 03 lần số tiền trốn thuế.

 

Điều 161 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về Tội trốn thuế như sau:

 

1. Người nào trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 01 lần đến 05 lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

 

2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ 01 lần đến 05 lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ 6  tháng đến 03 năm.

 

3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ 600 triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07  năm.

 

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 01 lần đến 03 lần số tiền trốn thuế.” 

 

2. Bà Nguyễn Hải Anh. Trú tại khu Dây Thép, thị trấn Đồng Đăng hỏi: Tôi muốn gửi đơn ra tòa đề nghị giải quyết thuận tình ly hôn nhưng chồng tôi ở nước ngoài không về được nước được, vậy chồng tôi đề nghị tòa giải quyết vắng mặt có được không?

 

Theo quy định tại Điều 85 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” và “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn”. Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;

 

b) Đời sống chung không thể kéo dài;

 

c) Mục đích của hôn nhân không đạt.

 

Về thủ tục giải quýêt ly hôn tại toà án Việt Nam, theo quy định thủ tục này được tiến hành dựa trên yêu cầu của đương sự là thuận tình ly hôn hay đơn phương xin ly hôn. Vì vậy có 2 trường hợp:

 

1. Nếu vợ chồng thuận tình ly hôn, thì điều kiện tiến hành xin công nhận thuận tình ly hôn tại Việt Nam bao gồm: Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con (cần lưu ý sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con).

 

Trường hợp các bên chỉ tranh chấp một trong các vấn đề về tài sản, nuôi con, tình cảm.. Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp theo thủ tục chung.   

 

Theo đó, thủ tục thuận tình ly hôn được tiến hành theo các bước sau:

 

Hiện có 21 khách đang truy cập website